Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for the ‘Tác giả hải ngoại’ Category

Vết Nám Hồi ký Tù Cải Tạo

Posted by Lê Đạt Đức on May 5, 2016

hoànglonghải(tuệchương)

&

 Bài 33     Người về…


Mẹ có hay chăng con về,

Chiều nay thời gian đứng im để nghe…”

Người Về/ Phạm Duy

&

            Võ Phước Thọ được tha ra khỏi trại cải tạo, chưa được một năm thì qua đời! Anh em bạn tù cũ nghĩ rằng, khi còn trong tù, Thọ tham gia “Hội Nhân Quyền Việt Nam” của luật sư Trần Danh San, vô ra “cát xô” nhiều lần, “như cơm bữa”. Mỗi lần bị nhốt như thế, Thọ đều bị Công An “đánh hội đồng”, khiến Thọ bị “bệnh hậu”, gan ruột bị hư. Cái chết của Thọ là do những trận đòn tàn ác của Việt Cộng.

Trước 1975, Võ Phước Thọ, thiếu úy Cảnh Sát Quốc Gia, ngành Đặc Biệt, phục vụ ở Kontum. Theo lệnh Tổng Thống, anh theo đơn vị di tản về Pleiku, và thoát chết mấy lần trên Quốc Lộ 7.

Tôi không rõ vợ con Thọ như thế nào, ngoài một lần, Thọ rút ví cho tôi xem một bức hình một cô gái còn trẻ lắm, khá đẹp, nói: “Vợ em!” Thọ không nó gì thêm, nên tôi không rõ, vợ Thọ hiện ở hải ngoại, hay qua đời; còn như ở Saigon thì không, vì Thọ không được ai thăm nuôi, kể từ khi Thọ vào tù. Thọ kém tôi khoảng mười tuổi.  Read the rest of this entry »

Posted in Hoàng Long Hải, Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn | Tagged: | Leave a Comment »

Lễ Hai Bà Trưng và truyền thống anh hùng chống ngoại xâm của phụ nữ Việt Nam

Posted by Webmaster on March 12, 2016

Hai Bà Trưng minh họa
Phạm Hy Sơn – Dân Làm Báo
《》
Lich sử của bất cứ dân tộc nào cũng có lúc nhục, lúc vinh. Tại châu Âu, Anh, Pháp, Đức, Ý… từng bị Hy Lạp rồi La Mã đô hộ cả ngàn năm. Tây Ban Nha bị một nước nhỏ ở Bắc Phi là Ma Rốc cai trị gần 1000 năm.
Trung Hoa, một nước từ trước tới nay thường tự đề cao là thiên triều, xưa kia đã từng có thời kỳ phải triều cống dưới hình thức thuế cho các dân tộc ở bên kia Vạn Lý Trường Thành hàng năm để được sống yên ổn. Nhưng cũng không được yên ổn mãi mãi mà bị hết người Mông Cổ đến người Mãn Châu cai trị rồi người phương Tây Anh, Pháp, Nga, Đức, Bồ… xâu xé làm bao nhiêu mảnh, chưa kể người Nhật sát nhập quần đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ thành lãnh thổ Nhật cho tới năm 1945, khi Nhật đầu hàng người Mỹ bởi 2 trái bom nguyên tử mới lại trở về dưới sự cai trị của người Trung Hoa.
Dân tộc Việt Nam chúng ta cũng không thoát khỏi tình trạng ấy khi bị người Tàu đô hộ cả ngàn năm, từ năm 111 trước TL đến năm 939 sau TL. Lịch sử còn ghi lại trong thời kỳ đen tối kéo dài đó, dân tộc chúng ta đã quật cường chống lại những mưu toan thâm độc diệt chủng và đồng hóa của người Tàu.
Tổ tiên chúng ta vẫn bảo tồn được nòi giống và lấy lại được nền độc lập từ năm 939 với chiến thắng trên sông Bạch Đằng do tài cầm quân của vua Ngô Quyền.
Trước đó mấy trăm năm, dân tộc chúng ta giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng. Thời kỳ độc lập đầu tiên ấy ngắn ngủi trong 3 năm (từ năm 40 đến năm 43 sau TL) nhưng đã tạo lòng tự tin và bồi đắp thêm tinh thần quật cường của dân tộc để đem lại chiến thắng quyết định sau cùng vào năm 939.
Từ năm 111 TTL đến năm 40 STL, có mấy cuộc khởi nghĩa bị quân Tàu đánh bại và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã chiến thắng, đã quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi, lá cờ độc lập tung bay trong toàn cõi làm lòng người náo nức và tự hào, tự tin vào tinh thần quật cường bảo tồn nòi giống và đất nước.
Tinh thần ấy được nối tiếp và bùng lên với cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh 200 năm sau, năm 248, tại các huyện Triệu Sơn, Như Thanh, Nông Cống tiến lên đánh chiếm huyện lỵ Tư Phố ở Thanh Hóa làm quân Tàu run sợ:
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan.
Tạm dịch:
Múa giáo đánh cọp dễ
Đối mặt vua Bà thì nguy. 
Tuy cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu không thành nhưng đã bùng lên ngọn lửa truyền thống bất khuất để chuyển tiếp cho các thế hệ sau. Một điều rất ngạc nhiên là Hai Bà Trưng cũng như phần lớn các nữ tướng của hai bà đều là những phụ nữ rất trẻ tuổi, mới ngoài tuổi đôi mươi và Bà Triệu khởi nghĩa khi vừa tròn 23 tuổi.
Phụ nữ Việt Nam thật đáng kiêu hùng!
Vào thời Pháp thuộc cũng có những bậc nữ anh hùng với hùng tâm Trưng Triệu nổi lên chống ngoại xâm như bà Đặng Thị Nhu đã cùng với chồng là cụ Đề Thám bao nhiêu năm kháng chiến ở chiến khu Yên Thế làm cho quân Pháp phải lao đao, run sợ. Nối gót bà Đặng Thị Nhu là Cô Bắc, Cô Giang, Cô Tâm và rất nhiều phụ nữ khác đã sát cánh cùng với các bậc anh hùng Nguyễn Thái Học, Ký Con Đoàn Trần Nghiệp, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn… của Quốc Dân Đảng mở cuộc khởi nghĩa năm 1930 lúc các cô ở tuổi 18, 20, ngoài 20.
Ngày nay dân tộc và đất nước lại đứng trước nạn xâm lăng từ phương Bắc, nữ lưu Việt Nam cả nước một lần nữa đem hùng tâm Trưng Triệu cùng với nam giới quyết ngăn cản quân xâm lăng và đấu tranh với kẻ nội thù là đảng csVN đang tâm bán nước cho kẻ thù của dân tộc. Hơn 1.000 km2 đất liền đã mất, hơn 20.000 km2 biển đã mất, Hoàng Sa mất và bây giờ kẻ thù đang lăm le lấy cả Trường Sa.
Trước nguy cơ đó, những phụ nữ đầy hùng tâm dũng chí như cụ Lê Hiền Đức, bà Bùi Thị Minh Hằng và những người tuổi trẻ Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), Tạ Phong Tần, Trần Thị Nga, Huỳnh Thục Vy, Hồ Thị Bích Khương… và biết bao nhiêu phụ nữ khác đang âm thầm hoạt động và đang đối mặt với tù đày, tra khảo bất cứ lúc nào nhưng không có gì có thể làm họ nhục chí…
Truyền thống bất khuất của dân tộc, của Bà Trưng, Bà Triệu, Cô Bắc, Cô Giang luôn chảy trong huyết quản họ, đốt cháy trái tim họ.
Ý nguyện bảo vệ giống nòi, đất nước khắc sâu trong tâm hồn họ, là lẽ sống của họ, phụ nữ Việt Nam.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Z đến A | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Nàng Công Chúa Giữa Rừng Lào

Posted by Webmaster on March 7, 2016

Tưởng Năng Tiến – Đàn Chim Việt.

“Lào, dường như, là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có nhật báo tiếng Hoa.”- Patrick BoehlerNew York Times.

Nowy-obrazCùng lúc với thời gian đồng tiền Đông Dương còn lưu hành ở Việt/ Miên/ Lào, chuyện (vui) sau đây cũng được lưu truyền quanh bàn nhậu:

Có một kỹ sư nông nghiệp của nước Pháp kết bạn với một ông nông dân Lào. Ông này hỏi ông kia:

Vậy chớ với ba mẫu đất này thì mỗi năm sản xuất được bao nhiêu tấn lúa?

Ba.

Sao ít xịt vậy, cha nội? Để tui bầy cho, canh tác theo đúng kỹ thuật thì hàng năm sẽ thu hoạch được chín tấn là giá chót.

Vài ba năm sau, họ lại có dịp hàn huyên:

Chớ năm rồi, thu được mấy tấn?

Ba.

Trời, bộ không làm theo phương pháp tui chỉ sao?

Làm đúng y chang vậy chớ nhưng bây giờ tui chỉ còn cầy cấy có một mẫu thôi.

Sao vậy ?

Ba tấn đủ sống rồi. Làm chi cho nhiều. Mệt.

Nowy-obraz-1

Người Lào, rõ ràng, không tha thiết gì lắm với chuyện làm ăn. Họ cũng chả bận tâm gì mấy tới việc dành dụm, hay tích lũy.

Những khẩu hiệu quen thuộc (“Một Người Làm Việc Bằng Hai/Làm Ngày Không Đủ Tranh Thủ Làm Đêm Làm Thêm Giờ Nghỉ”)ở nước CHXCNVN – chắc chắn – không cách chi lọt được vào tai của dân xứ Lào. Hổng tin, thử ghé qua thủ đô Vạn Tượng coi chơi (vài bữa, hay vài tuần) cho biết.

Ở đây, du khách có thể thưởng thức hương vị thức ăn của rất nhiều chủng tộc (Hương Việt Vietnamese Food, Parisien Cafe, Kiku Japanese Restaurant, Korean BBQ, Indian Buffet, Ban Mai Restaurant, Antica Spaghetteria Italiana, Salana International Cuisines, Best Thai Restaurant, Quán Ăn Sài Gòn, Scandinavian Bakery) duy chỉ có nhà hàng của dân bản xứ là tìm hoài không thấy!

Nowy-obraz-2-450x337

Dân số ở thủ đô Vientiane ước chừng non triệu. Gần mười phần trăm là Việt Nam, nếu tính luôn số sinh trưởng tại Lào – thường được gọi là người Việt cũ. Tuy thế, trên bất cứ con đường lớn/nhỏ nào ở Viêng cũng đều có những bảng hiệu (chỉ) ghi bằng Việt ngữ:

Phở Bò Tái Chín, Cơm Rang Mì Xào Gia Truyền Nam Định, Quán Cơm Chị Gái, Cơm Tấm Bún Bò, Sài Gòn Bê Thui, Cháo Gà Đà Nẵng, Beauty Salon Khải Băng, Kim Dung Coffee, Sửa Chữa Xe Máy, Nhuộm TócLàm Móng Gội Đầu, Quán Thịt Dê, Bánh Mì Đặc Biệt, Hớt Tóc Nam Nữ … Đó là chưa kể hàng trăm xe kem, xe trái cây, xe xôi chè, xe nước giải khát … (cũng) của người Việt len lỏi khắp nơi.

Nowy-obraz-3-450x337

Thiên hạ chăm chỉ làm ăn, và tận tình khai thác xứ sở của mình ra sao – dường như – cũng không phải là nỗi bận tâm của người Lào. Khoáng sản, lâm sản, đồn điền cà phê, cao xu … họ cũng đều vui vẻ nhường hết cho bá tánh mặc tình thao túng.

Nowy-obraz-4-450x337

Dân của đất nước Triệu Voi hoàn toàn hờ hững trong việc mưu sinh, và rất trầm tĩnh khi lưu hành trên đường phố. Tôi thề có trời là không hề thấy một anh cảnh sát, và cũng không hề nghe một tiếng kèn xe nào ráo,trong suốt hai tuần lễ ở Viêng Chăn. Một khuôn mặt giận dữ, hay một nét mặt nhăn nhó/cau có cũng không luôn.

Trên những con đường ở ven đô – đôi lúc – tôi còn bắt gặp những người lái xe bình thản ngồi chờ vài con bò, đủng đỉnh qua đường, với ánh mắt cùng thái độ an nhiên của một triết nhân!

Nowy-obraz-5-450x217

Cũng dọc theo những nẻo đường quê, loa phường được giăng đều đặn theo cột điện. Ngủ lại đây vài đêm, có sáng tôi nằm lắng nghetiếng loa và vô cùng ngạc nhiên vì cái âm điệu khoan thai hiền hoà của những xướng ngôn viên. Hỏi ra mới biết hệ thống phát thanh này chỉ dùng để cho những nhà sư đọc kinh hay giảng kinh Phật vào những ngày rằm (và cũng là ngày nghỉ việc) thôi.

Người Lào, kể cả đám cán bộ tuyên huấn Lào Cộng chắc vẫn còn giữ được phần nào bản tính chất phác nên không thể nói dối (xoen xoét) suốt ngày – như Việt Cộng. Thảo nào mà nhạc sĩ Tô Hải đã không tiếc lời khen: “Nước Lào rồi đây sẽ vượt VN về nhiều mặt… mà cái mình thấy họ vượt hơn hẳn là: Không muốn bẻ quẹo sự thật!”

Cập rập, lật đật, hối hả, vội vã, hấp tấp, khẩn trương … là những hạn từ (dám) không có trong tự điển tiếng Lào.Nhiều người cứ ngỡ Chủ Nghĩa Marxism Leninism Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm đã trói chân được dân Lào; ai dè nó lại nằm (dài) giữa thủ đô Vạn Tượng – nơi mà phần lớn những lá cờ búa liềm của Đảng Cộng Sản Lào đều treo ủ rũ, và đều đã bạc hết mầu.

Chú dân phòng, ông công an khu vực, bà tổ trưởng dân phố, và những cuốn sổ hộ khẩu cũng không có mặt ở Viêng Chăn. Bởi thế, những người Việt tôi gặp ở nơi đây đều không ngớt ca tụng phần đất này (“sống thoải mái hơn ở bên mình nhiều lắm”) dù phần lớn họ đều là những di dân không hợp pháp.

Vientiane an bình thiệt. Thành phố này không có ăn xin, không có trộm cắp, không có những căn nhà kín kẽ rào sắt (hoặc dầy đặc kẽm gai bao quanh khung cửa) như ở Phnom Penh. Cũng không dầy đặc xe cộ, cùng những toà nhà cao tầng như thủ đô Bangkok.

Ký giả Ngọc Hoà ví von rằng : “ … xứ sở Triệu Voi tựa như cô công chúa ngủ quên trong rừng vừa được đánh thức!” Tôi (trộm) nghĩ thêm rằng nàng hiện đang rất bối rối vì chợt mở mắt ra đã thấy có quá nhiều chàng trai đang xun xoe bên cạnh.

Kẻ có ưu thế đến trước, chắc chắn, là cái anh người Pháp. Ở Thủ Đô Vạn Tượng vẫn còn thấy nhan nhản những bảng hiệu “Adam Tailleur,” “Boulangerie à Vientiane,”và luôn cả“Lycée Vientiane” nữa.

Những cơ quan cấp bộ vẫn giữ nguyên tên của thời thuộc địa: MINISTÈRE DE L’ENERGIE ET DES MINES, MINISTÈRE DE LA JUSTICE, MINISTÈRE DE LA SANTÉ … Riêng bộ Thông Tin, Văn Hoá & Du Lịch (lại) tỉnh queo “chơi” một hàng chữ tiếng Anh: MINISTRY OFINFORMATION, CULTURE & TOURIST!

Nowy-obraz-7-450x337

Nowy-obraz-8

Ảnh chụp tháng năm 2015

Ảnh hưởng của cả Pháp lẫn Anh – tuy thế – không rõ nét, cũng không sinh động, và quyến rũ bằng những chiếc xe xinh sắn với đủ loại sắc màu (Kia Soul, Hyundai Elanta, Toyota Camry, Honda Civic…) đang chạy quanh trên khắp mọi nẻo đường của Xứ Sở Triệu Voi. Hai chàng trai Nam Hàn và Nhật Bản, rõ ràng, đã để lại ấn tượng khó quên trong trái tim của cô công chúa vừa thức giấc.

Nowy-obraz-9-450x337

Ai cũng biết là rất nhiều tỷ Mỹ Kim, cùng hàng trăm ngàn người Trung Hoa đã “đổ” vào Lào trong hai thập niên qua. Tuy thế, theo phóng viên thường trú của New York Times (tại Hồng Kông) Patrick Boehler: “ Lào, dường như, là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có nhật báo tiếng Hoa.” (Laos, it seems, is the only Southeast Asian nation without a Chinese language daily newspaper.)

Vẫn ví von mà nói thì nàng công chúa Lào, xem ra, chả mặn mà gì với cái gã Tầu già nua, thô lỗ và có quá nhiều tai tiếng (về tính đểu cán) này. Năm 2010, Viện Khổng Tử đầu tiên được thiết lập tại Trường Đại Học Quốc Gia Lào. Qua năm sau, tại đây lại khai giảng thêm lớp học tiếng Tầu – giảng dậy vào cuối tuần – do những giáo viên Trung Hoa phụ trách. Ban giảng huấn phát biểu:

“Chúng tôi hy vọng rằng họ có thể dùng cơ may này để mang tiếng Hoa vào chương trình trung học ở Viêng Chăn, và càng ngày sẽ càng có thêm học sinh cấp trung học hiểu được ngôn ngữ và văn hoá Trung Hoa.” (We hope that they can make use of this good chance to bring Chinese into the middle school in Vientiane, and more and more middle school students can understand Chinese language and Chinese cultures.)

Niềm hy vọng này, ngó bộ, có hơi phi phỏng. Ngoài cái Viện Không Tử, và ngôi nhà vô cùng khiêm tốn dùng làm văn phòng của Hội Ái Hữu Người Hoa ở Vạn Tượng ra, tôi không thấy dấu vết “văn hoá” gì rõ nét của Trung Hoa ở đây cả. Bước ra khỏi khu phố này thì tiệm ăn Tầu cũng biến mất luôn. Thảo nào mà Patrick Boehlercòn gọi khu phố Tầu ở thủ đô của Lào là một nơi trì trệ hay tù đọng (a stagnating Chinatown).

Soft Power của Trung Cộng, nếu có, e cũng chả tác dụng chi nhiều ở xứ Lào. Khổng Tử (xem chừng) không đứng được giữa núi rừng thiên nhiên nơi mà phép tắc và lễ giáo hoàn toàn không cần thiết, nhất là cái thứ lễ giáo và đạo đức (chuyên nói một đằng làm một nẻo) của … nền Văn Hoá Búa Liềm.

Cái “tạng” của người Lào, rõ ràng, không hợp với loại công việc luôn nhễ nhại mồ hôi, cắm cúi suốt ngày vào chảo lửa, nấu nướng, bưng bê, và rửa chén cho thiên hạ. Họ ưa rảnh rỗi và chỉ thích những sinh hoạt tâm linh, chiêm bái, lễ lạc thôi.

Nét nổi bật của Vientiane là những ngôi chùa u mặc và thần bí. Phải nhìn thấy thái độ hết sức nghiêm trang và thành khẩn của người Lào, khi cúng dường thực phẩm cho những vị sư đi khất thực, tôi mới “ngộ” ra tại sao chủ trương vô thần của người cộng sản không thể “trụ” được ở xứ sở của họ.

Đã thế, hôm 31 tháng 1 vừa qua, nhà báo Lê Phan lại vừa ái ngại cho hay:

“… Đảng Cộng Sản Lào đã có một quyết định làm Bắc Kinh choáng váng khi họ lật đổ toàn bộ hàng lãnh tụ thân Bắc Kinh và đưa một nhân vật vốn lâu nay bị gạt sang một bên chờ về hưu lên cầm quyền.”

Năm 2012, ngoại tưởng Hillary Rodham Clinton đã thực hiện một cuộc thăm viếng lịch sử ở Lào. Theo AP, năm nay (năm 2016) Obama sẽ là vị tổng thống Mỹ đầu tiên đến Lào trong chuyến công du Đông Nam Á.

Lại thêm một chàng trai nữa đến từ Châu Mỹ. Công chúa Lào, hẳn nhiên, có thêm đối tượng để mà lựa chọn.

Tôi không rành về bói toán và chính trị nên không thể đoán trước được hậu vận của nàng công chúa (vừa thức giấc) giữa rừng này. Chỉ cầu mong cô sẽ luôn luôn được an bình và gặp nhiều may mắn. Sự an bình và may mắn của đất nước Triệu Voi, chắc chắn, có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của hàng trăm ngàn đồng hương của tôi đang đang tha phương cầu thực nơi đây.

© Tưởng Năng Tiến – Đàn Chim Việt.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Năng Tiến, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: , , | Leave a Comment »

Một nếp văn minh mớI

Posted by Webmaster on February 22, 2016

pobrane8

Nguyễn Thị Cỏ May – Đàn Chim Việt.

Trong những ngày cận Tết, báo chí ở Việt Nam đã phải lên tiếng “Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề những thảm án liên tục xảy ra, con người cư xử với nhau ngày càng tàn bạo có một phần nguyên nhân từ việc uống nhiều bia rượu và thiếu đọc sách “ .
Nhưng không biết «thiếu đọc sách» là nguyên nhân của mải mê bia rượu hay vì «bia rượu » mà thiếu đọc sách ? Hay còn nguyên nhơn nào nữa khác hơn ? Nhưng tình trạng  «mải mê bia rượu» ngày nay ở Việt nam trở thành nghiêm trọng đến mức nào ?

Sự chọn lựa đã rõ

Theo báo chí ở Hà Nội, năm vừa qua, ngành văn hóa của Nhà Nước thu được 2000 tỷ đồng từ các hoạt động xuất bản với 24.000 cuốn sách, 375 loại ấn phẩm . Trong lúc đó, Nhà Nước thu vào được 66.000 tỷ động từ sự tiêu thụ 3 tỷ lít bia rượu của dân chúng . Sự thu nhập nhờ những hoạt động đối nghịch với chữ nghĩa, sách vở lại cao hơn 33 lần thu nhập nhờ chữ nghĩa !

Ngoài ra, theo điều tra của Google thì người Việt Nam, nhứt là lớp thanh niên, vào internet xem những loại phim đồi trụy tinh thần nhiều nhứt so với nhiều nước khác . Phải chăng ý muốn nói đại bộ phận dân Việt nam ngày nay, tinh thần đồi trụy, hiểu biết thoái hóa, cơ thể suy nhược ?

Mỗi năm, người dân ở Việt Nam chi ra 3 tỷ đô-la để uống bia rượu . Nếu đem khối lượng bia rượu tiêu thụ đó chia cho dân số Việt nam, từ tuổi biết uống nưóc cho tới tuổi sắp bỏ uống nước, thì mỗi người sẽ nhận đươc hơn 33 lít bia rượu / năm .

Thật ra số tiêu thụ ấy chưa thấm vào đâu nếu so với dân Tiệp và Đức . Dân Tiệp uống 135 lít bia / năm / người, Đức kém hơn, 107 lít / năm / người . Tây bét nhứt  : 30 lít / năm / người . Nhưng Tây lại uống rượu chát (vin) nhiều hơn (44 lít / người / năm) . Có lẽ nhờ đó mà Tây ăn nhiều bơ, fromage, thịt nguội, …mà lại ít bị bịnh tim mạch hơn người Huê kỳ . Một mẫu người Pháp tay chơi là «tay cầm ly vin, tay kia đỡ mâm thịt nguôi và fromage» .

Nhưng, ở Việt Nam, bất kỳ ở đâu, trước nhà, ngoài ngõ, trong quán nhậu, vào bất kỳ giờ nào, sáng, trưa, chiếu, tối, đầu tuần, cuối tháng, cứ đưa mắt nhìn là thấy ngay có đầy người ngồi nhậu, với thái độ ung dung tự tại vô cùng thoải mái . Đa số là tuổi trẻ .

Phong cách nhậu của người Việt Nam không giống như người Âu châu . Theo kết quả điều tra, năm 2015, riêng dân Pháp, lớp tuổi trẻ từ 15 – 24 tuổi, có 12% uống bia rượu . Lớp lớn hơn có 32% uồng bia rượu . Còn lại 55% là những người không uống . Và họ chỉ uống vào ngày nghỉ hay dịp lễ lộc . Những người đi làm việc, chiều về, tạt vào Bar, đứng bên Comptoir ( Quầy), uông 1, 2 ballon rượu chát ( 1 chai vin 75 cl rót được 6 ballons 12, 5 cl – Champagne, được 6, 7 coupes) hoặc 1, 2 đờ-mi như khai vị để về nhà ăn cơm ngon . Ở Pháp tuy là xứ sản xuất hàng đầu bia rượu, nhưng không thấy dân chúng đông nghẹt suốt ngày trong tiệm lớn nhỏ như ở Việt Nam . Ngoài ra, còn có luật cấm vị thành niên mua rượu ở chợ hay tìệm và uống rượu ở quán.

Ở Việt Nam, người dân uống rượu như vì «không biết làm gì, nghĩ gì» khác hơn . Uống để mà uống . Như một sanh hoạt hằng ngày phải có để nhắc nhở «ta còn đây » . Khi ta uống là ta thật sự «hiện hữu»!

Bạn bè lâu ngày gặp nhau tay bắt mặt mừng: nhậu ; ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp: nhậu ; có chuyện vui: nhậu; gặp chuyện buồn: nhậu; hết giờ làm việc, đồng nghiệp cùng nhau thư giãn: nhậu; đi công tác phải biết “giao lưu ”, “kết nghĩa”: nhậu ; có khách đến nhà: nhậu…bình thường không làm gì, cũng…nhậu. Có tiền, nhậu theo có tiền . Hết tiền, nhậu nhiều hơn …

Người Việt nam ít đọc sách

Quả thật đây là điều đáng buồn khi thấy người dân không bỏ tiền ra mua sách đọc mà trái lại, có bao nhiêu tiền cũng sẵn sàng chi ra cho ăn nhậu.

Họ không cần đoc nhiều phải chăng vì chỉ cần đọc một cuốn hay xem một tờ báo cũng có thể biết 24 000 cuốn kia hay 375 ấn phẩm kia nói gì, viết gì rồi ? Tất cả báo chí, sách vở, Phát thanh, TV đều nằm gọn trong tay nhà thầu khổng lồ là đảng cộng sản. Mà chính đảng viên cấp lãnh đạo, lại chẳng có mấy người đọc sách. Bởi nhờ không đọc sách, họ mới lên được TW đảng !

Nói tới chuyện sách vở ở Việt Nam, Cỏ May nhớ lại năm 1977, vào khu phố lặc-xon của Ba tàu bán ve chai ở chợ lớn tìm mua phụ tùng máy tàu, tu bổ cho chiếc tàu chuẩn bị vượt biên, thấy con xẩm trẻ, con gái chủ tiệm, đang cầm quyển tiểu thuyết của Quỳnh Dao đoc, bèn hỏi nó đang học lớp mấy và tại sao không đoc sách của chương trình Quốc văn mà đoc Quỳnh Dao?
Nó cho biết học lớp 11 . Đọc Quỳnh Dao vì đọc sách kia thì – nó vừa trả lời vừa lật quyển sách như để thuyết minh thêm cho rõ ý – ở đầu sách : «ổng » (Hồ Chí Minh), giữa sách  : «ổng», ở cuối sách cũng «ổng» . Đọc cái gì  ? Chỉ có liệng đi, vừa làm cử chỉ bằng cách như vứt quyển Quỳnh Dao nó đang cầm trên tay .

Việt Nam ngày nay có gần 30 triệu người dân chưa bao giờ biết sách là gì, 44% dân số thỉnh thoảng đọc, thì coi đó như không đọc sách vì đọc sách không thể nào «đọc cơ hội » được .

Theo kết quả điều tra phổ biến gần đây thì người Việt Nam một năm chưa đọc hết 1 cuốn sách (chỉ đọc 0,8 cuốn sách/năm), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực . Ở nhà quê, gần như không có người đọc sách báo . Nhưng nều tính theo cách tính số người tìêu thụ bia rượu thì ở Việt Nam, ngày nay, có 90 triệu người, đem số sách bán được năm 2014 là 24.000 cuốn chia cho 90.000.000 thì kết quả sẽ là một người, trong một năm, đọc được 0,00027 cuốn sách!

Thế mà Việt Nam lại có 480 trường đại học, hàng trăm viện nghiên cứu, hơn 20  000 tiến sĩ đủ loại, cả thứ «tiến sĩ xây dựng đảng cộng sản», tỷ lệ sinh viên trên dân số cao ngất ngưỡng?

Thực tế này đã giải thích rõ vì sao sinh viên Việt Nam sau khi học xong vẫn thiếu kiến thức, vì sao những bằng cấp Cao Đẳng, Đại Học của chế độ cộng sản chưa bao giờ có giá trị và vì sao bạo lực ngày càng gia tăng, đạo đức luân thường xuống cấp nghiêm trọng…Người dân thường ỷ lại ở sức mạnh của đồng tiền trong việc đối xử với nhau .

Đất nước đã tụt hậu nhiều mặt so với Lào, Campuchia, Myanmar, đó là sự thật chứ không còn là nguy cơ như báo động trong những năm trước đây. Giảm rượu bia khó . Phát động phong trào đọc sách ngay hôm nay lại càng khó hơn vì làm điều này, trước hết phải đem lại cho sách báo có nội dung bằng những điều thiết thực, khai hóa dân trí theo tinh thần khoa học toàn câu, … Mà khi phục hồi những giá trị đạo đức nhơn bản thì chủ nghĩa cộng sản đem bỏ đi đâu ? Người cộng sản phải không nói dối, không lật lộng, không ngang ngược thì làm sao họ còn cộng sản nữa ? Đây quả là thứ nghịch lý sanh tử với người cộng sản. Vả lại sách vở, báo chí là sản phẩn của chế độ mà bản chất của chế độ là cộng sản. Người dân đang công khai chối bỏ cộng sản thì không thèm đọc sách báo là tự nhiên.

Rượu bia là những thứ cay nồng, độc hại mà còn dễ chịu hơn nếu phải tiếp xúc với thứ chữ nghĩa theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Vì thứ này, nó còn ghê tởm hơn, còn độc hại hơn bia rượu !

Kể ra nếu lấy bia rượu thay thế sách vở, biết đó là một thứ chọn lựa liều mạng, tự sát, nhưng về chìu sâu, nó có lý ở một cách ứng xử nào đó để hiểu thực tế của đất nước Việt Nam ngày nay.

Hay làm «ruồi đực tìm rượu giải sầu »

Câu chuyện «Ruồi đực tìm rượu giải sầu» là câu chuyện khoa học do University of California ở San Francisco, thực hiện với hằng trăm con ruồi và công bố kết quả nghiên cứu trên tờ báo chuyên đề The American Journal of Science (trên internet) .
«Họ bắt một con ruồi cái vừa mới làm tình xong, nhốt vào một cái lọ. Sau đó họ bắt một con ruồi đực bỏ chung vào với con ruồi cái, rồi theo dõi hành động của hai con ruồi . Con ruồi đực muốn ân ái nhưng con ruồi cái, vì vừa mới làm tình xong, mệt mỏi nên không hứng thú tí nào nữa, nó bay chỗ khác. Nếu nó bị con ruồi đực bay đuổi theo và bắt được, thì nó quyết liệt chống cự, hoặc chìa bộ phận đẻ trứng của nó cho con ruồi đực kinh hoàng, không đến gần nữa .

Họ làm thí nghiệm này với những con ruồi đực trong bốn ngày liên tiếp, mỗi ngày ba tiếng đồng hồ, và con ruồi đực luôn bị con ruồi cái không cho sơ múi gì cả.

Sau ngày thứ tư, họ cho con ruồi đực vào một cái lọ riêng, cho nó được lựa chọn hai thứ thức ăn, một là thức ăn thường và thức ăn có tẩm rượu, thì con ruồi đực, bị con ruồi cái không cho âu yếm, lúc nào cũng chọn thức ăn có rượu. Nhiều con “nhậu” cho đến xỉn luôn .

Họ tiếp tục cuộc thử nghiệm, lần này cho những con ruồi không được làm tình trong bốn ngày trước vào chai có ruồi cái ưng làm tình . Sau khi được ân ái, những con ruồi đực này chọn thức ăn không có rượu .

Nghiên cứu thêm nữa, các nhà nghiên cứu khám phá trong óc của con ruồi có một chất gọi là NPF. Họ suy luận là, khi được làm tình, óc con ruồi đực bị kích động và tăng trưởng chất NPF, nên làm nó cảm thấy sung sướng, thoải mái . Ngược lại, nếu nó không được làm tình, bị thiếu chất NPF, nên nó phải tìm những thức ăn có rượu, để kích động chất NPF trong não bộ .

Ông Ulrike Heberlein, người hướng dẫn cuộc nghiên cứu, tuyên bố là, phản ứng của đàn ông cũng không khác gì những con ruồi đực: Nếu bị vợ hay bồ không cho làm tình thì đàn ông sẽ tìm giải sầu trong ly rượu” .

Vậy phải chăng dân Việt Nam chọn ăn nhậu sáng, trưa, chiều, tối vì sách báo không thể đọc nổi, mà hú hí với vợ hay bồ cũng không được đãi ngộ, thì còn cách nào thú vị hơn là “ làm ruồi đực” mà tìm rượu giải sầu trong ly bia rượu ?

© Nguyễn Thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Những Chuyện Trong Ngày, Tác giả hải ngoại, Z đến A, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

Bước đường cùng.

Posted by Webmaster on August 31, 2014

Tác Giả: Huy Phương

cogai banbia

Một cô gái quảng cáo bia Anchor của Singapore tại Hà Nội. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này !

(Vú Em -Tố Hữu)

Ngày 15 tháng 8, Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam ra quyết định đình bản 3 tháng báo điện tử Trí Thức Trẻ và phạt 207 triệu đồng vì ngày 12 tháng 8 báo này đã đăng một bài có tựa đề là “Gái miền Tây và 3 chữ ‘N’ nổi danh thiên hạ” của tác giả Trai Toàn Cầu.

Ba chữ N đó là Ngoan, Ngon và Ngu. Bài này xem như đã vi phạm luật báo chí và chính ban biên tập đã ngỏ lời xin lỗi độc giả vì đã “gây nên sự tổn thương sâu sắc cũng như tạo cảm giác xúc phạm tới nhiều phụ nữ Việt Nam.”

Thật ra chuyện Ngoan, Ngon và Ngu không lạ gì với lời nói ngày xưa dùng để khuyên những người đi chọn vợ.

Ngoan nói về tính tình, ai lại không thích có một người vợ ngoan.

Ngon nói về thể chất và hình dáng bên ngoài, trắng da dài tóc, có nhan sắc, vì không ai muốn chọn vợ xấu.

Ngu nói về kiến thức. Phải ngu hơn chồng mới phục chồng, và không lấn lướt muốn dạy chồng. Không gì chán bằng cảnh ông chồng mới mở miệng phát biểu một câu thì vợ đã nói, “Chuyện này em biết rồi!” Vậy thì nên chọn một người vợ “ngu” hơn mình.

Nhưng ở đây bài báo lại dùng chữ “ngu” để vơ đũa cả nắm, cho con gái miền Tây ngây ngô và ngu muội, “não ngắn,” thiếu văn hóa. Tác giả cho rằng, “Về độ ‘ngon,’  thì tôi dám quả quyết không gái miền nào địch được gái miền Tây. Nhưng còn về độ ‘ngu’ thì phần lớn gái miền Tây cũng là những cô gái ‘ngu dốt’ vô đỗi !”

Không phải bây giờ, mà trước đây báo chí Việt Nam đã có những bài báo chỉ trích cay nghiệt con gái “Bắc Kỳ,” và rồi nay, những người “phụ nữ miền Tây” bị tổn thương vì sỉ nhục là ngu đần !

Cộng sản coi là đã thống nhất được đất nước nhưng lòng người thì ly tán, nhất là sau cuộc đổi đời 30 Tháng Tư, 1975, dân miền Bắc ồ ạt vào Nam lập nghiệp, được ưu tiên nâng đỡ trong việc lập nghiệp, chiếm đất, phá rừng, bây giờ ở Việt Nam đi đâu mà không nghe tiếng nói Bắc Kỳ 75. Người miền Nam chẳng ưa gì dân Bắc vào Nam trong tư thế kẻ thắng trận chiếm đóng, người miền Bắc tuy coi miền Nam là vùng tạm chiếm, bị bóc lột, nhưng gần như ganh tỵ vì choáng ngợp trước cảnh đời sống an nhàn, sung túc của dân Nam.

Người miền Trung và miền Bắc thường có quan điểm cho rằng người miền Nam là hời hợt, nông nổi, thiếu sâu sắc, không có căn bản văn hóa, mối giềng ràng buộc với họ hàng, làng nước. Ðiều này dư luận thường dùng để làm câu giải đáp cho việc “lấy chồng Ðài Loan” của con gái Việt Nam mà các thiếu nữ miền Tây đã dẫn đầu trong vài chục năm qua.

Những nhận xét về “gái miền Tây” lâu nay khá nặng tay. Một cán bộ của Ðại Học Tôn Ðức Thắng nhận định… “nhiều người dân ở vùng này chây lười nên không nhận thấy tầm quan trọng của tri thức !” Một bài khác trong Vnexpress cho rằng, “… đàn bà con gái chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage !” Và chỉ nội cái nhan đề trong Vitalk.vn, “Gái miền Tây lười, ít học và muốn một bước lên bà chủ !” cũng đủ là một điều xúc phạm chung cho cả một tập thể.

Vì đâu nên nỗi ?

Người đổ lỗi tại văn hóa, hoàn cảnh thiên nhiên ưu đãi mà không hề ai dám nói đến cơ chế xã hội và những gì là trách nhiệm của kẻ cầm quyền trong bao nhiêu năm nay. Một ông khoa trưởng một đại học lớn như Ðại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã xác định … “nền giáo dục ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long còn quá yếu, đặc biệt với phụ nữ, đã đưa đến những hệ lụy trên !” Vậy thì thưa ông, chủ trương này từ đâu đến và sao không nghe ông than trách việc khách sạn, sân golf, nhà hàng đặc sản hoac cho ngoại nhân thuê đất để đẩy dân vào chỗ khốn cùng, để con gái họ phải thoát ra cảnh nghèo, vươn qua biên giới để mong mỏi có một đời sống tươm tất hơn.

Cũng không nghe ai nói, trước Tháng Tư, 1975, “con gái miền Tây” toàn là dân đi bán bar, làm sở Mỹ hay làm điếm hay đi lấy chồng Ðài Loan. Ðiều gì đã biến đổi đất nước nói chung và con gái miền Tây lâm thảm cảnh này !(?)

Có quý vị trí thức nào bỏ ra chút thời giờ để nghiên cứu xem xứ nào đàn ông Việt Nam đầu quân đi bán sức lao động xứ người, và vì sao Nghệ Tĩnh và Quảng Bình lại lắm người bỏ ruộng bỏ vườn “đăng ký” đi làm thuê để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Không lẽ quý vị lại đổ tội cho chây lười, ít học hay chối bỏ quê hương nghèo khổ, truyền thống của mảnh đất này là thích đi làm “bồi” hoac sợ phạm đến mảnh đất “thiêng” mà không dám nói.

Một sự thật đau lòng là nhạc sĩ Tuấn Khanh, ở trong nước, trong blog của ông đã nói lên một điều, đáng lý phải làm cho chính quyền trong nước đỏ mặt. Các hội gọi là phụ nữ, các tổ chức nhân quyền vẫn thường có thói quen báo cáo tốt, đề cao thành tích, vẽ vời hình tượng người phụ nữ Việt Nam, nhưng có đất nước nào đã ở trong thời kỳ hòa bình, độc lập mà thân phận phụ nữ bọt bèo, trôi giạt khổ đau như người con gái Việt Nam ?

Sự thật là trong xã hội này, người phụ nữ bị đánh giá thấp, không hề được bảo vệ, che chở bởi công lý.

Những vụ án có liên quan về phụ nữ từ trước đến nay, phần đông phụ nữ đều bị thiệt thòi vì các loại đàn ông bên nguyên hay bên bị đều là loại nô bộc trung thành với đảng và nhà nước, và phụ nữ Việt Nam được xem không hơn một món đồ chơi !

Khi nói chuyện về đời sống của các cô gái miền Tây đi lấy chồng xứ người, blogger Tuấn Khanh được biết một sự thật rất là chua chát, nếu còn chút lương tri, hẳn các hội phụ nữ ở Việt Nam và cả cái cơ chế công an, cảnh sát xã ấp phải hổ thẹn. Khi hỏi về chuyện chồng Ðài Loan đánh đập, một cô gái đã cười hồn nhiên nói, “Không phải ai cũng bị như vậy, báo chí nói quá !  Nhưng nếu như có bị đánh ở Ðài Loan, tụi em còn được báo chí xứ đó lên tiếng giùm, chứ ở Việt Nam, lấy một ông chồng say xỉn rồi bị đánh chết cũng không ai lo cho mình !”

Ở đây chúng tôi không nhắc đến một loại kỷ luật chỉ có trong xã hội Việt Nam Cong San là cấp lãnh đạo thông tin, một loại “Ông Kẹ” mang hơi hướng “đảng” có thể làm tình, làm tội bất cứ cơ quan truyền thông nào khi họ cảm thấy bất như ý. Bài báo “ba N” có thể gây phẫn nộ cho quần chúng, thậm chí có thể ký giả bị bao vây hay tòa soạn bị đốt nhưng không thể vì lý do gì mà chính quyền phạt tiền hay đình bản. Phải chăng đây chỉ là một thái độ khúm núm, sợ mất lòng, vì trong Bộ Chính Trị hiện nay có bao nhiêu vị có mẹ, có em, có con là “gái miền Tây !”

Lên án ai đó là một công việc dễ dàng, nhưng đi tìm nguyên nhân mà và sự thật là một việc khó ! Không dễ dàng như một vị tiến sĩ xã hội học, đảng viên CSVN, đã nhận định rằng do ít ý thức về đức hạnh mà “phụ nữ Nam Bộ” thường hay lấy chồng ngoại (TK). Vậy thì ở Hà Nội, hoa hậu, sinh viên đại học có tên trong đường dây “gái gọi”, tan trường là lên giường, chắc không phải lý do là đức hạnh (?)!

Ba chữ Ngoan, Ngon và Ngu chưa đủ yếu tố để đưa “người con gái miền Tây” vào hoàn cảnh mà các “đạo đức gia” hay “đạo đức…giả” tha hồ bới móc, nói xấu. Quý vị cũng không nên quên một chữ N nữa, là chữ “Nghèo” khiến cho phụ nữ miền Tây phải lâm vào cảnh đi lấy chồng xa, hay chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage. Dân nghèo mạt, nhặt rác mỗi ngày không kiếm nổi tới $2, trong khi cán bộ công quyền giàu bạc triệu đôla, ăn xài huy hoắc bạc tỉ là ưu điểm của một chế độ XHCN chăng ?

Miền Tây “gạo trắng nước trong” ngày nay như thế nào ?
Báo Hậu Giang đưa tin: “Dân khổ vì ‘ 3 không ‘. Người dân tại các tuyến dân cư trên những con kênh mới hình thành ở xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, đang sống trong tình trạng ‘3 không’ : không nước sạch, không điện, không đường bộ. Trẻ em đến trường rất khó khăn, vậy thì sao cho là dân kém học vấn ?  Dân Hậu Giang còn nghèo, chỉ mỗi ấp 8 xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, đã có 87 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có 28 hộ nghèo không có đất sản xuất. Vậy thì động lực nào đã xô đẩy hàng vạn cô gái miền Tây đi lấy chồng ngoại, nên câu nói “không có tiền thì ‘cạp đất’ mà ăn” đâu có gì là quá đáng ?

Ở đây có câu chuyện bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi, cùng con gái là Hồ Nguyên Thủy, 33 tuổi, với thân thể trần truồng không một mảnh vải che thân, phản đối chính quyền đã cướp đất để bán cho một công ty ngoại quốc trong dự án “Khu dân cư Hưng Phú”, sau khi chồng và cha của họ đã vì quá phẫn uất uống thuốc rầy tự tử !  Hai mẹ con bà Lài “đã bị đám VC vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt. Ðó chính là câu chuyện “hổ thẹn” nhất của đất nước trong năm 2012 xảy ra tại miền Tây, nơi mà một tờ báo “vô đạo” ngày nay đã lên án là cái xứ lười, ngu và con gái chỉ muốn đi bán bia, hay hành nghề massage.

Hổ thẹn không phải nơi hai mẹ con đã phơi bày cái chỗ đáng giấu của đàn bà, vũ khí yếu đuối cuối cùng phải đem ra để tấn công vào khuôn mặt quá dày, trâng tráo của chế độ CSVN, mà xấu hổ rơi về phía cường quyền VC, đã toa rập với xã hội đen, các thế lực đồng tiền, với sự trợ thủ của ngành công an đẩy người dân vào bước đường cùng !

Xin các nhà nghiên cứu văn hóa, các khoa bảng, trí thức hiện đang giữ các vai trò quan trọng trong các trường đại học hay trung tâm nghiên cứu, thích chuyên bố, rao giảng thứ kiến thức cổ lỗ, xin đừng ôm mãi cái não trạng mà danh từ hiện nay, người Việt trong nước đang dùng là “não ngắn,” đi tìm và đổ lỗi cho văn hóa, địa dư và những nguyên nhân xa cho cái “nghèo” cái “ngu” của gái miền Tây, hầu hết là để biện minh cho tình trạng hư đốn của chế độ CSVN !

Thân “vú em” năm xưa làm sao nhục nhã, khốn khổ bằng chuyện con gái Việt Nam đi làm gái mại dâm mười phương bây giờ (!) nên chưa lúc nào tôi thấy hai câu thơ của Tố Hữu thấm thía như hôm nay:
“Bạn ơi nguồn thảm sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này !”

Huy Phương

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn, Đời sống quanh ta | Tagged: , | Leave a Comment »

III. Sirik Matak (trích Kim Thanh: PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU ?)

Posted by Webmaster on April 19, 2014

Trung úy Nguyễn Kim Quý

Trung úy Nguyễn Kim Quý

 

III. Sirik Matak :

     “My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109)

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay Cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt, kẻ thù của đất nước ông, đang được đỡ đầu bởi Trung Cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một cụm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).

Phạm Kim Vinh dịch cụm từ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ –đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho nhân dân Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên tivi, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu.” Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ –điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ– và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ –vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hỗ thẹn lương tâm người Mỹ.

Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975.
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle –chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và bọn Giải phóng Miền Nam và Cộng sản Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị bọn xâm lăng miền Bắc sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.

Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.
Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak –một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc Kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình để khỏi sa vào tay giặc. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):

“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355).

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt?
Ngày 30/4/75, trong lúc Cộng quân tràn vào thành phố Sài Gòn, một sĩ quan Cảnh sát VNCH bước đến trước tượng đài Chiến Sĩ Trận Vong, sau khi đứng nghiêm chỉnh chào, đã tự bắn chết (nằm dưới chân tượng).

Ngày 30/4/75, trong lúc Cộng quân tràn vào thành phố Sài Gòn, một sĩ quan Cảnh sát VNCH bước đến trước tượng đài Chiến Sĩ Trận Vong, sau khi đứng nghiêm chỉnh chào, đã tự bắn chết (nằm dưới chân tượng). Hình và chú thích lấy từ quyển The Fall of the South, Boston Publishing Company, 1985.

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông –một lãnh tụ khác chủng tộc, nhưng đồng hội đồng thuyền trong nỗi đau mất nước. Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam.

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút –đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.

Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen 2011
kim thanh

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Niệm - Tri Ân, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

EM VẪN SỐNG

Posted by Webmaster on April 19, 2014

CẨM NGCC  –  [ Viết năm 1978]

Nhân tháng 4 về, thân gởi bài thơ tâm sự của người vợ có chồng là ” Tù Cải Tạo “,
mong được các Anh Chị đồng cảnh ngộ cùng chia xẻ với tác giả .  Vợ Trương Ngọc Phước.

caitao2

EM VẪN SỐNG

Em vẫn sống để hiên ngang nhận lãnh
Trọng trách làm người, làm vợ thủy chung
Mặc chông gai và sóng gió bão bùng
Em vẫn sống để chờ Anh trở lại

Không thể chết dù mang nhiều thảm bại
Trên đường đời bao tủi nhục đắng cay
Nén đau thương ôm chua xót từng ngày
Vì hạnh phúc và tương lai con cái

Em vẫn sống dù mưa dầu nắng dãi
Cố vẹn toàn gương ” Tiết Hạnh Khả Phong”
Vẫn bền gan vượt hầm hố gai chông
Vẫn đứng vững chờ chồng nuôi con dại
Thầm cầu mong hai đứa còn gặp lại
Để đền bù bao năm tháng đợi mong
Lòng dặn lòng luôn khắc phục khó khăn
Xóa tan hết những nghĩ suy cuồng dại

Em vẫn sống giữ niềm tin mãi mãi
Noi gương xưa và vững dạ đợi chờ
Anh sẽ về cho em trọn ước mơ
Cùng dệt nốt những vần thơ tương hội .

CẨM NGỌC
[ Viết năm 1978]

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Thơ, Văn Nghệ | Leave a Comment »

NHỚ VỀ CHỐN XƯA

Posted by Webmaster on April 15, 2014

CẨM NGỌC  –  [2014]

BẾN NINH KIỀU 1966

Đã lâu lắm không về thăm chốn cũ
Kể từ ngày giặc đỏ cướp quê hương
Cần Thơ ơi! Sao cứ mãi vấn vương
Thương chốn đó biết bao là kỹ niệm

Tôi nhớ mãi căn nhà đầy lưu luyến
Khu gia binh  BÌNH THỦY vẫn không quên
Gần hai năm cuộc sống thật giản đơn
Nhưng ấm áp và vô cùng hạnh phúc

Thời chinh chiến đã đi vào tiềm thức
Bao đau thương đổ vỡ của cuộc đời
Chuyện lứa đôi gắn bó chỉ nửa vời
Chợt nghĩ lại không thể nào diễn đạt

Tôi còn nhớ những ngày trời trong mát
Mỗi cuối tuần đầm ấm cạnh chồng con
Bến Ninh Kiều, chợ Bình Thủy, Ô Môn
Địa danh đó tôi vẫn thường lui tới

Rồi hạnh phúc vỡ tan thành mây khói
Giặc tràn về gây tang tóc thê lương
Vợ xa chồng, bao người khóc ly hương
Kể sao hết tháng tư đen dậy sóng

Ôi! Thảm cảnh vẫn còn như ác mộng
Vẫn hằn sâu trong tâm trí mọi người
Cần Thơ ơi! Tôi nhớ mãi không nguôi
Hẹn trở lại –Khi không còn bóng giặc.

                        CẨM NGỌC
                           [2014]

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Thơ | Leave a Comment »

Một Lời Nói Phải

Posted by Webmaster on January 27, 2014

05:32:am 24/01/14 | Tác giả: 

“Khi nào Đảng Cộng còn cầm quyền, khi đó họ còn tiếp tục làm cho công việc hoà giải dân tộc không thể nào thực hiện được.”
Trần V., độc giả Dân Luận

winter wonderland

Tôi thấy trên tờ lịch tháng Giêng năm nay – tại văn phòng khai thuế – ảnh chụp những cành lá tuyết phủ trắng xoá, và bên dưới là một câu ngạn ngữ của người Nhật Bản:

One kind word can warm three winter months: Một lời nói tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông.

Tôi đã trải qua hơn ba mươi mùa Đông (lạnh giá) nơi xứ người nhưng dường như chưa bao giờ nghe được một lời lẽ tử tế nào ráo trọi. Năm nay, may thay, vào những ngày cuối năm (khi nhiệt độ nhiều nơi rơi xuống trừ âm) nhưng tôi vẫn cảm thấy rất ấm lòng vì chợt nghe được một lời nói phải:

“Còn nhiều trang sử cần được mở ra, không chỉ có ở Hoàng Sa, dù ở đâu trên mảnh đất của ông cha, người Việt Nam chỉ nên để súng ống quay về cùng một hướng. Chỉ có hòa giải quốc gia mới có thể phát triển quốc gia. Một dân tộc không thể vững mạnh nếu như lòng người phân tán.”

Đó là kết luận của nhà báo Huy Đức trong bài viết (“Hoàng Sa & Hoà Giải Quốc Gia”) mới nhất của ông, đọc được vào hôm 12 tháng 1 năm 2014:

“Hóa ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”. Phải khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, 19-1-1974, ông Nguyễn Đăng Quang – một thành viên của phía Hà Nội trong “Phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên” thi hành Hiệp định Paris (1973) – mới nhận ra điều này. Họ ở đây là các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bên mà cho đến nay, nhiều người vẫn gọi là phía “ngụy”.

Phải mất 40 năm sau, báo chí nhà nước mới bắt đầu đăng hình bà quả phụ trung tá Ngụy Văn Thà lên trang nhất, sau khi một tổ chức “dân lập” – trung tâm Minh Triết – chứng nhận chồng bà đã “hành động vì biển đảo”. đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG

Posted by Webmaster on January 25, 2014

Nguyễn Văn Thông

Qua ngày Ông Táo về Trời còn 7 ngày nữa thì đến Tết. Phần lớn nước Mỹ chìm trong băng giá. Đồng-bào trong nước còn trong cơn âm-ỉ vùng lên đòi nhân-quyền, nhân-phẩm và những giá-trị chiến-đấu gìn-giữ đất-đai biển đảo của các chiến-sĩ và nhân-dân VNCH. Tôi xin gởi chút tâm-tình đến quí bạn-bè thân-hữu và cả lời nhắn đến những người cộng-sản VN về một ngày Tết trên Quê Hương. NVT

VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG
Nguyễn Văn Thông

“Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông,
Liền vội đứng mở tung cánh chào đón Xuân…”

Tet Hoa daoLà bài hát xuân của ông nhạc-sĩ tài-danh Phạm Duy ám-ảnh tôi đã lâu. Kể ra thì cứ mỗi lần báo-chí đăng những lời tuyên-bố của ông nhạc-sĩ ấy thì tôi lại mất đi nhiều sự quí-mến ông. Nhưng nhiều bài hát của ông hay quá, không thể không hát được. Cái hay về lời làm cho nhạc của ông hay hơn. Thế mà không hiểu sao ông lại có những tuyên-bố không ăn-nhập gì với những tác-phẩm bất-hủ ông đã viết ra. Thành ra nhiều lần tôi thở dài đành lòng với cái triết-lí vụn rằng, ai đóng-góp được bao nhiêu quí bấy nhiêu, làm sao mình đòi ai cũng phải hoàn-hảo được? Ông chắc có cả chục bài hát về mùa xuân, mỗi bài diễn-tả một ý, làm cho mùa xuân có những tình-cảm phong-phú. Giữa các ý xuân, tôi cảm thấy bị giao-động nhất về hình-ảnh một buổi sáng vừa vươn vai thức dậy, nhìn ra đã thấy một trời đầy xuân rực-rỡ; mình vội mở tung cửa để xuân tràn vào.

            Bốn giờ rưỡi sáng, chuông nhà thờ đổ, tôi tung chăn bật dậy chui ra khỏi màn, không cần phải chờ bố mẹ gọi thúc đến ba bốn lần. Tiếng chuông ngày Tết nghe như rộn-rã hơn. Chị em tôi ra bờ giếng sau nhà súc miệng rửa mặt. Hồi ấy ở nhà quê còn quê lắm, chưa có kem đánh răng. Giữa nhà chỉ có chiếc đèn dầu để trên bàn mà nó sáng hơn mọi ngày. Ngọn đèn vàng rọi qua chiếc bóng thủy-tinh mới được chùi rửa trong suốt soi chúng tôi vây quanh chiếc bàn, xúng-xính trong những bộ quần áo mới.

            Con đường cát trắng dẫn đến nhà thờ chỉ lờ mờ dưới chân, nhưng tôi nghĩ cành lá hai bờ dậu bên đường đã xôn-xao thức dậy. Nhà thờ hôm nay thắp đèn măng-xông sáng rực, và đông người hơn cả lễ ngày Chúa nhật. Thế nào ca-đoàn cũng sẽ hát “Mùa đông đã tàn phai, mừng Xuân mới về đây…”.  Nhưng tôi chưa biết mùa đông như thế nào, chỉ nghe bố mẹ kể rằng, mùa đông ở “bên nhà” rét lắm, có năm rét cá chết nổi trắng mặt đồng. Bên Nam không có mùa đông nhưng vẫn có Tết. Sáng hôm nay mùng một Tết, cả làng chúng tôi xong lễ kéo vào nhà xứ mừng tuổi cha xứ. Cha sẽ mừng tuổi cho trẻ con thiếu-nhi mỗi đứa một đồng. Mấy anh chị lớn cũng ngồi xuống chen vào giơ tay lấy tiền mừng tuổi. Sau đó cả nhà chúng tôi về nhà ông bà nội để mừng tuổi ông bà, các cô bác chú dì, và nhận tiền mừng tuổi.

Chúng tôi đã mong ngày Tết cả tháng nay rồi, nhưng mấy ngày gần đây thì thời-gian đi mau quá, chẳng phải mong. Mới hôm qua cả nhà chúng tôi ở nhà ông bà nội với gia-đình các cô, các chú để Tết ông bà và chuẩn-bị cho ngày Tết. Mẹ tôi và các cô, thím lau, xếp bát đĩa ra những cái nia ở một góc nhà, rồi quay nước, rửa thau, nồi nhộn-nhịp bên bờ giếng. Bố tôi và các bác, chú làm một cái dàn để mâm. Các cháu giúp ông bà bổ cau, têm trầu, và đuổi nhau chạy loanh-quanh. Xong bữa cơm tối thì nồi bánh tet banh chungchưng cũng xong. Mọi người vây quanh chăm-chú nhìn từng chiếc bánh nghi-ngút khói được vớt ra. Mỗi chiếc bánh được giơ lên trước khi được xếp vào chiếc mẹt để ép thì đều có vài lời bình-phẩm. Đâu là chiếc bánh này ai gói, có đầy tay hay không, mối lạt buộc có chắc hay không. Đôi khi có ý-kiến chống-đối nhau nhưng bao giờ cũng chấm-dứt bằng ý-kiến của ông nội tôi. May mà cả nồi thế nào cũng có vài cái bánh xấu nhất nên chúng được bóc ra ngay, ông nội chia cho mỗi người một miếng. Thơm ngon hết sức, chẳng thấy ai chê. Sau bữa cơm tối đầm-ấm là bố mẹ tôi cùng các cô chú bác quây-quần thành từng nhóm. Chỗ này oang oác, cạp cạp tiếng gà vịt trước lúc bị cắt tiết. Chỗ kia những bàn tay thoăn-thoắt nhổ lông chung quanh nồi nước nghi-ngút khói. Chiếc cần quay nước trên miệng giếng quay kẽo-kẹt, nước đổ ào-ạt, rồi chiếc thùng lại được thả xuống vù vù. Ánh đèn chỉ thấp-thoáng từng chỗ trên sân nhưng mặt ai nấy rạng-rỡ tươi cười. Các chị, các cô của tôi nom đẹp lắm dù chưa trang-điểm cho ngày Tết. Khoảng Giao-thừa là mọi sự được chuẩn-bị tạm xong cho ngày mồng một Tết.

Xong bữa cơm ngày mồng một Tết, trẻ con chúng tôi theo mẹ bưng đồ lỡi đi Tết các cụ, các ông bà trong làng. Nhà nào cũng tiệc-tùng vui-nhộn. Chúng tôi chỉ cần tiền mừng tuổi và thích đốt pháo. Con gái cùng lớp tuổi của tôi nhiều đứa hôm nay nhìn đẹp quá chừng nhưng tôi chỉ nhìn chúng nó một tí rồi chạy đi chỗ có tiếng pháo. Giấc trưa, nắng đã vàng mặt đường nhưng không thấy ai than nóng như mọi ngày. Người ta đi lại, chào hỏi nhau trong những bộ quần áo ngày Tết trên khắp đường làng là một cảnh đẹp vô cùng. Làng tôi chỉ có những mái nhà tranh nâu ẩn hiện sau những hàng dậu và tàn cây xanh quen-thuộc, nhưng ngày Tết, nó được tô-điểm bằng những màu trắng, đỏ, vàng, tím… khác gì những bông hoa nở rộ. Xa xa, trên con đường từ ngoài quốc-lộ dẫn vào làng, một vài bóng áo mới di-động giữa cái nền xanh của cánh đồng, đẹp như một bức tranh.

Tôi yêu thương cái không-khí Tết trong làng tôi vì nó đẹp, và cũng vì cái tình thân-ái. Hình như trong làng tôi đều có họ-hàng với nhau. Nếu không mang đồ lỡi đi Tết thì bố mẹ tôi cũng đều ghé tất cả mọi nhà để chúc tuổi và ngồi chơi một chốc-lát. Chẳng có nhà nào mà tôi không nhận được tiền mừng tuổi. Trẻ con chúng tôi thỉnh-thoảng có đánh nhau nhưng đều cố dấu không cho bố mẹ biết. Đến Tết gặp nhau là coi như hòa. Người lớn mà cãi nhau đã là chuyện lớn ở làng. Một là cha xứ sẽ tới khuyên-can, hai là hai bên cùng quên đi để làm hòa. Tôi nghĩ, thiên-đàng hẳn là đẹp, nhưng không biết đẹp thế nào, chứ còn ở làng tôi, ngày Tết là đẹp lắm rồi.

Mong Tết bao nhiêu thì tôi lại sợ hết Tết bấy nhiêu. Sáng mồng hai, mồng ba thức dậy vẫn còn háo-hức, nhưng mùng bốn thức dậy tôi đã thấy hơi buồn. Tôi cầu cho Tết đừng đi, Tết cứ còn mãi. Gặp ai trong làng mặc quần áo lam-lũ ra đồng từ sớm là tôi buồn lắm, biết rằng Tết đang ra đi rồi. Tôi thích những tiếng pháo muộn vào những ngày này để gọi Tết trở lại. Tôi mừng khi thấy  vài người họ-hàng ở xa đến thăm, và bố mẹ tôi lại bắt gà vịt làm bữa ăn Tết. Nếu không phải khách nhà tôi thì khách bất cứ ai ở trong làng cũng được, chỉ cần bóng-dáng họ ở trong làng cũng giữ được cái không-khí Tết ở lại với chúng tôi.

Làng tôi chỉ có mặt và có tên trong một quận-lị Miền Nam từ năm di-cư 54 cho tới khi có biến-chuyển chiến-tranh. Ngôi làng ấy đã trở nên ngôi làng kỉ-niệm, yêu-thương, mơ-tưởng của đời tôi. Tôi đi mãi, qua nhiều mảnh đất quê-hương, cũng đẹp lắm, nhưng trong lòng không bao giờ phai được cảnh làng cũ. Ra khỏi nước, tôi càng nhớ hơn, mặc dù ở nơi đây có mùa xuân rực-rỡ và nhất là có mùa đông rét buốt rất rõ-ràng để tôi cảm-nhận khi hát “Mùa đông đã tàn phai”, và “Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Tôi nghĩ phải nói rõ hơn một chút bạn mới tin là có sự thay-đổi nhanh-chóng chỉ qua một giấc ngủ như thế.

Chỗ tôi ở là vùng đông bắc nước Mỹ, mảnh đất định-cư đầu tiên của những người Pilgrims trên chiếc tầu Mayflower đi từ nước Anh tránh bão tuyết cập bến, rồi định-cư luôn, khoảng 400 năm trước. Đó cũng là lí-do vùng này được gọi là New England. Vùng đất này so với những vùng đất sau của nước Mỹ thì nhỏ bé nhưng lại màu mỡ, khí-hậu bốn mùa rành-rẽ, cây-cối xum-xuê. Có lẽ loại cây phổ-thông nhất ở vùng này là cây dương (maple) và bạch-dương (white birch). Mùa hè thì cành lá xum-xuê, và có điều đáng chú ý là từ đầu xuân đến cuối hè, cây-cối phát-triển nhanh như thổi, như ta có thể nhìn thấy chúng lớn lên.

Thu đến, lá đổi màu, cũng ào-ạt như thiên-nhiên được đổ màu lên. Vàng, đỏ, nâu lẫn với màu xanh còn sót lại như trải trên núi đồi tấm thảm hoa mênh-mông màu-sắc, biến những thung-lũng thành vườn hoa rực-rỡ. Đi dưới rừng cây có ánh nắng rọi, màu sắc rực lên lung-linh như lẫn vào không-gian. Một làn gió lay-động rắc những cánh lá chao nghiêng như đàn bướm. Hình như thiên-thai cũng là đây. Nhưng rồi những cơn mưa và những trận bão tuốt hết lá trên cây, chỉ còn cành trơ-trụi.

tet winter-new-englandBây giờ thiên-nhiên chỉ còn màu nâu ảm-đạm. Mặt trời buổi chiều cũng lặn đi vội-vã. Gió lạnh cắt da. Những trận tuyết đổ về mù-mịt. Thiên-nhiên chết cóng. Nhiều khi cả một rừng cây đóng băng như rừng nước đá. Thế nhưng thiên-nhiên không chết. Thiên-nhiên vẫn sống tiềm-tàng. Cách khoảng giữa những trận tuyết, các cành cây vẫn rung-rinh sức sống dù trơ-trụi. Ở các đầu cành, các búp cứ tròn dần. Một buổi sáng cuối đông, ngoài vườn còn lớp băng tuyết che kín, thế mà những búp thủy-tiên đã chui lên xòe cánh hứng ánh mặt trời.

Lúc này những búp trên đầu cành đã có màu. Cây anh-đào với hàng trăm, hàng ngàn búp loáng-thoáng hồng tạo nên đám mây hồng phủ trên tàn cây. Đám mây trắng trên tàn cây lê. Rồi mây xanh, mây tím đậu đó đây. Bỗng một ngày đầu xuân, một luồng gió ấm đẩy lùi cái lạnh của cuối đông, hàng trăm ngàn búp nụ đua nhau xòe cánh rực-rỡ.

Sự thay-đổi thời-tiết ở đây đột-ngột lắm, mỗi ngày có thể cách nhau đến vài chục độ. Một ngày ấm như mùa hè có thể xảy đến ở cuối đông. Đã có năm hoa thi nhau nở sớm, rồi bỗng bị một trận tuyết đổ xuống làm cả thiên-nhiên run-rẩy. Do những đột-ngột của thời-tiết như thế mà tôi cảm-nhận được rõ-ràng có những “buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Thay-đổi lắm, rạo-rực lắm. Xung-quanh ta thế-giới cũ như không còn. Chúng ta đang bước vào một thế-giới mới, đang bước vào tương-lai.

Đã bao nhiêu mùa xuân tôi sống trong những cảm-nghĩ đó. Mùa đông, năm cũ, những cay-đắng, thất-bại và buồn-bực chỉ còn thuộc về quá khứ. Nắng xuân và tương-lai rực-rỡ đang ùa vào nhà, vào lòng. Nhưng có nỗi ư-tư như những mành tơ vướng-víu. Quê-hương Việt Nam của tôi có bao giờ, cho tới bao giờ có nắng xuân và tương-lai rực-rỡ tràn vào? Mấy chục năm qua, mấy chục cái Tết nhưng vẫn chỉ là những cái Tết đắng-cay. Con gái xa nhà vì phải bán thân phương xa. Chồng xa vợ xa con vì phải bán sức lao-động cho ngoại-bang. Con nít xa quê vì phải về thành-phố, nếu sống được lương-thiện nhất là đi ăn-xin hay bán vé số.

Tôi mơ một ngày quê-hương vừa tỉnh giấc đã thấy tàn đông, một ngày người cộng-sản đồng lòng tuyên-bố quay về với dân-tộc, quăng đi cái xã-hội chủ-nghĩa. Áp-bức, dối-trá, nghèo-đói, thiếu nhân-phẩm bị đẩy lùi về quá-khứ. Cánh cửa quê-hương mở tung ra để nắng ấm của chân-thực, của nhân-phẩm, tình yêu-thương, tự-do và tương-lai rực-rỡ ùa vào. Đó là cơ-hội duy-nhất và đẹp nhất người cộng-sản có thể làm cho quê-hương dân-tộc. Đồng-bào sẽ mở rộng vòng tay đón họ như đón những người con lầm-lạc trở về. Họ sẽ làm nên lịch-sử, và làm cho thế-giới phải ngưỡng-mộ nếu họ làm được như vậy. Hãy làm đi, những ngày dài tăm-tối, đông-giá trên quê-hương đã quá nhiều rồi. Hãy làm cho cả quê-hương và người Việt khắp năm châu một buổi sáng thức dậy thấy bừng ánh sáng tự-do tràn vào.  Hãy thổi nắng ấm cho quê-hương một mùa xuân. Hãy làm cho khắp đất nước một cái Tết đẹp tình thân-ái.

Để chờ ngày ấy, chúng ta hãy chuẩn-bị những búp sự thật, những nụ nhân-ái, nụ yêu-thương, và đọt mầm nhân-cách chuẩn-bị trong mùa đông để nở tung cánh tạo mùa Xuân cho quê-hương yêu-dấu, một mùa Xuân chắc-chắn sẽ đến.***

tet hoa vang

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn, Z đến A | Tagged: , | Leave a Comment »

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn … Người vợ lính ở Thủ Đức.

Posted by Webmaster on October 16, 2013

Bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975.

Giao  Chỉ.

Đám cưới nhà quê. Chuyện người vợ

Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức.

Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ. Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện. Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai.                                                                                                                      Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính. Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong dinh tỉnh trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người tử tội. Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn. Dù thăng cấp, dù thắng hay bại, dù sống hay chết, chồng cô vẫn là người anh hùng. Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính. Anh lính đầu đời chinh phụ của cô lúc lấy nhau đeo lon trung sĩ và khi ra đi đeo lon đại tá. Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính.                                                       Chồng của cô là đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức, sau khi tìm đường vượt biên, đem con trai duy nhất qua Bidong, Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali. Cô may thuê. Bán quán nuôi con. Con trai lập gia đình có 2 cháu. Người vợ lính năm xưa từ 75 đến nay, ở vậy thờ chồng đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu. Suốt đời vẫn nghèo, nghèo từ trung sĩ mà nghèo lên đại tá. Nghèo từ Thủ đức mà nghèo qua Chương Thiện. Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ. Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính.

Một đời chinh chiến. Chuyện người chồng.

Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938. Xuất thân thiếu sinh quân Gia Định rồi nhập ngũ và lên cấp trung sĩ huấn luyện viên vũ khí tại trường bộ binh. Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh trung sĩ tìm cách tiến thân xin vào học lớp sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế. Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau Hồ Ngọc Cẩn trở thành đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện, hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận. Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn bộ binh. Huy chương và chiến công nhiều vô kể. Suốt một đời chinh chiến từ trung đội trưởng lên đến trung đoàn trưởng, Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang.                          Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn 3 giải tỏa An Lộc. Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 trung đoàn của sư đoàn 9. Tư lệnh quân khu, ông Trưởng nói với ông Lạc sư đoàn 9 đưa 1 trung đoàn nào coi cho được. Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn trung đoàn 15 lên đường. Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc. Anh đại úy đại đội trưởng của trung đoàn suốt mấy tuần dằng co với địch trước phòng tuyến của tướng Hưng tư lệnh An Lộc, nhưng chưa vào được. Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ. Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau. Chỉ có bộ binh của trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến. Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới. A, tay này ngon. Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra, phóng tới phòng tuyến của đại đội. Nhìn ra ông trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào. Cùng với tiền đạo của nhẩy dù, trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc.                      Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng, ông Thiệu hứa cho mổi người lên 1 cấp. Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon đại tá trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc. Rồi ông được đưa về làm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa.                                                          Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng, nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ nên Chương Thiện chưa chịu hàng. Chiều 29 sang 30 tháng 4, tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy.                                                                       Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng, các đơn vị bên ta rã ngũ. Lính tráng từ tiểu khu và dinh tỉnh trưởng tan hàng, đại tá tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí, quân phục cấp bậc đầy đủ.                              Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng, đã được người vợ kể lại cho chúng tôi. Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm.

Giây phút cuối của Chương Thiện,

Bà Cẩn với âm hưỡng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại. Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết.                                                    Bà nói:” Kể lại cho bác rõ, những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân. Đánh nhau ngay trong tiểu khu. Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân. Nhà bị pháo kích. Tuy gọi là dinh tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường. Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài. Đi lẫn vào dân. Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ tỉnh trưởng. Ai cũng tưởng là vợ lính. Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi. Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần thơ. Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ. Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ. Mẹ con vừa đi vừa khóc. Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep, Việt cộng cầm súng vây quanh. Bước xuống xe, anh không chống cự, không vùng vẫng, không nói năng. Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa, giơ tay phất nhẹ. Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con. Chạy đi. Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua. Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại. Thân nhân bên anh Cẩn, mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt. Sợ bị bắt. Được tin anh ra tòa nhận án tử hình. Rồi tin anh bị xử bắn.                                                                    Thời gian anh bị giam gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt. Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về. Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi. Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt. Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt. Bác hỏi em, bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975. Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc nên cũng không có gì mà kể lại. Chúng bịt mồm, bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì. Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy. Vẫn lầm lì chịu bị bắt, không giơ tay đầu hàng, không khai báo, không nói năng gì cho đến chết. Anh làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi đến tiểu khu trưởng. Báo chí, anh em nói gì thì nói, anh Cẩn chả nói gì hết. Bác hỏi em là mồ mả ra sao. Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức. Gia đình không cho em ra mặt. Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được. Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ. Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá.  Rồi đến khi khu này bị giải tỏa nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên. Ngày nay, em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này. Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình.

Cô đi năm nào, tôi hỏi bà Cẩn.  Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 75. Đến 78 thì vượt biên qua Pulo Bidong. Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ. Qua bên này mình chả biết ai, không ai biết mình. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân, mẹ con ở với nhau. Em đi làm nghề may, rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ. Bây giờ cháu trai duy nhất của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con. Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng, tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng.Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác. Nãy giờ nói toàn chuyện buồn, cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới 75, cô có những kỷ niệm nào vui không. Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ. Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi. Toàn lo việc nhà, nội trợ nuôi con. Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo. Từ trại gia binh đến cư xá sĩ quan. Chúng em không có nhà riêng, không có xe hơi, không có xe gắn máy. Từ Sa Đéc trung đoàn 15 qua đến tiểu khu Chương Thiện, toàn là ở trại lính. Tôi hỏi tiếp: Cô có đi dự tiệc tùng, mừng lên lon, thăng cấp, dạ hội gì không. Không, em chả có đi đâu. Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ. Dân chúng cũng không biết em là ai. Mua bán gì em về Cần Thơ, đông người, cũng chả ai biết em là ai. Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc. Lương nhà binh cũng chẳng có là bao. Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo. Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm.

Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm.

Đây là tấm hình gần như duy nhất. Xin bác dung tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử. Tôi nói rằng, tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm. Hoàng mộng Thu có đưa cho tôi xem. Chúng tôi sẽ dùng hình này. Nhưng tôi vẫn gặng hỏi. Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không. Em đâu có biết. Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười. Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh. Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không. Bà Cẩn thật thà nói rằng. Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển. Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu. Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…                                                               Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, dường như sĩ quan, anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu. Chỉ có hàng binh sĩ, chỉ những người lính là chưa có dịp. Hồ Ngọc Cẩn Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ Thủ đức đi Vũng Tàu. Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính. Trong quân đội, dù là tướng tá hay sĩ quan, anh nào mà chả có thời làm lính. Sau đó mới làm quan. Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh, vợ đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời. Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức.    Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ, ở bên kia địa cầu, trên ngọn đồi Tăng nhơn Phú, có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng chủ nhật cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ.

Giao Chỉ, San Jose.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Niệm - Tri Ân | Tagged: | Leave a Comment »

Từ Diễn Biến Hoà Bình Tới Diễn Tiến Dân Chủ

Posted by Webmaster on September 9, 2013

VietThuc LogoLưu Nguyễn Đạt, TS, LS 
September 7, 2013

www.vietthuc.org

Khái niệm “Diễn Biến Hoà Bình”, chuyển ngữ mộc mạc từ “Peaceful Evolution”, nhắc tới một chủ thuyết có tính cách sách lược, phát khởi trong thời Chiến tranh Lạnh, bởi John Foster Dulles,[1] cựu Tổng trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, trong thập niên 1950. Sách lược này chủ trương một [a] “tiến trình chuyển đổi” từ thể chế độc tài toàn trị sang thể chế dân chủ [b] bằng con đườnghoà bình [c] tại các quốc gia cộng sản.[2]

I. Phản Ứng và Lo Ngại của Khối Cộng Sản

Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã chống lại “diễn biến hòa bình” từ năm 1959.[3] Một mặt Mao Trạch Đông chê Nga Xô chuyển mình theo chủ nghĩa xét lại qua chiêu bài “sống chung hoà bình”[4] của Nikita Khrushchev, mặt khác khởi xướng và dùng chiêu bài “Đại cách mạng văn hóa” hay “Văn cách” trong suốt 10 năm từ năm 1966-1976, để loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” — trong đó có đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ — và đánh phủ đầu những đảng viên bất đồng ý kiến khác như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài…

Như vậy, cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản nhằm chặn đứng mối nguy cơ của cuộc ”Diến Biến Hoà Bình” tại Trung Quốc lúc đó, bằng cách đè bẹp những kẻ hữu khuynh muốn phá bỏ cấu trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội…[5]

Kể từ Mao Trạch Đông, nhà cầm quyền CS Trung Hoa luôn luôn coi “Diễn Biến Hoà Bình” là mối đe doạ lớn nhất cho sự duy trì của chế độ cộng sản trong nước và tại khu vực.

Thật vậy, Đặng Tiểu Bình dù có ý định cổ võ phong trào xét lại Cách mạng Văn hóa, nhưng khi phong trào này kêu gọi “cải tổ dân chủ”, thì lập tức Đặng Tiểu Bình ra lệnh Quân Đội Nhân Dân Cách Mạng dẹp đám sinh viên, trí thức tụ tập biểu tình tại Bắc Kinh và sau đó gây ra vụ thảm sát tại quảng trường Thiên An Môn trong năm 1989.  Những cuộc đụng độ này đã khiến 800 dân thường thiệt mạng, 10.000 người bị thương.

Và gần đây, ngay đầu năm 2012, Hồ Cẩm Đào với tư cách Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kêu gọi [a] chống lại “sự xâm nhập tư tưởng và văn hóa” của các “thế lực thù địch, [b] đồng thời thắt chặt kiểm soát tư tưởng để đàn áp các tiếng nói bất đồng.[6]

Tại Việt Nam, khái niệm “Diễn Biến Hoà Bình” cũng được coi như là một trong những mối đe dọa lớn nhất tới sự tồn tại của Đảng Cộng sản. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Diễn biến hòa bình là một trong những chiến lược có ý nghĩa và phạm vi toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động được hình thành từ những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 và hoàn chỉnh ở thập kỷ 80 của thế kỷ XX nhằm chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc và phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới.”[7]

Vịn cớ vào hiện tượng đó, CSVN coi các tiếng nói đối nghịch, các hoạt động cá nhân hoặc phong trào vận động dân chủ, nhân quyền trong và ngoài nước là các hành vi “tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam”, hoặc vi phạm pháp luật Việt Nam.[8]

II. Những Đợt Diễn Biến Hoà Bình Trong Khu Vực Cộng Sản Quốc Tế

Sau hơn nửa thế kỷ thử thách, “Diễn biến hòa bình” đã vượt ra khỏi vị trí khái niệm/dự đoán để quy tụ thành một trào lực bất khả cưỡng, làm lung lay những “màn thép” và xập đổ những “bức tường” ô nhục vây quanh không gian chuyên chế, độc tài toàn trị cộng sản Châu Âu.

Thật vậy, sau nhiều đợt thi đua trang bị vũ khí thời Hậu-Đệ-Nhị-Thế Chiến, chủ trương đầu tư quân sự và trường kỳ kháng chiến theo cách mạng vô sản không còn là giải pháp thực tiễn để phát triển quốc gia thuộc khối cộng sản Châu Âu.

Ngay giữa “Chiến tranh Lạnh”, vào năm 1956 tại Đại Hội thứ 20 Xô Viết Nga, Khrushchev đã khai mào đường lối “Sống Chung Hoà Bình”[9] giữa hai siêu cường quốc Hoa Kỳ và Nga Xô, cũng như giữa NATO (Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương)[10] và Warsaw Pact (Khối  liên minh quân sự các nước XHCN) [11]với chủ đích:

  • giảm thiểu áp lực thù địch, tránh bỏ chiến tranh hạt nhân [12] giữa hai Khối Tự Do và XHCN;
  • tham dự những cuộc nghị hội chủ trương hoà bình;
  • mặc nhiên chấm dứt tham vọng trực tiếp xâm chiến thế giới tự do bằng bạo lực “Hồng Quân”;
  • và hầu như xét lại nguyên tắc căn bản của cuộc cách mạng vô sản theo XHCN.

Chủ trương “Détente” –Thư giãn/Bớt Căng Thẳng– này đã đưa đến những cuộc Thảo luận Hạn chế Vũ Khí Chiến lược [13] phần nào “ăn khớp” với chủ thuyết “Diễn Biến Hoà Bình”, dù bị Trung Cộng coi là phản bội Cách Mạng Vô Sản.

Cuối cùng, phần nào do âm vang thôi thúc của những cuộc biểu tình đòi dân chủ tự do tại Trung Quốc, dù biến cố này thất bại bằng cuộc thảm sát ngày mùng 4 tháng 6 năm 1989 tại quảng trường Thiên An Môn, Hiện tượng “Diễn Biến Hoà Bình” vẫn thêm khẩn trương, dồn dập qua những cuộc chính biến liên tiếp giải thể chế độ cộng sản tại Châu Âu, đưa tới hiện tượng xô đổ “domino effect” như sau:

  • Tại Ba Lan, Phong trào Công đoàn Đoàn kết [Solidarity Polish: Solidarność] đã toàn thắng tại Hạ Viện và Thượng viện và sau đó thành lập một chính phủ Phi Cộng sản mới vào tháng Chín năm 1989.[14]
  • Tại Hungary, ngày 20 tháng 10, Quốc hội đã thông qua luật cho phép bầu cử quốc hội đa đảng và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp. Cộng hòa Nhân dân cũng đã chuyển thành Cộng hòa Hungary, theo thể chế tam quyền phân lập.[15]
  • Tại Đông Đức, sau khi bức tường Berlin bị phá xập vào ngày 9 tháng 11 năm 1989, chế độ độc tài của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa [Socialist Unity Party (SED)] đã kết thúc, đưa tới sự thống nhất của Đông và Tây Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990.[16]
  • Tại Tiệp Khắcsau cuộc “Cách mạng Nhung” bất bạo động trong tháng 11 năm 1989, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc công bố từ bỏ nhà nước độc đảng và Václav Havel được chọn làm Tổng thống Tiệp Khắc vào ngày 29 Tháng 12 năm 1989.[17]
  • Tại Bulgaria, Đảng Cộng sản đã tự giải thể trong tháng 2 năm 1990 nhường chỗ cho cuộc bầu cử tự do đầu tiên vào tháng 6 năm 1990.[18]
  • Tại Romania, đầu năm 1989, Ceauşescu được bầu lại lãnh đạo Đảng Cộng sản để đương đầu với cuộc nổi dậy trong nước. Nhưng  ngày 22 Tháng 12, quân đội Rumania đột nhiên chuyển hướng sát nhập với đám biểu tình để lùng bắt Ceauşescu và vợ ông, Elena.  Vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1989, Ceauşescus bị xét xử và lãnh án tử hình. [19]
  • Tại Nam Tưsau cái chết của Tito vào năm 1980, Nam Tư đã phải đương đầu với nhiều căng thẳng sắc tộc. Vào tháng Giêng năm 1990, Đại hội bất thường của Liên đoàn của Cộng sản Nam Tư đã được triệu tập để trên thực tế tự giải thể. Cấp lãnh đạo các sắc tộc Slovenia, Croatia, Macedonia, Bosnia, Herzegovina, Serbia, Montenegro, Kosovo tiếp diễn kế hoạch ly khai khỏi liên bang Nam Tư để giành độc lập, tuần tự từ nằm 1991 tới 2008.[20]
  • Tại Liên Bang Xô viết
    Để thoát khỏi tình thế ứ đọng suy thoái, Tổng Bí Thư Liên Xô Mikhail S. Gorbachev ngay từ năm 1985 đã đề xướng hai chường trình “đổi mới”:[21]

    – 
    Perestroika” [“restructuring”) hay chính sách “cải tổ” nhằm tạo thêm tự do về mặt chính trị, kinh tế và tôn giáo.
     “glasnost” (“openness”/”transparency”) hay chính sách công khai hoá và minh bạch hoá các hoạt động của những cơ quan nhà nước nhằm [a] tạo tự do thông tin và ngôn luận cho đại chúng [b] thêm khả năng giúp giảm nạn tham nhũng và lạm dùng quyền lực của Trung ương Đảng.

Những biện pháp trên, hoặc quá muộn, hoặc phiến diện, hạn hẹp, nên dần dần gây thêm [a] bất mãn nơi đại chúng, [b] tranh chấp nội bộ và [c] sự tan rã của Liên Bang Xô Viết.

Kể cả những bức “màn tre” bao vây Khu vực Cộng sản Châu Á[22] cũng dần dà bị rách toạc, chuyển biến từ cảnh lạc hậu bế-môn-toả-cảng sang thế thị trường hé mở mánh mung.

Thật vậy, sau những cuộc chiến tranh “bán cái/đánh hộ”[23]và “viễn khiển/be bờ”[24] tại Cao Ly và Việt Nam, chủ trương đầu tư quân sự khu vực hay trường kỳ kháng chiến theo cách mạng vô sản quốc tế cũng không còn là giải pháp thực tiễn để phát triển quốc gia thuộc Khu vực Cộng sản Châu Á nữa.  Do đo, CSVN và CSTQ lập tức chuyển hướng chính sách cai trị.

Trước tiên, ngay sau khi trở lại chính trường, năm 1978 Đặng Tiểu Bình tung ra chương trình “Bốn hiện đại hóa” và để cho dân dán “Đại tự báo” chống đối sai lầm của cuộc Cách Mạng Văn Hoá.

Năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, tạo dựng lòng tin với Hoa Kỳ để hưởng viện trợ về công nghệ và khoa học kỹ thuật.  Ngay sau đó, Đặng Tiểu Bình đã cải cách đất nước theo hướng “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”, dưới hình thức “kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa”, với những trạng thái dị hình như sau:

1.  nền tảng kinh tế hỗn hợp;
2.  chủ lực quốc doanh [doanh nghiệp do “Nhà Nước/Đảng” sở hữu hay sát nhập vào quyền lợi Đảng và Lãnh tụ];
3.  gia nhập kinh tế thị trưởng toàn cầu để thêm cơ hội vơ vét, dụng võ cho giai cấp tài phiệt quốc doanh;

4.  hậu quả: chế độ độc tài chuyên chính [chính trị độc đảng] đã diễn biến/chuyển thành đảng phiệt tư bản đỏ [25] khi tập đoàn tài phiệt CSTQ độc chiếm thị trường.

Trước đà “diễn biến” phương Bắc, Việt Nam lập tức mượn gió bẻ măng, cũng tự diễn biến theo diện “Đổi Mới” [26] sao y bá đạo “Kinh tế Thị Trường theo hướng Xã Hội chủ Nghĩa” với những nhập nhằng chủ mưu chiếm đoạt như sau:

1.  Tư hữu của dân thành quốc hữu;
2.  Quốc hữu thành tài sản của Đảng;

3.  Tài sản của Đảng được hoá giá thành tư sản của cấp Lãnh Đạo/Đại gia/Tài phiệt Đỏ [27]; Với hiệu ứng tất nhiên phân tách xã hội thành hai khối: thiểu số cầm quyền cực kỳ giầu có, tham nhũng, mánh mung đối mặt với đại chúng bị trị, cực kỳ nghèo khổ, thất thế, bất lực, bó tay, sống còn trong vòng luẩn quẩn tha hoá, vô định.

III. Diễn “Biến” Hoà Bình hay Diễn “Tiến” Hoà Bình

Vậy, nếu chỉ muốn chuyển ngữ và quan niệm “Peaceful Evolution” ở mức độ “Diễn Biến Hoà Bình” thì đó là một ngộ nhận vĩ đại, và cũng là một trạng thái chẳng đặng đừng trong một khung cảnh xã hội đổ vỡ, bất toàn, tranh sáng tranh tối.

Thực chất giới lãnh đạo cộng sản chỉ đủ sở trường quan niệm “Peaceful Evolution” ở mức độ tiêu cực hay thụ động:

1.  Như một mối đe doạ cho ý thức hệ của họ, nên cuống cuồng chống đối, vùng vằng phản kháng như đỉa phải vôi;
2.  Nhưng nếu thấy suy nhược trong thế cổ thủ, cô lập, thì lại sẵn sàng tìm cách khúm núm, ăn có với địch cốt để sống còn.  Như Đặng Tiểu Bình đã làm, như cấp lãnh đạo Hànội đang làm: cúi đầu nhận tiếp viện, súng ống, kỹ thuật, tài lực Tây phương như liều thuốc “diễn biến” cải tử hoàn sinh…cho “đảng, cho mình”. Thế thôi.
3.  Do đó trí tuệ mánh mung lẫn khôn ngoan xảo quyệt của giới lãnh đạo CS không vượt ra khỏi tầm hiểu biết tham lam, vị kỷ, vị đảng của họ, nên chẳng bao lâu “diễn biến đổi đời-đổi mới” của họ lại luẩn quẩn ứ đọng trong ao tù thịnh vượng giả tạo, tham nhũng; cướp bóc, nuốt chửng lẫn nhau.
4.  Hiện tượng diễn-biến-phát-tài-tự-nổ đang xẩy ra ở mọi môi trương kinh doanh tập trung, mọi mặt đầu cơ đảng phiệt mafia gia truyền tại Trung Quốc, như tại Việt Nam.  Cấp lãnh đạo tài phiệt đỏ Chấu Á bề ngoài thì lừa dân, bề trong nội đình thì lừa đảo lẫn nhau.

Có hiện tượng sai lầm như vậy vì quan niệm “Diễn Biến Hoà Bình” vỏn vẹn thể hiện ở cấp lãnh đạo quốc gia, nên chỉ có tính cách chuyển biến tiêu cực và thụ động [negative & passive transformation].  Cấp lãnh đạo cộng sản quốc tế đã cho thấy rõ chính sách cai trị và quản trị của họ chỉ là những chắp nối thủ đoạn phá hủy, rồi tự phản, tự phá.

Ngược lại, lời kêu gọi về “Peaceful Evolution” của John Foster Dulles cần được xác định một cách chính xác, tích cực và chủ động, vì:

1. “Evolution” không phải là “diễn biến”, “thay đổi”, “biến đổi” [Transformation] vô định, luẩn quẩn, ngược xuôi, xuôi ngược.  Như với trò chơi block-lego gọi là “transformer”, trẻ em có thể biến đổi các cục lego thành người, rồi thành xe, thành nhà, hay ngược lại. Từ vuông biến đổi thành tròn, từ tròn thay đổi thành dài, bẹt, ngang, thẳng, muôn hình vạn trạng v.v  Tất cả những trạng thái hoán chuyển/diễn biến đó chỉ có thể được gọi là “thay đổi/transformation” hay “biến dạng/déformation”, chứ không là  “Evolution”.
2.  Vì  muốn có  “Evolution” thì sự đổi thay phải đưa tới “tiến hoá”, “tiến triển”, phát triển” [progression/growth] từ thô sơ, hà tì thành tinh vi, toàn hảo; từ thấp kém thành tiến bộ, thăng tiến v.v.

3.  Do đó “Peaceful Evolution” phải được dịch là “Diễn Tiến Hoà Bình”, chỉ đạt được bằng một sự lựa chọn tích cực, phù hợp, nhằm cải tiến, tăng trưởng [Selection / Adaptation/Improvement] một môi trường, một thể chế.

Như theo “Thuyết Tiến Hoá” [Evolutionism], loài khỉ dần dà diễn tiến thành loài người đứng thẳng, rồi tiến triển thành con người biết suy nghĩ– có tư tưởng, tâm linh, có văn hoá, có sáng tạo, mỗi lúc mỗi toàn hảo, tinh vi, tiến bộ.  Do đó khi con người bị các chế độ bất nhân, dã man đầy đoạ thành súc vật, ngủ ở chuồng heo, ăn cám — đổi đời/diễn biến/transformed” thành nô lệ vô sản, nô lệ cuồng tín, nô lệ tư tưởng, nô lệ lao động, nô lệ tình dục, thì “diễn biến” [transformation] đó chỉ có nghĩa là suy thoái, là thụt hậu, là tận cùng tha hoá, tàn phá nhân bản khác hẳn với “peaceful evolution”, với “tiến hoá hoà bình” mà John Foster Dulles mong quảng bá; mà con người chân chính vẫn muốn thực hiện.

IV. Vậy làm thế nào có “Diễn Tiến Hoà Bình/Peaceful Evolution” trong một quốc gia còn theo chủ nghĩa cộng sản như Việt Nam?

Như đã định nghĩa sơ khởi, sách lược “Peaceful Evolution” chủ trương một [a] “tiến trình chuyển đổi” từ thể chế độc tài toàn trị sang thể chế dân chủ [b] bằng con đường hoà bình [c] tại các quốc gia cộng sản.

Muốn thấy Việt Nam thực sự “diễn tiến hoà bình” thì phải xác định mức độ “Diễn tiến dân chủ” hay “Dân Chủ Hoá” một cách tích cực, chủ động.

Khi mục tiêu là Dân Chủ, thì việc đầu tiên phải hoàn trà cho toàn dân vị trí nguồn gốc của mọi trào lực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, sáng tạo.  Dân tộc đại chúng bất phân kỳ thị phải là cứu cánh của mọi phúc lợi, an ninh và luật pháp quốc gia, trên căn bản công bằng về quyền lợi và trách nhiệm.

Do đó, những điều kiện dân chủ hoá cần thiết dưới đây phải hội đủ trên bốn bình diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá:

1. Bình Diện Chính Trị và Công Quyền

Tiên quyết, chế độ CSVN và mọi hình thức độc tài đảng phiệt, tập đoàn chuyên chính, quân phiệt và tài phiệt tại Việt Nam phải tự giác, nhận giải thể một cách sòng phẳng, toàn diện, để  tiến hoá hội nhập một thể chế pháp trị, đa đảng, tuần hoàn đại diện dân trên căn bản tam quyền phân lập.  Theo hình thức chấp chính này, toàn dân sử dụng quyền lực chính trị hay dân quyền để bầu cử và kiểm soát chính phủ.  Do đó, chính thể dân chủ có trọng trách thi hành việc nước theo ý dân, phục vụ qua sự ủy thác của dân: nhà cầm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp được dân chúng chọn để ủy thác quyền chấp chính, để gián tiếp đôn đốc, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của chính người dân.

Vậy quyền chính trị, công quyền, sứ mạng đảng phái chỉ có tính cách đại nhiệm [28] chứ không có tính cách chấp hữu [29].  Đó là đại diện dân và đại nhiệm quyền lợi của dân. Vì căn bản dân là thân chủ, là sở hữu chủ của quyền lợi giao phó.

Mọi hình thức vượt hay chống lại quyền “ủy nhiệm/đại nhiệm” trên sẽ phải coi là lạm quyền và tiếm quyền [30], làm mất tính cách chính thống/chính đáng [legitimacy] của nhà cầm quyền, của đảng phái chấp chính.  Những thành phần nhiệm chức vi phạm quyền hành, vị phạm luật pháp sẽ bị tố cáo, thanh trừng, cách chức [31].

Vậy, mọi thế lực công quyền, chính trị, đảng phái phải thượng tôn luật pháp hiến định; sinh hoạt một cách công minh, chân chính, tương xứng; nhằm phục vụ phúc lợi và tương lai dân tộc; bảo trọng sự vẹn toàn và khả năng phát triển của lãnh thổ, thiên nhiên và tân tạo.

Quyền tư hữu phải được xác định một cách công minh, nghiêm túc, sòng phẳng để giải quyết mọi bất công, oan ức của người dân trước đây và sau này.

Quyền tư hữu phải được phối hợp chặt chẽ với dân quyền và nhân quyền, một cách liên tục, bất khả tước đoạt, dưới mọi hình thức, mọi điều kiện khả thi.

2. Bình Diện Kinh Tế Và Kinh Doanh

Việt Nam cần xác định và bảo trọng một chính sách kinh tế mở, phục vụ người dân trong nước, qua sự hợp tác đa phương về mặt kinh doanh và phát triển quốc gia bằng cách:

[a] bác bỏ chế độ quản trị quốc doanh để tránh mọi hình thức thao túng độc quyền kinh doanh, độc chiếm thị trường [32] vốn là những nguồn gốc của bế tắc kinh tế và tham nhũng dây truyền.

[b] tăng trưởng hệ thống kinh doanh tư, trên căn bản

  • tự do thương nghiệp, đầu tư theo sáng kiến kinh doanh;
  • cung ứng nhu cầu tiêu thụ và ý muốn của người dân.

(c)  tăng  trưởng hệ thống kinh doanh nhân bản:

  • tiêu chuẩn hoá đạo đức nghề nghiệp [professional ethics];
  • tiêu chuẩn hoá đạo đức kinh doanh [Corporate social responsibility];
  • tái dụng và chuyên môn hoá nhân công;
  • đa dạng hoá quyền lợi của giới lao động
  • bảo vệ môi trường;

(d)  hệ thống hoá kinh doanh kết sinh:

  • theo tiêu chuẩn phát triển quốc gia và địa phương;
  • theo tiêu chuẩn hợp tác khu vực;
  • theo tiêu chuẩn thị trường toàn cầu;

(e)  kết hợp thực lực chính trị, kinh tế và kinh doanh một cách ôn hoà, cân nhắc quyền lợi tư nhân và bổn phận nghề nghiệp, sáng kiến và trách nhiệm kinh doanh, nhằm phục vụ công ích và tiến bộ nhân loại.

3. Bình Diện Xã Hội và Tổ Chức Xã Hội Dân Sự

Con người tự do có quyền và trách nhiệm tụ họp; đóng góp khả năng, trí tuệ và tâm linh khi phục vụ xã hội, bằng cách tự nguyện đoàn ngũ hoá thành tổ chức xã hội dân sự [XHDS], dưới hình thức tổ chức bất vụ lợi, độc lập, hoặc tổ chức phi chính phủ, để hoạt động trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, từ thiện, giáo dục, tôn giáo, nghề nghiệp, điều nghiên, văn học, nghệ thuật, các phong trào dân vận bảo trọng nhân quyền v.v.

Khi tự nguyện thành lập đúng theo khuôn khổ và thủ tục pháp định, tổ chức XHDS có dịp công khai, minh bạch hoá mục tiêu và sứ mạng theo đuổi, với kết quả đóng góp thế lực và ảnh hưởng dân chủ trong lĩnh vực sinh hoạt cộng đồng.

Sinh hoạt hợp pháp của tổ chức XHDS cũng cho phép lượng giá hệ thống công quyền hiện hữu là dân chủ tự do nếu tôn trọng hoạt động chính thống của XHDS, còn không sẽ phải coi là chuyên chế, phản dân chủ, khi cấm đoán, kìm kẹp, kiểm soát các tổ chức tập thể này.  XHDS phải được minh thị tôn trọng như một nhu cầu chính đáng của dân, do dân, vì dân.  Mọi hình thức tổ chức XHDS khác đều có tính cách trá hình, lươn lẹo, vừa phản động ngược chiều, vừa vô hiệu, phí phạm nhân lực, tài lực.

Nhiều thống kê đã cho thấy, mức độ tăng trưởng về dân chủ chân chính đưa tới tình trạng gia tăng lợi tức quốc gia và tức nhiên gia giảm cảnh nghèo khó trong xã hội đó.  Tuyệt nhiên, xoá đói giảm nghèo không thể thực hiện bằng chính sách a tòng tài phiệt ngoại bang bóc lột nhân công, xuất khẩu lao động, bán dâu cho ngoại quốc.

Ngoài các yếu tố tư bản và kỹ thuật tân trang, phương thức đầu tư nhận sự một cách thiết thực, lâu bền, cùng thể thức tôn trọng pháp luật, bảo trọng quyền tư hữu và tự do mậu dịch vẫn là những thành tố của một môi trường hữu hiệu trong việc xoá đói giảm nghèo, với sự phối hợp viễn kiến, lòng bác ái nhân từ của thế lực đa phương phục vụ quyền lợi và nhu cầu nhân dân.

Hơn nữa, trong một xã hội vững bền, đầy đủ tiện nghi, có văn hoá nhân bản bình đẳng, bình quyền, bình sản, tôn trọng pháp luật, bảo trọng nhân phẩm thì nạn tham nhũng sẽ giảm thiểu tối đa.

4. Bình Diện Văn Hoá Sáng Tạo

Dân chủ tự nó không có ý nghĩa gì cả. Nó không phải là một tặng dữ có sẵn, bất biến, cho không, biếu không, như quả sung văn minh rụng xuống miệng người tiêu thụ.  Dân chủ chỉ khởi phát khi chính quyền và người dân ở mọi tầng lớp trong nước [a] thực sự quan tâm tới dân chủ, [b] có nhu cầu và khả năng hội nhập một nền văn hoá dân chủ,[33] với chủ trương:

1.  bảo trọng và phát huy một nền văn hoá  đa dạng trên căn bản tương nhượng, đối trọng, bình đẳng, không cho phép bất cứ truyền thống, tư tưởng, tín ngưỡng nào trở thành độc tôn, độc chiếm ảnh hưởng, hay có ưu thế lấn át những thành tố khác.

2.  bảo trọng và phát huy một nếp sống hội nhập sinh hoạt dân chủ, tự do, cởi mở, không quá khích, mà quyền lợi và trách nhiệm phải đối xứng, cân bằng.

3.  bảo trọng và phát huy một đạo sống tự lập, tự giác, có khả năng hội nhập công ích và quyền lợi chung một cách công bằng, tự nguyện, không bị áp lực, kìm kẹp.

4.  bảo trọng và phát huy một tư duy đối tác, một quan niệm lãnh đạo tự kiểm, tự trọng, nhận lãnh trách nhiệm, không ỷ lại, đổ thừa.

5.  bảo trọng và phát huy một nền giáo dục toàn diện, đào tạo công dân toàn cấp [a] đầy đủ kiến thức sáng tạo, [b] tôn trọng luật pháp, [c] có ý thức căn bản của một xã hội dân sự trưởng thành, tự duy, tự phát [c] có tự do và khả năng tranh luận, đối kháng, [d] có khả năng và trách nhiệm quyết định trong sáng, hoạt động minh bạch.

6.  trau dồi đạo sống kết sinh những truyền thống cũ và mới có giá trị diễn tiến nhân bản, [a] về mặt kiến thức sáng tạo và kỹ thuật cập nhật, [b] về phúc lợi vật chất, tâm linh khả ứng nhu cầu địa phương, khu vực và toàn thế giới, trên đà hội nhập và tiến hoá nhân loại.

7.  xác định dân chủ [a] vừa là một hứa hẹn phát huy tự do và phẩm giá nhân bản khi thực thi công bằng cá nhân, xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, [b] vừa là mộtthách đố tích cực khi lịch trình tiến hoá đưa tới thành quả của nền dân chủ lại do chính người dân – đại chúng thuộc mọi giới, mọi khả năng, mọi xu hướng – đạm nhậm, thực hiện, không ai khác, không sao hơn.

Để Tạm Kết

Trước thời điểm kết thúc chế độ cộng sản tại Châu Âu vào năm 1989, trong lúc Đông Đức còn ra uy cử hành kỷ niệm 40 năm thống trị, Gorbachev khi tới tham dự đã cảnh cáo lãnh tụ Erich Honecker sớm cải cách giải thể: “Ai chậm trễ sẽ mất mạng” [Wer zu spät kommt, den bestraft das Leben/He who is too late is punished by life).[34] Chắc chắn ngày hôm nay, các lãnh tụ CSVN cũng đã từng nghe những lời nhắn nhủ, cảnh cáo tương tự, trong và ngoài nước.

Phải chăng gần đây những lời tuyên bố lập đảng Dân Chủ Xã Hội của hai ông Lê Hiếu Đằng và Hồ Ngọc Nhuận

  • là những phát biểu cá nhân phản tỉnh; những phản kháng leo teo, lạc lõng, rồi nín bật;
  • hay là ý nguyện chung của “cánh ly khai” đảng CSVN mỗi lúc mỗi ồ ạt để thực sự trở thành lực lượng đối lập;
  • hay là lời mở đường cho giới lãnh đạo chuẩn bị giải thể chế độ CSVN để tự lột xác sống còn dưới trướng dân tộc tự quyết.

Cựu Tổng Thống Nga Boris Yeltsin đã từng tuyên bố: ”… Người Cộng sản bất trị, không có thuốc chữa, mà phải trừ tiệt” (Communists are incurable, they must be eradicated). Sớm muộn gì chế độ CSVN độc tài toàn trị sẽ phải giải thể hay tự hủy trước phong trào diễn tiến dân chủ.

Riêng đối với đại chúng — mọi thế hệ, mọi giới, mọi khả năng, mọi xu hướng — khi đã ý thức nhu cầu cấp bách của đại cuộc vận chuyển theo hoài bão và tương lai dân tộc, sự chậm trễ nhập cuộc diễn tiến dân chủ chân chính, có tự do và nhân quyền, là một lỗi lầm lịch sử cần phải chấm dứt kịp thời.

TS.LS. Lưu Nguyễn Đạt
cập nhật Sep 5, 2013

www.vietthuc.org

[1] John Foster Dulles (February 25, 1888 – May 24, 1959) served as U.S. Secretary of State under President Dwight D. Eisenhower from 1953 to 1959. He was a significant figure in the early Cold War era, advocating an aggressive stance against communism throughout the world.

[2] Asia Times Online: Hu warns successors over “peaceful evolution”’

[3] 1959: Preventing Peaceful Evolution | China Heritage Quarterly

[4] The Soviet theory of peaceful coexistence asserted that the United States and USSR, and their respective political ideologies, could co-exist together rather than fighting one another.  See endnote #9.

[5] Michael Schoenhals, ed., China’s Cultural Revolution, 1966-1969: Not a Dinner Party(Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe, 1996. An East Gate Reader). xix, 400p. ISBN 1563247364.; MacFarquhar Roderick and Schoenhals, Michael. Mao’s Last Revolution. Harvard University Press, 2006. ISBN 0674023323

[6] Bài phát biểu của Hồ Cẩm Đào đã được xuất bản bởi tờ Tìm kiếm Sự Thật, một tạp chí hàng đầu của ĐCSTQ do Trường Đảng Trung ương điều hành, trong ấn bản đầu tiên của mình cho năm 2012.

[7] T.Huyền, “Phòng, chống “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 9 tháng 3 năm 2009.

[8] BBC Vietnamese – Việt Nam – Diễn biến hòa bình, May 27, 2009.

[9] Khrushchev solidified the concept in Soviet foreign policy in 1956 at the 20th Congress of the Communist Party of the Soviet Union. The policy arose as a temptation to reduce hostility between the two superpowers, particularly in light of the possibility of nuclear war. The Soviet theory of peaceful coexistence asserted that the United States and USSR, and their respective political ideologies, could co-exist together rather than fighting one another, and Khrushchev tried to demonstrate his commitment to peaceful coexistence by attending international peace conferences, such as the Geneva Summit, and by traveling internationally, such as his trip to America’s Camp David in 1959. The World Peace Council founded in 1949 and largely funded by the Soviet Union attempted to organize a peace movement in favor of the concept internationally.

[10] NATO ký kết 4 April 1949.  Các quốc gia thành viên sáng lập & gia nhập trong chiến tranh Lạnh gồm Anh, Bỉ, Bồ Đào Nha, Canada, Đan Mạch, Hà Lan, Hoa Kỳ, Iceland, Luxembourg, Na Uy, Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, CHLB Đức, Tây Ban Nha.

[11] Warsaw Pact [Khối  liên minh quân sự các nước XHCN] ký kết tại Warsaw năm 1955, gồm Liên Xô, Albania (rút ra năm 1968), Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, Romania, Tiệp Khắc

[12] hostilities & nuclear war

[13] Strategic Arms Limitation Talks (SALT –I) and the Helsinki Accords

[14] Lech Walesa. The Struggle and the Triumph: An Autobiography. Arcade (1991). Tagliabue, John (13 September 1989). “Poles Approve Solidarity-Led Cabinet”. The New York Times.

[15] József Bayer, “The Process of Political System Change in Hungary”, inSchriftenreihe des Europa Institutes Budapest, 2003. “Hungary Purges Stalinism From Its Constitution”. The New York Times. 19 October 1989.

[16] Mary Fulbrook. History of Germany, 1918-2000: the divided nation; Bleiker , Roland. “Nonviolent Struggle and the Revolution in East Germany” The Albert Einstein Institution. 1993.

[17] Nelson, Lars-Erik. New Czechoslovakian Leaders Are As Stunned As Their People. New York Daily News, 1990-02-21; Wolchik, Sharon L. “Czechoslovakia’s ‘Velvet Revolution.’” 1990. Current History. 89:413-416,435-437. Retrieved March 11, 2009; Glenn, John K. “Competing Challengers and Contested Outcomes to State Breakdown: The Velvet Revolution in Czechoslovakia”. September 1999. Social Forces. 78:187-211. Retrieved March 11, 2009

[18] Crampton, R.J., A Concise History of Bulgaria, 2005, pp.205, Cambridge University Press

[19] Sebetsyen, Victor (2009). Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire. New York City

[20] Glenny, Misha (1996). The fall of Yugoslavia: the third Balkan war. Penguin Books

[21] Sebetsyen, Victor (2009). Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire. New York City

[22] Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào, Cao Mên

[23] proxy war

[24] remote war of containment

[25] state capitalism

[26] Renovation

[27] Oligarchic privatization; déceptive acquisition & détournement de fonds publics;

[28] attribution de pouvoir représentatif

[29] attribution de pouvoir possessif ou de mainmise

[30] abuse of power/accaparement de pouvoir

[31] mise en accusation/removal, impeachment

[32] Marché de monopole

[33] cultural democracy

[34] Wer zu spät kommt, den bestraft das Leben/He who is too late is punished by life).Sebetsyen, Victor (2009). Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire. New York City

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: | Leave a Comment »

Việt Nam và những bàn chân nổi giận

Posted by Webmaster on June 10, 2013

BBC Tiếng Việt – Cập nhật: 03:08 GMT – thứ bảy, 8 tháng 6, 2013

Sự hội tụ của tư tưởng dân chủ và tinh thần chống ngoại xâm sẽ khiến chính phủ hiện tại bị đào thải nếu không đáp lại nguyện vọng của người dân?Ngày 6/6, cột Quan điểm của tờ The New York Times có đăng bài viết của giáo sư Tương Lai, tức Nguyễn Phước Tương, nhà nghiên cứu xã hội học, văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam.

← Sự hội tụ của tư tưởng dân chủ và tinh thần chống ngoại xâm sẽ khiến chính phủ hiện tại bị đào thải nếu không đáp lại nguyện vọng của người dân?

Ông cũng là một trong những người khởi xướng kiến nghị 72 trình lên chính phủ trong đợt góp ý sửa đổi hiến pháp thời gian qua.

BBC xin giới thiệu với các bạn bài viết của ông nhận xét về đường lối đối nội, đối ngoại của chính phủ Việt Nam ở thời điểm hiện tại và khuyến cáo về những gì sẽ xảy ra nếu những thay đổi thực sự không xảy ra.

Bài viết có tựa đề “Những bàn chân nổi giận của Việt Nam”.

Tháng trước, tòa án Việt Nam đã nặng tay tuyên án tù đối với hai sinh viên yêu nước, chống Trung Quốc chỉ mới tuổi đôi mươi là Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha. Bản án này đã động đến nơi nhạy cảm nhất của linh hồn đất nước – lòng yêu nước và tinh thần dân tộc – đồng thời lật tẩy một cách công khai sự thông đồng của chính phủ với kẻ xâm lược ngoại quốc.

“Thảm kịch lớn nhất của Việt Nam đó là việc sử dụng ảo ảnh về sự chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa của chính phủ Việt Nam làm lời bào chữa cho sự lùi bước trước mộng bành trướng của Trung Quốc, bẻ gãy phong trào dân chủ, áp đặt kiểm duyệt, đàn áp thông tin và khủng bố tinh thần người dân.”

GS Tương Lai nhìn vào sự kiện xảy ra đầu tuần này, khi cảnh sát Hà Nội dẹp tan cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bắt những người tổ chức.

Ông nói người Việt “đã chịu đựng 1.000 năm đô hộ của Trung Quốc. Trong thời kỳ đen tối và đau thương ấy, Trung Quốc đã luôn tìm cách đồng hóa người Việt Nam. Nhưng họ đã thất bại”.

“Vậy mà đến hôm nay, bất chấp luật pháp quốc tế, chà đạp lên các quy tắc và giá trị đạo đức, yêu sách của Trung Quốc đã bao trùm hết Biển Đông như chiếc lưỡi bò muốn nuốt chửng vùng lãnh hải giàu trữ lượng dầu mỏ nhằm đáp ứng cho một nền kinh tế đói năng lượng đang tìm cách dành tư cách siêu cường quốc. Đây cũng là tuyến đường giao thông biển quan trọng có thể giúp Trung Quốc đạt được tham vọng của mình.”

Những bước chân nổi giận

Theo vị giáo sư, trước hành động của Trung Quốc, “những bước chân giận dữ đã làm rung chuyển những con đường ở Việt Nam, trong các cuộc biểu tình thể hiện sự gắn kết giữa giới trí thức và giới trẻ thành phố”.

Cuộc tuần hành hiện tại không chỉ có những người căm phẫn trước thái độ của chính phủ đối với Trung Quốc, mà còn có những người nông dân, vốn bị đẩy vào cảnh nghèo khó vì chính phủ, nhân danh sở hữu toàn dân, đã lấy ruộng đất của họ mà không đền bù thích đáng.

“Trong lúc đó, các mạng lưới thiết lập qua Internet đang mọc lên như nấm sau mưa rào, thể hiện tinh thần yêu nước không ngần ngại trước sự đàn áp.”

GS Tương Lai nhận định rằng sự bất mãn của người dân đang lên cao “ở thời điểm mà giới lãnh đạo Việt Nam đang tỏ ra bạc nhược và yếu đuối. Các vụ đấu đá nội bộ xảy ra khốc liệt hơn giữa phe chống Trung Quốc và phía tư tưởng bảo thủ”.

Ông phân tích: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mà giới lãnh đạo Việt Nam nói đến hiện nay, rất mập mờ và không rõ ràng. Họ đang tìm cách bấu víu vào một hệ thống chính trị lỗi thời.

“Nếu không nhờ những cải cách thị trường từ thập niên 80, nền kinh tế kế hoạch tập trung đã có thể đẩy kinh tế Việt Nam đến bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, những cải cách kinh tế ấy ngưng trệ bởi không được đi kèm cải cách chính trị.

Các lãnh đạo của chúng ta chưa bao giờ xây dựng một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự.”

‘Quỵ lụy Trung Quốc’

Sự chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa với TQ là màn khói ngụy trang của chính phủ nhằm bảo vệ quyền lực của mình?Theo GS Tương Lai, hiện sống ở TP HCM, sau chiến thắng chống Mỹ, Việt Nam đã có được sự đồng cảm, tôn trọng và yêu mến của thế giới thế nhưng nay vì lãnh đạo Việt Nam đang cố bám lấy một hệ thống chính trị đang hấp hối và đường lối giáo điều, “tiềm năng kinh tế của Việt Nam đã giảm sút và chính phủ của chúng ta trở thành mục tiêu của sự chỉ trích của quốc tế bởi sự đàn áp tư tưởng dân chủ và vi phạm nhân quyền”.

← Sự chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa với TQ là màn khói ngụy trang của chính phủ nhằm bảo vệ quyền lực của mình?

“Lãnh đạo Việt Nam ngày càng trở nên quỵ lụy trước Trung Quốc, trượt ngã ra khỏi quỹ đạo dân chủ và thụt lùi quá xa so với thế giới, một thế giới mà Việt Nam giờ đây rất cần được hội nhập để có thể tăng trưởng và phát triển.”

Vị giáo sư nhận xét rằng lãnh đạo Việt Nam đang sử dụng sự chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa [với Trung Quốc] để nhằm bảo vệ quyền lực của chính mình.

“Những ngôn từ giả tạo về mối quan hệ láng giềng hữu nghị nghe thật khôi hài.”

Ông cho rằng để bảo vệ quyền lực và những nhóm lợi ích, lãnh đạo Việt Nam đã quay lưng lại với người dân.

“Một số nhà trí thức, trong đó có tôi, đã đưa ra bản kiến nghị nhằm kêu gọi đưa sự tôn trọng nhân quyền vào Hiến pháp và biến Hiến pháp thực sự đại diện cho dân chủ. Tuy nhiên kiến nghị của chúng tôi đã bị đáp lại bằng sự xúc phạm và vu khống bởi những tờ báo kiểm soát bởi chính phủ,” ông cho biết.

Bài viết kết luận bằng khuyến cáo: “Một ban lãnh đạo thấu hiểu tình hình hiện nay, nhanh chóng đáp ứng nguyện vọng của người dân và đặt lợi ích quốc gia lên trên hết sẽ nhận được sự ủng hộ to lớn từ người dân, cũng như sự đồng cảm của những người bạn của Việt Nam ở nước ngoài.

Tuy nhiên, nếu như, chỉ vì muốn níu lấy ngôi vị của mình mà … tiếp tục quay lưng lại với người dân, nếu họ tiếp tục nấp đằng sau tư tưởng lỗi thời của mình, nếu họ tiếp tục cứng đầu bám lấy cách cầm quyền phản dân chủ như hiện nay và đưa đất nước vào ngõ cụt không lối thoát, sự sụp đổ của họ là không thể tránh khỏi.”

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , | Leave a Comment »

Bộ Công an xác nhận bắt ông Trương Duy Nhất

Posted by Webmaster on May 27, 2013

BBC Tiếng Việt – Cập nhật: 11:42 GMT – thứ hai, 27 tháng 5, 2013

Trương Duy Nhất hiên ngang trên đường vào sân bay Đà Nẵng ra Hà Nội để điều tra, nhưng những người áp giải Nhất lại cúi đầu.

Hồ Hải:  Trương Duy Nhất hiên ngang trên đường vào sân bay Đà Nẵng ra Hà Nội để điều tra, nhưng những người áp giải Nhất lại cúi đầu.

Công an xác nhận bắt ông Nhất vì điều 258 Bộ luật Hình sự

Trang tin điện tử của Bộ Công an Việt Nam hôm 27/5 đã xác nhận thông tin blogger Trương Duy Nhất bị bắt một ngày trước đó.

Bản tin ngắn của Bộ Công an chỉ bao gồm bốn câu thông báo:

“Ngày 26/5/2013, Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) Bộ Công an ra Lệnh bắt khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Trương Duy Nhất, sinh năm 1964 tại Quảng Nam; hộ khẩu thường trú và chỗ ở số 25, phố Tống Phước Phổ, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng vì có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 258 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam.  đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Hội phụ nữ Âu Cơ vinh danh bà Dương Thị Tân

Posted by Webmaster on May 15, 2013

RFA Tiếng Việt – Mặc Lâm,  tường trình từ Bangkok Thái Lan.

Bà Dương Thị Tân, vợ cũ của nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn HảiVào ngày Chúa nhật 12 tháng 5 nhằm ngày Mother’s Day Hội Phụ nữ Âu Cơ tại Hoa Kỳ đã quyết định Vinh danh và trao giải Âu Cơ năm 2013 cho bà Dương Thị Tân, người vợ cũ của nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vì  bà Tân xứng đáng là một phụ nữ Việt Nam tiêu biểu cho truyền thống đảm đang, vừa lo chăm sóc gia đình, con cái, lại vừa tích cực góp phần tranh đấu cho một xã hội dân chủ, tự do.

Bà Dương Thị Tân từng bị kết tội chung với ông Hải trong bản án trốn thuế nhưng ai cũng biết lý do nhà báo Điếu Cày bị bắt vì ông là người sáng lập ra Câu lạc bộ Nhà báo tự do từng nhiều lần biểu tình chống Trung Quốc và hiện vẫn còn bị giam giữ với bản án mới tuyên truyền chống nhà nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam.

Bà Tân một mặt liên tục tranh đấu đòi trả tự do cho chồng, một mặt tham gia vào những hoạt động đấu tranh cho nhân quyền trong khi vẫn lặn lội thăm nuôi ông từ ngày ông bị giam cầm tới nay.

Nói với chúng tôi, mặc dù rất vui nhưng bà biết rằng những ai nhận được vinh danh hay giải thưởng từ nước ngoài đều bị phân biệt đối xử. Bà Dương Thị Tân cho biết:

Tất cả những người nào mà có bất kỳ một vinh danh hay sự quan tâm nào đó, hay sự lên tiếng của cộng đồng quốc tế cũng như bà con hải ngoại thì lập tức họ gặp ngay sự canh giữ, theo dõi và làm những điều mình không thề tả hết, đáng lên án của chế độ cầm quyền. Theo tôi, khi anh hỏi có lo ngại gì không thì tôi không việc gì phải lo ngại cả. Sự lo ngại nếu có thì đã xảy ra năm sáu năm nay rồi chứ không đến bây giờ. Thật sự đối với gia đình tôi thì có gì họ chưa làm đâu?

Tôi cũng đã bị tù treo 18 tháng và ba năm quản chế theo vụ án của ông Hải mặc dù họ luôn luôn nói tôi không có nghĩa vụ quyền lợi gì liên quan tới ông Hải nhưng họ vẫn làm những chuyện như vậy thì đâu có gì đáng lo ngại.

Bà Phạm Thiên Thanh đương kiêm chủ tịch Hội Phụ nữ Âu Cơ cho biết lý do tại sao bà Dương Thị Tân được Hội chọn trao giải trong năm nay:

Lý do hội Phụ Nữ Âu Cơ chọn bà Dương Thị Tân là vì như trong bản thông cáo báo chí của chúng tôi có nói bà Tân đã tảo tần nuôi nấng con trong lúc chồng cũ bà là ông Hải, Điếu Cày bị tù tội bà còn tiếp tục đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam. Bà giúp những người trẻ đang tranh đấu chống Trung cộng có ý đồ xâm lấn Việt Nam. Đó là ba lý do khiến Hội chúng tôi chọn bà Tân làm người phụ nữ đảm đang của năm 2013.

Hội Phụ nữ Âu Cơ được thành lập tại Hoa Kỳ và có chi nhánh ở nhiều tiểu bang và quốc gia ngoài nước Mỹ. Hội chủ trương tôn vinh thành quả và xiển dương bản sắc Phụ nữ Việt Nam trong và ngoài nước. Lễ trao giải năm nay được tổ chức tại Paris Pháp quốc nhân dịp khai trương một văn phòng mới của hội tại đây.

Bà Dương Thị Tân được thông báo sẽ được hội gửi giải thưởng về Việt Nam do bà không thể sang Pháp nhận giải thưởng này.

Mặc Lâm, tường trình từ Bangkok Thái Lan.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: | Leave a Comment »

Ngày mai em ra toà

Posted by Webmaster on May 14, 2013

Nguyễn Thị Phương Uyên sẽ ra toà ngày 16/05/2013
Nguyễn Thị Phương Uyên sẽ ra toà ngày 16/05/2013 và sẽ bị xét xử theo điều 88 của Bộ Luật Hình Sự tội tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tôi không quen em, chỉ biết em qua những bài viết về em trên mạng, cả từ báo lề dân cũng như lề đảng.
Tôi cũng đã có bài “Trò nhận tội khoan hồng cũ rích đã bị phá sản” ngay sau cuộc họp báo ngày 03/11/2012 của cơ quan điều tra, vạch rõ sự sai trái trong kết luận của cuộc họp báo với thực tế.
Phương Uyên chỉ xấp xỉ tuổi con tôi. Còn nhỏ quá. Mới hai mươi tuổi đầu. Người ta nói tuổi này là tuổi ăn, tuổi học, tuổi chơi.
Nhưng Phương Uyên đã làm tôi cảm phục.
Phương Uyên là con một gia đình nông dân nghèo, nhưng không những là một học sinh ngoan được nhiều bạn bè yêu quý, mà con có những tư tưởng và hành động dường như vượt quá cái tuổi hồn nhiên, trong trắng của em.
Khi tuổi trẻ cùng lứa với em say mê với những games online, hưởng thụ vật chất, chạy theo thời trang, hay những thứ giải trí của K-pop, khóc ngất đón sao Hàn, Phương Uyên đã nghĩ về đất nước và trách nhiệm của công dân.
Chưa lúc nào chủ quyền dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng như hiện nay. Cuộc xâm lược Hoàng Sa và một phần Trường Sa, cộng với cuộc xâm lược mềm bằng thuê rừng đầu nguồn 50 năm, thâu tóm hơn 90% tổng thầu EPC cùng với hàng chục ngàn người đưa qua lao động, gây rối; hàng hoá độc hại tràn ngập lãnh thổ khắp cả nước; trong sự tiếp tay của tập đoàn thái thú Ba Đình, thực sự đã đẩy đất nước vào tiến trình Bắc Thuộc lần thứ 4. Việt Nam sẽ là một Tây Tạng thứ hai là viễn cảnh không xa.
Chưa bao giờ tiềm năng đất nước bị xói mòn và sinh lực cạn kiệt vì bộ máy tham nhũng hiện nay. Các nhóm trục lợi thi nhau rút ruột công trình, lợi dụng đặc quyền, đặc lợi vơ vét làm giàu bất chấp lương tri và đạo đức, kéo theo những món nợ nặng nề mà các thế hệ sau phải còng lưng gánh nặng.
Cho nên em viết: “Vì danh dự dân tộc, chống giặc Tầu . Vì tương lai đất nước, chống tham nhũng”.
Khẩu hiệu của em như một mệnh lệnh, một đòi hỏi yêu nước chính đáng. Hơn lúc nào hết, người dân cần thoát ngay ra khỏi sự tuyên truyền dối trá, lừa mị. Nhà nước cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách phò Tàu để giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, bám chặt lấy hệ thống chính trị độc quyền, chăm lo cho lợi ích riêng của phe nhóm trong đảng.
Khẩu hiệu của em là tiếng gọi của lương tri với non sông, hướng tới tất cả những ai còn chảy trong lòng mình dòng máu Việt Lạc Hồng.
Phải chống Tàu và chống tham nhũng, chống lại “nhà nước CHXHCN Việt Nam” mà thực chất chỉ là một băng đảng đang xây dựng chế độ tư bản-phong kiến với bộ mặt cộng sản. Chống kẻ thù ngoại xâm và nội xâm là hai thứ đang tước đi dần tài sản thiêng liêng nhất của dân tộc: đất nước.
Tôi không biết em có trực tiếp tham gia rải truyền đơn hay không. Nhưng nội dung của truyền đơn được rải ngày 10/10/2012 đã bộc lộ tất cả:
“Hỡi đồng bào Việt Nam, hãy đứng lên chống lại bạo quyền độc tài Cộng Sản Việt Nam. Hãy giành lại quyền lợi cho chính mình và gia đình, hãy đứng lên vì Tự Do, Nhân Quyền và Công Lý. Đảng Cộng Sản Việt Nam sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào. Chúng cướp đất dân lành làm giàu cho đảng viên Cộng Sản, làm nô lệ để bán biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Làm ngơ để Trung Quốc bán vào nước ta những đồ ăn độc hại làm suy nhược giống nòi Việt Nam. Vì quyền lợi của con em,vì tương lai của dân tộc, hãy xóa bỏ sợ hãi, cùng đứng lên chống lại bọn Độc Tài Cộng Sản Việt Nam”.
“Trung Quốc đang từng bước thôn tính nước ta, bọn chúng đang chiếm dần hết biển đảo của ta. Cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn dài hạn để chiếm cứ những địa điểm quan trọng. Để Trung Quốc vào khai thác Bô-Xít tại Tây Nguyên để làm cứ điểm quân sự trọng yếu. Dâng hiến Ải Nam Quan Lịch Sử, Thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số vuông đất biên giới cho Trung Cộng. Đảng Cộng Sản Việt Nam cho Trung Quốc đấu thầu chiếm hầu hết các công trình trọng điểm quốc gia để cho Trung Quốc thống lĩnh nền kinh tế nước nhà… Tổ quốc đang lâm nguy! Toàn dân hãy đứng lên cứu nước, cùng nắm tay nhau xuống đường chống lại bọn Cộng Sản Việt Nam tay sai của bọn cộng sản Trung Quốc”.
Đọc toàn bản cáo trạng của em và người bạn Đinh Nguyên Kha, tôi thấy em thật khó thoát khỏi bàn tay lông lá của bầy sói. Chông gai và cạm bẫy rình rập, bủa vây em. Lao tù là chốn mà em sẽ phải dấn thân. Em còn quá trẻ và cuộc đời còn dang rộng. Ba năm, năm năm thậm chí nhiều hơn…
Ngẫm cảnh mẹ em đi thăm con thật khó khăn và thân em nhỏ nhoi bị đánh đập trong tù mà tôi xót xa, oán hận chế độ nhà tù gì mà sao tàn ác, bất nhân đến thế.
Hãy kiên trinh và can đảm lên em! Mọi người đứng bên em, cảm phục, chia sẻ và tranh đấu cho em. Gia đình đứng bên em và tự hào về em. Một ngày nào đó công lý sẽ chiến thắng và em sẽ được bù đắp. Cầu chúc cho em muôn sự bình an!
Ở một đất nước có dân chủ tự do, không bao giờ những việc làm của em bị kết án tù, ngược lại còn được khuyến khích. Đất nước Việt Nam thật vô cùng bất hạnh. Một đất nước bất bình thường, điên đảo, các giá trị nhân bản đã không còn mà nhường chỗ cho cuộc chơi đen đỏ quyền-tiền man rợ. Có những con người rắp tâm làm dã thú. Những tên quan toà mặt ngựa đầu trâu, thực sự chỉ là những con robot của cả bộ máy công quyền bất công và ô nhục.
Mọi người sẽ cùng hát vang bài ca yêu nước mà một người đã viết tặng em:
“Chúng ta hãy cùng xiết chặt tay!
Vì lũ giặc xâm lăng đã đến
Tuyên bố “Đường Lưỡi Bò” mưu chiếm trọn Biển Đông
Còn ngang ngược lập “Thành phố Tam Sa” trên biển
Gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông!
Chỉ những kẻ vô lương tâm mới không thấy đau lòng
Khi quân giặc cướp tàu thuyền và bắn chết ngư dân trên biển
Khi cố tình quên vong linh những anh hùng Hải Chiến
Khi vì tiền mà cho chúng thuê biển, thuê rừng
Khi cho chúng đưa lao công sang trên các công trường
Làm rơi lệ Tố Như, xót xa hồn Nguyễn Trãi!”
(Nguyễn Hàm Thuận Bắc)

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tuyên bố về vụ án và phiên tòa xử các sinh viên yêu nước tại Long An ngày 16-05-2013

Posted by Webmaster on May 14, 2013

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền – 14-05-2013

nhom LM NguyenKimDienKính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

            Với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Cộng sản tại Long An ký ngày 06-03-2013, hai sinh viên Đinh Nguyên Kha (Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An) và Nguyễn Phương Uyên (Đại học Công nghiệp Thực phẩm Sài Gòn) sẽ ra tòa ngày 16-05 sắp tới với tội trạng “tham gia vào tổ chức phản động “Tuổi trẻ yêu nước”, trong tháng 8-2012 và tháng 10-2012 đã có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu chống Nhà nước ta… có sự chỉ huy của Nguyễn Thiện Thành” (sinh viên Đại học Công nghiệp Thực phẩm SG, đã đào thoát), và với tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật hình sự”.

            1- Đây là một vụ án có nhiều kịch tính, bộc lộ tất cả bản chất ghê tởm của chế độ và nền pháp lý Cộng sản tại Việt Nam.

            Trước hết, cô sinh viên 21 tuổi đã bị bắt và giam giữ theo kiểu bắt cóc, bất chấp mọi quy định về tố tụng hình sự. Bị gia đình và thân hữu của em chất vấn và phản đối, cơ quan công an nửa tháng sau đành tìm cách lấp liếm và dối gạt công luận một cách trắng trợn.

            Khi bạn bè cùng lớp rồi 144 nhân sĩ trí thức gởi thư lên Chủ tịch nước bênh vực cho Phương Uyên, họ liền lãnh cả một loạt hành vi trả đũa đê tiện. Các sinh viên bị nhà trường (trưởng khoa, một số giáo sư, thành đoàn…) bức bách phải rút lại chữ ký, rồi bị công an từ đó luôn theo dõi. Còn các vị nhân sĩ thì vừa chịu thóa mạ (bị gọi là “trí thức bầy đàn, phạm pháp bầy đàn”), vừa bị mạo danh qua một kiến nghị giả trái ngược.    

            Sau khi em Đinh Nguyên Kha cũng bị bắt và em Nguyễn Thiện Thành bị truy nã thì cả một chiến dịch tấn công trên báo chí nhà nước được mở ra. Không cần tự mình điều tra tìm hiểu, cân nhắc phán đoán, các công cụ mù quáng và vô liêm sỉ này chỉ biết theo lệnh trên đua nhau vu khống các sinh viên đủ thứ tội: nào là tham tiền (dù chỉ được tặng 100 đôla mua máy ảnh trước đó), nào là khủng bố, chế tạo chất nổ nhằm giật sập tượng ông Hồ (dù chỉ có khoảng 300gr hóa chất làm pháo đốt chơi), nào là xâm phạm an ninh quốc gia, nào là cấu kết với thế lực thù địch,…

            Gia đình của ba sinh viên cũng chẳng được buông tha: nào lôi đến đồn để hăm dọa ép cung, nào hành lênh hành xuống trong việc thăm tù, nào không cho biểu lộ tình cảm mẫu tử, nào tịch thu máy móc hành nghề rồi cấm cản làm việc, nào buộc phải xác nhận con mình có tội trên giấy thăm nuôi, nào sai cựu chiến binh đến nhà hành hung và vu vạ rằng con của họ phản động…

            Tiếp đến là kịch bản cũ mèm, bị dư luận khinh bỉ, căm phẫn và chẳng bao giờ tin, đó là đưa các đối tượng lên truyền hình để đọc bản “ăn năn nhận tội” và “xin nhà nước khoan hồng”! Rồi màn cho bị can gặp các luật sư để chỉ xác nhận mình bị bắt đúng thủ tục và được đối xử tốt trong tù. Tất cả chỉ phơi bày trò khủng bố tâm lý, bức bách tù nhân và lừa gạt công luận một cách trơ trẽn, chỉ tố cáo thái độ hèn nhát, ác độc của kẻ mạnh đối với người yếu thế, bị huỷ diệt mọi khả năng lựa chọn trước các đòn đe dọa.

            Đến khi Phương Uyên phản đối những điểm sai trái, vu khống trong bản cáo trạng (như ghi rằng em “đã viết một số nội dung không hay về Trung Quốc” đang khi thực sự em đã đề: “Tàu khựa hãy cút khỏi Biển Đông”…), thì liền bị trả thù cách dã man tàn độc: bị cấm mang kính cận khiến phải nhức đầu thường xuyên, bị đánh đến ngất xỉu, với nhiều thương tích và vết bầm tím trên người.

            2- Dựa vào Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền điều 19 và Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị điều 19 (mà Việt Nam đã cam kết tuân giữ): “1- Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. 2- Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia”, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tuyên bố:

            a- Hành động rải truyền đơn của các em sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Thiện Thành và nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước kêu gọi toàn dân chống giặc Tàu xâm chiếm đất biển tổ quốc Việt, ức hiếp công dân Việt, làm suy yếu dân tộc Việt bằng những thức ăn độc hại; chống đảng CSVN độc tài, tham nhũng, cướp ruộng vườn của dân, dâng đất biển cho Tàu, bách hại và lũng đoạn các tôn giáo, sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào, đẩy nhân dân đất nước vào chốn lầm than; (chứ các em chẳng hề chống nhà nước, chủ trương vô chính phủ để xã hội hỗn loạn)… Hành động đó của các em vừa chính đáng, không vi phạm pháp luật, nằm trong nhân quyền và dân quyền, vừa diễn tả đúng thực trạng của đất nước và chế độ, bày tỏ đúng tâm trạng và khát vọng của toàn dân. Ngay cả việc treo cờ vàng ba sọc đỏ (là cờ truyền thống của Dân tộc, có từ thời Thành Thái (1890), một vị vua yêu nước có tinh thần và chủ trương đoàn kết dân tộc 3 miền để chống ngoại xâm) là một hành vi chính đáng và đầy ý nghĩa.

            b- Chủ nghĩa lẫn chế độ Cộng sản đáng bị loại khỏi tâm trí, đất nước, lịch sử Việt Nam và đảng Cộng sản đáng bị loại khỏi chính trường Việt Nam bằng đường lối bất bạo động như lời kêu gọi của các em sinh viên nói trên. Bởi lẽ cả ba thứ quái thai này -với vô số sai lầm và tội ác trong hơn nửa thế kỷ- đã gây ra cái chết cho hàng triệu đồng bào, đã đặt ách nô lệ lên toàn thể dân tộc, đã đưa đất nước vào đủ mọi thảm trạng lẫn tệ nạn và đang đẩy Tổ quốc đến bờ vực thẳm suy vong, vì đang khi hiểm họa Tàu cộng xâm lược ngày càng cận kề mà đảng CS vẫn hèn nhát bạc nhược.

            c- Các em sinh viên trong Nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước nói trên thật đáng khen ngợi vì ý thức sắc bén về tình hình đất nước và xã hội, vì khát vọng tốt lành muốn đưa Dân tộc thoát khỏi các cơn khủng hoảng chính trị và xã hội triền miên, vì lòng can đảm dám liều mạng để cảnh báo và kêu gọi đồng bào chung tay khử trừ hiểm họa ngoại xâm và nội xâm. Dân tộc Việt Nam may mắn là còn có những bạn trẻ -dù bị chủ nghĩa và chế độ CS tìm cách đầu độc- vẫn đầy tâm hồn trong sáng, lý tưởng cao đẹp, khí phách anh hùng và nhiệt huyết thương nước thương nòi như thế!

            3- Quả vậy, vụ án và phiên tòa xử các sinh viên trong Nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước lúc này, vụ án và phiên tòa xử nhiều sinh viên yêu nước tại Nghệ An đầu năm và vụ trấn áp các bloggers trẻ gần đây chỉ là sự bộc lộ cơn phẫn nộ của đảng CS trước thất bại của nền giáo dục quái đản và tác hại của đảng.

            a- Dựa vào nguyên lý “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Luật Giáo dục điều 3), đảng CSVN, ngay từ đầu, đã chủ trương chính trị hóa nền giáo dục tại VN. Nghĩa là thay vì đào tạo ra những công dân tự do cho đất nước, đảng chỉ muốn uốn nắn thế hệ trẻ thành những thần dân nô lệ cho đảng, chỉ biết noi gương lãnh tụ đảng cách mù quáng, vâng phục mệnh lệnh đảng cách khiếp nhược, coi “hồng hơn chuyên”, ý thức tuân hành hơn khả năng học vấn, và gọi đó là “bản lĩnh chính trị”!?!

            Tiến trình đầu độc tâm trí, đánh gục ý chí, tẩy não nhồi sọ, làm băng hoại tâm hồn này đã khởi sự từ cấp mẫu giáo lên đến đại học với tổ chức “Đội Thiếu nhi Tiền phong” và “Đoàn Thanh niên Cộng sản” chuyên kiểm soát chặt chẽ đội viên, đoàn viên; với những giáo khoa sử học và văn học đầy tô hồng cho đảng, che giấu cuộc kháng Tàu, vu khống thóa mạ mọi kẻ thù của chế độ; với những thần tượng tuổi trẻ như Lê Văn Tám, Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi… được thêu dệt từ con số không hoặc thổi phồng theo tưởng tượng; với những trò ép buộc đoàn viên phục vụ lãnh đạo đảng (vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô), quấy rối các cộng đoàn tôn giáo đòi công lý (vụ giáo xứ Thái Hà), lên án bạn học dám đòi công lý cho dân oan (vụ đại học Luật Sài Gòn), ngăn cản bằng hữu tham gia biểu tình yêu nước, dàn hàng bảo vệ sứ quán của quân xâm lược… Đó là chưa nói đến nạn giới trẻ được giáo dục tính gian dối, thói bạo hành và lòng thù hận khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

            Nền giáo dục phi nhân bản, phản dân tộc ấy đã đẻ ra cả một thế hệ thanh niên sau đó trở thành những công an trẻ đầy thói tàn bạo, tư cách côn đồ, sẵn sàng đàn áp thẳng tay các cuộc khiếu kiện của dân oan, các cuộc biểu tình chống xâm lược, các cuộc dã ngoại về nhân quyền; trở thành những tên tin tặc chuyên lùng sục để phá hoại các trang mạng dân chủ hay bắt bớ các công dân mạng dám phát biểu chính kiến ngược với đảng; trở thành những dư luận viên chỉ biết vì tiền mà bênh vực đảng và chế độ một cách ngang ngược, lố bịch và ngu xuẩn!

            Xa hơn, nền giáo dục phi nhân bản, phản dân tộc, chống khai phóng đó đã đẻ ra cả một thế hệ trí thức lưu manh, trí nô ký sinh, mất tất cả nhân cách, tiêu tinh thần “kẻ sĩ”, dù mang đủ thức học hàm học vị, đang ngồi trong Quốc hội, Quân đội, Công an, các cơ quan công quyền và các trường đại học… Chỉ vì chút bổng lộc hiện thời và sổ lương hưu tương lai, họ sẵn sàng ngăn chận và dọa nạt sinh viên của mình biểu tình chống quân xâm lược, trâng tráo bênh vực sự lãnh đạo độc quyền và vĩnh viễn của đảng trên dân tộc đất nước, cổ vũ không biết ngượng cho lòng trung thành tuyệt đối của quân đội đối với cái đảng đang ác với dân và hèn với giặc, mải miết khẳng định đảng là sở hữu chủ mọi tài nguyên để cướp đất ruộng của dân cày. Điều này đang được phơi bày cách lộ liễu trên các báo đài công cụ, trong các cuộc hội thảo về Hiến pháp với những tên tuổi ô nhục.

            Hậu quả là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, trọng hồng hơn chuyên ấy đã khiến cho Việt Nam nức tiếng trong khu vực là nhiều người bằng cấp cao, nhưng đa phần toàn những giáo sư giả, tiến sĩ dỏm, gây ô nhục cho cả nền văn hiến ngàn năm; đồng thời lại hiếm hoi những nhà khoa học giỏi, chuyên viên thực, bằng phát minh được quốc tế công nhận. Điều đó gây ra sự lụn bại của nền học thuật, nền kỹ thuật, nền văn minh và nền văn hóa của một Dân tộc vốn từng ngang ngửa với các nước lân bang trước năm 1975, thời Việt Nam Cộng Hòa.

            4- Cuối cùng, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền kêu gọi:

            a- Các bạn trẻ Việt Nam hãy noi gương sáng suốt và can đảm của các sinh viên nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước cũng như các thanh niên nhóm Chúng ta-Các Công dân Tự do để đứng lên làm lịch sử, tiếp nối các anh hùng trẻ tuổi trong lịch sử dân tộc, góp phần đánh đuổi ngoại xâm và tiêu trừ nội xâm.

            b- Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước hãy bày tỏ sự đồng tình ủng hộ đối với các bị can trẻ tuổi sắp phải đối diện một tòa án với bộ sậu xét xử vốn chỉ là công cụ đàn áp của nhà cầm quyền. Đồng tình và ủng hộ bằng cách đến dự phiên tòa, theo dõi trên mạng, đồng loạt lên tiếng bênh vực; bằng cách hỗ trợ vật chất và tinh thần cho gia đình những công dân yêu nước trẻ tuổi đang hy sinh vì đại nghĩa dân tộc.

            c- Các Chính phủ dân chủ và các Cơ quan nhân quyền quốc tế hãy coi phiên tòa này như một bằng chứng sống động và tội ác lớn lao để ngăn chận nhà cầm quyền CSVN ngồi vào ghế Hội đồng Nhân quyền vào năm tới.

            Để kết thúc, chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa ban cho tất cả Đồng bào Việt Nam trong và  ngoài nước lòng can đảm, sự kiên trì và óc đoàn kết để đấu tranh cho công lý và sự thật, cho dân chủ và nhân quyền tại Quê hương, ngõ hầu đảng và nhà cầm quyền CSVN không còn khả năng tác hại lên toàn thể đất nước và các thế hệ tương lai của Dân tộc.

            Làm tại Việt Nam ngày 14-05-2013.

            Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền:

            – Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải

            – Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

            – với sự hiệp thông của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý đang ở trong lao tù Cộng sản.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chung quanh việc bỏ thi môn sử năm nay

Posted by Webmaster on May 14, 2013

Đàn Chim Việt – 12:05:am 11/05/13 | Tác giả: Trần Gia Phụng

Học sinh Trường THPT Nguyễn Hiền ném giấy ăn mừng khi biết không phải thi tốt nghiệp môn sử. Ảnh chụp từ clip1.-   QUYẾT ĐỊNH BỎ THI MÔN SỬ NĂM NAY

Ngày 29-3-2013, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố quyết định về các môn thi của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay, theo đó sẽ không thi môn lịch sử.

Đây là một quyết định hết sức quan trọng chẳng những trong việc học hành mà cả về phương diện chính trị vì ai cũng biết chủ nghĩa cộng sản (CS) rất chú trọng đến ngành sử học.  Các ông tổ CS đã xây dựng cả một hệ thống duy vật sử quan để giải thích sự biến chuyển của lịch sử nhân loại, sự phát triển của xã hội loài người.  Cộng sản Việt Nam (CSVN) tất nhiên rất chú trọng đến duy vật sử quan và đặc biệt chú trọng đến lịch sử cận và hiện đại, từ khi Hồ Chí Minh gia nhập đảng CS Pháp năm 1922 cho đến ngày nay.

Cộng sản thành lập nhiều tổ chức chuyên môn nghiên cứu lịch sử do đảng CSVN điều khiển, như Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng, Viện Sử Học, Hội Khoa Học Lịch Sử, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam… Ở mỗi địa phương, còn có ban Nghiên Cứu Lịch Sử địa phương.

Cộng sản sử dụng lịch sử và môn lịch sử ở trường học làm phương tiện tuyên truyền với dân chúng, nhồi sọ học sinh về chủ nghĩa CS, về lý thuyết Mác-Lê, về Đệ tam Quốc tế CS, về các lãnh tụ CS, nhất là Hồ Chí Minh, về phong trào CS thế giới và Việt Nam, về công cuộc phát động quần chúng đấu tranh giai cấp, từ đấu tranh chính trị tiến tới võ trang khởi nghĩa giành chính quyền…

Để tuyên truyền, CSVN không ngần ngại sửa đổi, bóp méo lịch sử Việt Nam một cách bài bản, có hệ thống theo nhu cầu chính trị của đảng CSVN, bịa ra những sử liệu giả để lừa dối quần chúng.  Vì vậy, các sách lịch sử CS hay sách giáo khoa môn lịch sử CS phải do những đảng viên CS soạn.

Vì tính cách quan trọng về chính trị của môn học lịch sử, nên chắc chắn bộ GD-ĐT không dám và không thể tự mình quyết định việc bỏ thi môn lịch sử năm nay, mà quyết định nầy phải phát xuất từ một cấp cao hơn, như ban Tuyên giáo (Tuyên truyền, giáo dục) Trung ương đảng CSVN, ban Văn hóa tư tưởng Trung ương đảng CSVN, hay ban Bí thư Trung ương đảng CSVN, và ngay cả bộ Chính trị đảng CSVN.  Như thế, phải có một lý do quan trọng hoặc chưa giải quyết được nên lãnh đạo CSVN mới quyết định bỏ thi môn lịch sử năm nay.

Việc bỏ thi môn lịch sử ở trung học năm nay kéo theo nhiều hệ lụy cho môn lịch sử trong các năm kế tiếp, ví dụ sang năm học 2013-2014, có thi môn lịch sử hay không?  Thi hay không thi đều phải báo cho học sinh biết từ đầu năm học để học sinh lo học thi.  Học mà không thi thì học làm gì?  Nếu không thi mà bắt buộc phải học, chắc chắn học sinh chẳng những không học mà còn kiếm cách trốn học giờ lịch sử.

Giả thiết như sang năm học mới, bộ GD-ĐT ra lịnh thi lại môn lịch sử, thì việc buộc học sinh học lại giờ lịch sử cũng sẽ rất khó khăn, bởi vì các em sẽ tiếp tục nghi ngờ tự hỏi có thi hay không mà học?  Học cho mệt rồi không thi thì sao?

Một vấn đề nữa là môn lịch sử các lớp dưới sẽ như thế nào?  Học hay không học?  Học sinh Việt Nam hiện nay trong nước nổi tiếng là kém môn lịch sử vì các em không chịu học môn nầy.  Sau vụ bộ GD-ĐT bất ngờ bỏ thi môn lịch sử trong kỳ thi tốt nghiệp trung học năm nay, chắc chắn môn lịch sử sẽ bị xem thường hơn nữa, xuống cấp hơn nữa.

Cuối cùng, chúng ta thử tưởng tượng một đất nước mà từ trên xuống dưới không học môn lịch sử của nước mình thì sẽ như thế nào?  Công dân không biết lịch sử nước mình thì chuyện gì sẽ xảy ra?  Lúc đó lấy gì để rèn luyện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, tự hào tổ quốc?  Điểm đáng nói, trên thế giới ngày nay, không có một nước nào mà học sinh không học môn lịch sử nước mình cả.  Và cũng không có nước nào trên thế giới mà học sinh không thi tốt nghiệp môn lịch sử nước mình như Việt Nam năm nay.

2.-   GIÁO KHOA LÀ PHÁP LỆNH

Nói đến thi cử là nói đến giáo dục.  Giáo dục ở đây là giáo dục của chế độ CSVN.  Nói đến giáo dục CSVN là phải nói đến ba phạm trù quan trọng:  1) Giáo dục phục vụ nhân dân, phục vụ chính trị tức phục vụ chế độ.  2)  CS chủ trương giáo dục con người trở nên “hồng hơn chuyên”, tức đào tạo con người nặng tính đảng, biết vâng lời đảng CS, hơn là giỏi chuyên môn, biết tự do suy nghĩ.  3)  Sách giáo khoa là pháp lệnh; giáo viên bắt buộc phải giảng dạy theo đúng sách giáo khoa, không được đi ra ngoài giáo khoa.  Học sinh cũng chỉ học đúng theo giáo khoa, không bàn cãi những gì không nằm trong giáo khoa.  Chủ trương nầy nằm trong chính sách độc tài toàn trị của CSVN.

Trong nền giáo dục phục vụ chính trị, ngoài giờ chính trị (học về chủ nghĩa CS), thì môn lịch sử liên hệ nhiều đến chính trị, nhất là lịch sử cận và hiện đại liên hệ đến hoạt động của đảng CSVN, nên chủ trương “giáo khoa là pháp lệnh” càng được áp dụng triệt để với môn học lịch sử trung học.  Giáo viên và học sinh dứt khoát không được ra khỏi sách giáo khoa.  Những bộ giáo khoa sử CS có những đặc tính sau đây:

Thứ nhất, ứng dụng duy vật sử quan, các sách sử CS giải thích rằng đấu tranh giai cấp là động lực làm cho xã hội biến chuyển và tiến bộ, nên các sách sử CS rất chú trọng đến việc đấu tranh giai cấp.  Do ảnh hưởng của Mao Trạch Đông, CSVN luôn luôn đề cao vai trò của nông dân, mà CS xem là giai cấp tiên phong trong các cuộc cách mạng xã hội Việt Nam.  Hầu như những biến động trong lịch sử Việt Nam đều được các bộ sử CS gán cho nhãn hiệu nông dân, kể cả nhà Tây Sơn cũng được gọi là nông dân khởi nghĩa, trong khi thực chất gia đình nầy sống bằng nghề buôn trầu giữa miền núi và miền đồng bằng, và Nguyễn Nhạc là một viên chức thâu thuế của chúa Nguyễn ở rừng núi Tây Sơn.

Thứ hai, các sách sử CS luôn luôn phê phán, chỉ trích, chê trách các nền quân chủ Việt Nam là phong kiến, đàn áp, bóc lột nhân dân và nông dân Việt Nam.  Đặc biệt các bộ sử CS lên án nặng nề và kết tội triều đại nhà Nguyễn, quan chức nhà Nguyễn là đã bán nước, đầu hàng Pháp, làm tay sai và bù nhìn cho Pháp… Ngoài ra, các bộ sử nầy kết án các chính thể Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa, công chức và quân nhân hai chính thể nầy là Việt gian, phản động, tay sai ngoại bang, tay sai đế quốc Mỹ…

Thứ ba, xuyên suốt trong các sách sử CS, các soạn giả CS luôn luôn ca tụng chủ nghĩa CS, chủ nghĩa Mác-Lê, đấu tranh giai cấp, ca tụng Hồ Chí Minh, đảng CSVN… Các soạn giả, giáo sư đại học, giáo viên trung tiểu học, học sinh đại học và trung tiểu học chỉ nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong khung lịch sử mà Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương đảng CSVN vạch ra.  Họ tự do ca tụng đảng CS, chủ nghĩa CS, tự do đả kích chế độ quân chủ, đả kích chủ nghĩa tư bản, và không được bước ra khỏi giới hạn đã định.

Từ khi đảng CSVN cầm quyền năm 1945, đến cuối thế kỷ 20, CSVN chỉ có một bộ thông sử duy nhất là bộLịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa Học Xã Hội soạn.  Bộ nầy gồm hai tập.  Tập I không đề tên tác giả, Nxb. Khoa Học Xã Hội ấn hành năm 1971, ghi ngay ở trang 2 rằng: “Sách biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy Ban Khoa Học Xã hội Việt Nam”.  Sách nầy soạn lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến thời Pháp thuộc.  Tập II do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, cùng 4 tác giả.  Mở đầu “Lời nhà xuất bản”, có câu sau đây: “Nội dung tập II viết theo đề cương của đồng chí Chủ biên Nguyễn Khánh Toàn và được đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho những ý kiến và tư tưởng chỉ đạo.”  Cả hai ghi chú nầy cho thấy CSVN rất chú trọng và kiểm soát gắt gao việc soạn thảo và viết lại lịch sử Việt Nam.

Ngoài Trường Chinh, Nguyễn Khánh Toàn là đảng viên CS kỳ cựu, từng theo học tại Học viện Đông phương ở Moskow (Liên Xô) từ năm 1928 đến 1931.  Nguyễn Khánh Toàn là người đã du nhập triết lý giáo dục của Liên Xô vào Việt Nam là giáo dục phục vụ nhân dân, phục vụ chính trị tức phục vụ chế độ, khi ông làm thứ trưởng Bộ Giáo dục năm 1946.  Lịch sử Việt Nam tập II viết về những cuộc tranh đấu chống Pháp cho đến năm 1945.

Vào cuối thập niên 90, xuất hiện thêm bộ Đại cương Lịch sử Việt Nam gồm ba tập do Nxb. Giáo Dục ấn hành.  Tập I do GS Trương Hữu Quýnh chủ biên; tập II do giáo sư Đinh Xuân Lâm chủ biên và tập III do Phó giáo sư Lê Mậu Hãn chủ biên.  Riêng tập III viết từ 1945 đến 1995, xuất bản năm 2001, hết lời ca tụng những thành quả to lớn của “cách mạng” CS, những “chiến công thần thánh” của quân đội nhân dân, ca tụng đảng CSVN tài tình, các lãnh tụ CSVN sau Hồ Chí Minh đã thống nhất đất nước (?).

Ngoài hai bộ sách trên đây, còn có vài sách sử viết về một số giai đoạn do nhu cầu của đảng CS.  Dựa trên các bộ sử nầy, giáo sư, giáo viên soạn sách giáo khoa sử các lớp cho học sinh đại học và trung tiểu học.  Ai được cho phép soạn thì mới được soạn và phải được kiểm duyệt thật chặt chẽ.  Nếu không đúng đường lối đảng thì không được phép in, và đã lỡ in mà bị phát hiện sai trái thì bị tịch thu ngay.

3.-   THÔNG TIN RỘNG MỞ, SỰ THẬT TÁI HIỆN

Chế độ CS là chế độ độc tài toàn trị, kiểm soát gắt gao tất cả các thông tin liên lạc.  Sách vở báo chí trong nước đều viết theo chỉ thị đảng, dưới sự “chỉ đạo” chặt chẽ của ban Tuyên giáo, ban Văn hóa tư tưởng Trung ương đảng hay ban Bí thư Trung ương đảng, nhằm phục vụ chính sách, chủ trương của đảng CSVN.  Các sách giáo khoa sử liên hệ đến thời sự chính trị chắc chắn còn bị kiểm soát gắt gao hơn.

Từ giữa thập niên 80 thế kỷ qua, một số biến chuyển quan trọng diễn ra làm cho việc tuyên truyền của CS gặp khó khăn:  1) CSVN gặp khó khăn về kinh tế nên phải dần dần đổi mới, mở cửa từ khoảng từ năm 1985 trở đi. 2)  Khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào đầu thập niên 90. 3) Sự bùng nổ của mạng lưới thông tin quốc tế (Internet). Thông tin thế giới tràn vào Việt Nam qua nhiều cách khác nhau.  4)  Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại càng ngày càng lớn mạnh, đưa đến ba tác động quan trọng: Gởi tiền về giúp thân nhân trong nước. Một số người Việt về Việt Nam du lịch.  Người Việt Hải ngoại chuyển thông tin về trong nước.  Sự giao lưu trong ngoài là cơ hội làm cho người trong nước hiểu rõ hơn tình hình đất nước.  5) Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) ngày 11-1-2007, mở rộng giao thương với các nước trên thế giới.

Từ đó, tin tức, sách báo, thông tin từ nước ngoài càng ngày càng tràn ngập vào Việt Nam, nhất là qua đường Internet.  Dầu CSVN hết sức cố gắng thiết lập bức tường lửa để ngăn chận, nhưng đây là công việc “lấy thúng úp miệng voi”, không thể nào ngăn chận hết các nguồn tin tức.  Internet thường trực trên không gian, mọi người đều có thể truy cập nếu có điều kiện hoặc cơ hội.  Máy computer và các loại máy thông tin liên lạc khác, kể các loại phone tối tân chụp hình, thâu âm, càng ngày thông dụng ở Việt Nam.

Các sự kiện lịch sử đã bị CS bóp méo, dối trá, bịa đặt dần dần tái hiện nguyên hình, trở lại với sự thật trong quá khứ.  Từ đó những tuyên truyền, bịa đặt trong các sách sử CS hoàn toàn trở nên vô giá trị, từ những chuyện nhỏ như chuyện “đuốc sống” Lê Văn Tám, đến chuyện lớn như chuyện Hồ Chí Minh.  Chẳng những không còn tuyên truyền được, mà CS cũng không còn che giấu được.  Tất cả những biến cố lớn nhỏ đều được đưa lên Internet.  Thậm chí tấm hình ngày 30-3-2007, công an CS bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý trước Tòa án Huế, mà vẫn du lịch khắp thế giới trên Internet nhanh chóng dễ dàng.

Sự thật lịch sử làm cho dân chúng trong nước bừng tỉnh, nhất là giới thanh niên, sinh viên, học sinh, khiến họ hết tin tưởng ở chế độ CS, ở những tuyên truyền của CS, và ở sách sử CS cũng như giáo khoa sử CS.  Đó là lý do chính khiến học sinh Việt Nam ngày nay chán học môn lịch sử.  Theo phát biểu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tại Lễ vinh danh học sinh đoạt giải quốc gia môn sử được tổ chức sáng ngày 5-4-2013 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), thì chưa đến 10% học sinh giỏi môn lịch sử ở bậc trung học trên toàn quốc chọn học môn lịch sử ở bậc đại học. (http://giaoduc.net.vn ngày 4-5-2013.)

Gần đây, lại xảy một số sự kiện càng làm cho CSVN thêm khó khăn.  Đó là việc CSVN đầu hàng CS Trung Quốc, ký mật ước Thành Đô (Trung Quốc) năm 1990, rồi ký các hiệp ước nhượng đất (ải Nam Quan), nhượng biển (Vịnh Bắc Việt) cho Trung Quốc,  Khi Hải quân Trung Quốc ngang ngược vi phạm hải phận Việt Nam, tấn công ngư dân Việt Nam, người Việt Nam biểu tình phản đối thì bị CSVN đàn áp, bắt bớ, tù đày.  Điều nầy đi ngược với truyền thống chống Trung Quốc xâm lăng từ thời Hai Bà Trưng đến thời vua Quang Trung.  Làm sao mà thanh niên Việt Nam chịu đựng được?

4.-   VÌ SAO BỎ THI MÔN SỬ?

Khi được tin Bộ GD-ĐT CSVN bỏ thi môn lịch sử năm nay, nhiều người nghĩ ngay đến bàn tay của Trung Quốc trong quyết định nầy, nhằm xóa bỏ lịch sử Việt Nam, làm cho người Việt mất gốc.  Sở dĩ người ta nghĩ đến bàn tay Trung Quốc vì gần đây nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp, bắt giam, tù đày những thanh niêu yêu nước biểu tình phản đối âm mưu xâm lược của Trung Quốc, và nhất là mới xảy ra một hiện tượng không chấp nhận được là việc in cờ Trung Quốc trong sách học vần cho các em thiếu niên Việt Nam do cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hà soạn.  Liên tưởng đến sự can thiệp của Trung Quốc tuy có phần hữu lý, nhưng chưa phải là yếu tố quyết định việc bỏ thi môn lịch sử.

Yếu tố chính là đã qua rồi thời kỳ che giấu, bóp méo, xuyên tạc lịch sử để tuyên truyền cho chế độ CS.  Những tuyên truyền xuyên tạc lịch sử không còn hiệu nghiệm.  Một khó khăn lớn lao là viết sai các môn khác thì có thể sửa đổi dễ dàng, nhưng viết sai, xuyên tạc lịch sử một cách có hệ thống thì rất khó điều chỉnh.  Người ta có thể sửa đổi tương lai chứ không ai có thể sửa đổi quá khứ.

Ngày nay, CSVN không còn lợi dụng lịch sử để tuyên truyền được nữa, mà lại còn bị phản ứng ngược, có hại cho CS.  Phải chăng vì vậy bộ GD-ĐT được lệnh bỏ thi môn lịch sử năm nay để chờ đợi tìm kiếm lối thoát?  Lệnh nầy phát xuất từ cấp cao hơn bộ GD-ĐT vì bế tắc của ngành lịch sử CSVN không phải chỉ là bế tắc của bộ GD-ĐT, mà còn là bế tắc chính trị của ban Tuyên giáo, ban Văn hóa tư tưởng Trung ương đảng CSVN, hay ban Bí thư Trung ương đảng, và cả cấp cao nhất nước là bộ Chính trị đảng CSVN.

Bộ Chính trị đảng CSVN hiện nay (năm 2013) đang phải đối phó với quần chúng về kiến nghị đòi hỏi phải hủy bỏ điều 4 hiến pháp 1992.  Nguyên văn điều 4 hiến pháp nầy như sau: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.  Mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.” (Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Những văn bản pháp quy của Nhà nước Việt Nam liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài (đến ngày 31-5-1995), 1995, tr. 13.)

Đáp lại, bộ Chính trị đảng CSVN ra lệnh cho các địa phương lấy chữ ký của dân chúng để chống lại kiến nghị trên đây.  Với công an trong tay, bộ Chính trị đảng CS muốn bao nhiêu chữ ký cũng có thể có được để chống lại kiến nghị trên, nhưng điều 4 Hiến pháp 1992 có phần liên quan đến lịch sử  thì dù có nhiều chữ ký cách mấy đi nữa, cũng không thể sửa được, vì lịch sử là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ, không trở lui được nữa.

Phần lịch sử đó là “… Theo chủ nghĩa Mác-Lênin”, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị Nga vứt vào sọt rác sau sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991; theo “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sản phẩm giả hiệu tưởng tượng, mà ngày nay ai cũng biết rồi.  Theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” không khác gì trẻ em đi theo chú Cuội vào đêm trăng rằm.  Thầy cô giáo giảng dạy điều nầy ở các lớp trung học còn ngượng miệng, huống gì là các quan lớn trong bộ Chính trị đảng CSVN như giáo sư tiến sĩ tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bỏ điều 4 hiến pháp 1992 là một việc hoàn toàn hợp lý, vì từ trước đến nay, chẳng ai cho đảng CSVN được cái quyền là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.  Chuyện chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như chuyện “tư tưởng” Hồ Chí Minh đã là chuyện cổ tích.  Tuy nhiên nếu bỏ điều 4 hiến pháp 1992, nghĩa là bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và bỏ “tư tưởng Hồ Chí Minh” thì còn gì là nền tảng ý thức hệ của CSVN?  Còn gì là đảng CSVN?  Ngược lại, nếu không bỏ điều 4 Hiến pháp thì đảng CS ăn nói thế nào với dân chúng?  Đây là miếng gân gà khó nuốt của CSVN hiện nay.

Tuy chưa tìm ra lối thoát, xem ra các lãnh tụ CSVN vẫn đang còn  gân.  Trong điều 3 diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương đảng CSVN ngày 2-5-2013, tổng bí thư CSVN Nguyễn Phú Trọng tuyên bố “tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo…”  Như thế có nghĩa là “vũ như cẩn”.  Vẫn như cũ thì CSVN vẫn bế tắc, vì vốn liếng ý thức hệ CS đã hoàn toàn bị phá sản, CS đang lâm vào con đường cùng.

Đảng CSVN gặp bế tắc ý thức hệ, đi vào con đường cùng là chuyện của đảng CSVN.  Dân tộc Việt Nam là nạn nhân của CS và phải gánh chịu tai ương độc tài toàn trị của CS quá lâu, đã đến lúc phải vùng lên, tự mình cởi trói và trở lại con đường dân tộc, tự xây dựng tương lai đất nước.  Chỉ khi nào đất nước tự do dân chủ, không còn chủ nghĩa CS thì Việt Nam mới có thể tiến bộ được.

© Trần Gia Phụng

(Toronto, 5-5-2013)

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , | Leave a Comment »

Anh Chí – Quyền đá bóng ở xứ Vệ

Posted by Webmaster on May 14, 2013

dabong

Chiều nay, đội bóng NO U FC (đội bóng của những người yêu bóng đá ghét đường lưỡi bò) ra sân tập luyện như thường lệ tại sân bóng Thành Nam, quận Cầu Giấy. Trước đó, nhận lời mời thi đấu giao hữu với một đội bạn, đội No U FC chia quân làm hai đội: Đội hình chính thức đá đấu với đội bạn, đội hình dự bị chia làm 2 luyện tập đá nội bộ với nhau. Có rất nhiều các cổ động viên bao gồm nhiều lứa tuổi cũng ra sân cổ vũ đội thi đấu và tập luyện.

Trận đá đấu với đội bạn vừa tiến hành được vài phút thì chủ sân bóng Thành Nam ra yêu cầu hai đội dừng thi đấu. Trước sự vô lý đó, các cầu thủ No U FC đã yêu cầu chủ sân cho biết lý do vì việc thuê sân đã được làm hợp đồng trước đó và sau mỗi trận đấu, đội No U FC đều thanh toán tiền thuê sân bãi và nước uống đầy đủ. Chủ sân đã quanh co lý do ngừng trận đấu. Tuy nhiên, trước sự truy hỏi của toàn đội, chủ sân đã phải thú nhận lý do ngừng trận đấu là do bị an ninh ép buộc. Đội bóng đã truy hỏi tên người ra lệnh cho chủ sân và xin số điện thoại của người đã ra lệnh đó nhưng chủ sân không cho biết. Với lý do như vậy, đội bóng kiên quyết không chấp nhận dừng trận đấu và vẫn tiến hành trận đấu cho dù chủ sân đòi dừng.

Bên ngoài sân, hai nhân viên an ninh mặc thường phục (những người được nhân viên sân bóng mách là đã đến ép chủ sân dừng trận đấu) ngồi uống nước bên quán nước vỉa hè. Khi anh em cầu thủ trong đội bóng đi tới và hỏi họ có phải là những viên an ninh được phái đến và đã ra lệnh cho chủ sân ép đội No U FC ngừng trận đấu hay không thì họ chối bay và nói chỉ là người ngồi uống nước ven đường. Hèn quá! Dám làm mà không dám nhận.

Các cầu thủ tiếp tục thi đấu. Những cầu thủ dự bị kéo qua sân bên trong để chia quân ra luyện tập. Mọi chuyện tưởng như vậy đã yên ổn. Nhưng không. Sau khi chủ sân bị đấu lý và không dừng được trận đấu, phía an ninh cho gọi thêm người đến và một trong số họ vác dao đến đe dọa. Thấy vậy, mọi người dừng trận đấu và kéo ra đấu tranh và phản đối. Trước phản ứng mạnh mẽ và kiên quyết của các cầu thủ cũng như các cổ động viên, các nhân viên an ninh không dám manh động mà chỉ dám theo dõi đội bóng từ bên ngoài sân bóng cho đến khi hết giờ.

Câu hỏi được đặt ra: Ai đã chỉ đạo cho các nhân viên an ninh đến phá đám trận đấu chiều nay? Công an quận Cầu Giấy, công an thành phố Hà Nội hay Bộ Công An? Cho dù là ai chăng nữa thì những hành động đó đều vi phạm pháp luật, vi phạm quyền tự do của các công dân.

Chúng tôi, các cầu thủ và cổ động viên của đội No U FC, cực lực phản đối những hành động vi phạm pháp luật, vi phạm quyền con người từ phía công an. Lần này không biết là lần thứ bao nhiêu kể từ khi đội bóng No U FC được thành lập (30.10.2011) cho đến nay đã bị phía công an gây sức ép với các chủ sân, đe dọa các thành viên mới xin gia nhập đội, đe dọa các đội bóng thi đấu giao hữu với No U FC: Từ sân bóng MIC trên đường Lê Văn Lương, sân bóng Liên đoàn bóng đá Việt Nam trên đường Lê Đức Thọ đến sân bóng Sơn Trang 2 trên đường Hoàng Minh Giám và đến nay là sân bóng Thành Nam trên đường Trần Thái Tông. Việc họ ra sức tìm đủ mọi thủ đoạn để đánh phá đội bóng No U FC chỉ vì những người này DÁM cất lên tiếng nói PHẢN ĐỐI ĐƯỜNG LƯỠI BÒ (hình chữ U) trên biển Đông phải chăng là hành động tiếp tay cho phía Trung Quốc nhằm trấn áp tiếng nói từ người dân Việt Nam đối với những hành động xâm lấn ngày càng leo thang của phía Trung Quốc? Vụ việc xảy ra ngay sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mới đây khiến cho người dân đặt câu hỏi phải chăng chính quyền Việt Nam hành động như vậy để “làm đẹp lòng” chính quyền Trung Hoa???

Ngày 27-3-1946, báo Cứu Quốc số 199 có đăng bài “Sức khỏe và thể dục” của ông Hồ Chí Minh. Trong bài báo đó ông Hồ kêu gọi toàn dân tập thể dục để tăng cường sức khỏe. Ông Hồ đã viết: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe”, “Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được”. Ông Hồ cũng cho rằng “dân cường thì quốc thịnh”. Vậy mà giờ đây, nhà cầm quyền Việt Nam chỉ đạo công an phá đám sinh hoạt luyện tập thể dục thể thao của những người dân thì phải chăng họ đã chứng minh rằng những lời trên của ông Hồ là xúi dân làm bậy? Câu hỏi này xin được dành cho các lãnh đạo ngành công an.

Chúng tôi, đội bóng No U FC tuyên bố: Nếu tình trạng phá rối những sinh hoạt của đội bóng No U FC của lực lượng công an còn tiếp diễn, thì thay vì đá bóng, chúng tôi sẽ tiến hành tổ chức những cuộc biểu tình phản đối những hành động đó của lực lượng công an ngay tại trước sân bóng bị cấm đoán, tổ chức những cuộc biểu tình trước trụ sở của ngành công an một cách công khai. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ tiến hành những biện pháp phòng vệ chính đáng nếu phía công an tiến hành những hành động vi phạm pháp luật xâm hại đến thân thể và tính mạng của các cầu thủ cũng như các cổ động viên. Mọi trách nhiệm đều thuộc về phía công an – những người nhận tiền lương từ những người dân như chúng tôi đóng góp để đảm bảo trật tự trị an của xã hội.

Dưới đây là một số hình ảnh của những viên công an đã đến phá rối trận đấu cũng như mang hung khí ra đe dọa đội bóng chiều nay (12.05.2013):

congan1congan2congan3congan4

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , | Leave a Comment »

Hình ảnh Lễ kỷ niệm năm thứ 19 “Ngày Nhân quyền Việt Nam”

Posted by Webmaster on May 13, 2013

Hình ảnh tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ

DSC03870

… tiến vào Hart Senate Building …

Vào Quốc Hội

DSC03861Trúc Hồ

… dạ tiệc tiếp tân …

Ông Nguyễn Thanh Bhhh CT/CD Massachusetts

DSC03909

Tiến Sỉ Nguyễn Đình Thắng và CT/CD Massachusetts Nguyễn Thanh Bình

… Tiến Sĩ Nguyển Đình Thắng và Chủ Tịch Cộng Đồng Massachusetts Nguyễn Thanh Bình.

Hình ảnh tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

DSC03931

DSC03927

DSC03911

DSC03919

Ông Daniel Baer, phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động

Bác Sỉ Nguyễn Quốc Quân và Ông Daniel Baer, phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động.

Posted in HPNCV/NE, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Sinh hoạt, Tác giả hải ngoại | Tagged: | Leave a Comment »