Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for the ‘Văn’ Category

Vết Nám Hồi ký Tù Cải Tạo

Posted by Lê Đạt Đức on May 5, 2016

hoànglonghải(tuệchương)

&

 Bài 33     Người về…


Mẹ có hay chăng con về,

Chiều nay thời gian đứng im để nghe…”

Người Về/ Phạm Duy

&

            Võ Phước Thọ được tha ra khỏi trại cải tạo, chưa được một năm thì qua đời! Anh em bạn tù cũ nghĩ rằng, khi còn trong tù, Thọ tham gia “Hội Nhân Quyền Việt Nam” của luật sư Trần Danh San, vô ra “cát xô” nhiều lần, “như cơm bữa”. Mỗi lần bị nhốt như thế, Thọ đều bị Công An “đánh hội đồng”, khiến Thọ bị “bệnh hậu”, gan ruột bị hư. Cái chết của Thọ là do những trận đòn tàn ác của Việt Cộng.

Trước 1975, Võ Phước Thọ, thiếu úy Cảnh Sát Quốc Gia, ngành Đặc Biệt, phục vụ ở Kontum. Theo lệnh Tổng Thống, anh theo đơn vị di tản về Pleiku, và thoát chết mấy lần trên Quốc Lộ 7.

Tôi không rõ vợ con Thọ như thế nào, ngoài một lần, Thọ rút ví cho tôi xem một bức hình một cô gái còn trẻ lắm, khá đẹp, nói: “Vợ em!” Thọ không nó gì thêm, nên tôi không rõ, vợ Thọ hiện ở hải ngoại, hay qua đời; còn như ở Saigon thì không, vì Thọ không được ai thăm nuôi, kể từ khi Thọ vào tù. Thọ kém tôi khoảng mười tuổi.  Read the rest of this entry »

Advertisements

Posted in Hoàng Long Hải, Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn | Tagged: | Leave a Comment »

Thành Kính Phân Ưu

Posted by Lê Đạt Đức on March 23, 2016

hoa hong

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England đau buồn được tin

Hội Viên, người bạn cùng chí hướng của chúng tôi:

Bà LÊ THỊ THU HƯỜNG

Pháp danh: HUỆ THƯỜNG

 Hiền thê của nhà văn Tuệ Chương – Hoàng Long Hải

Đã mệnh chung lúc  2 giờ 24 phút sáng ngày 22 tháng 3 năm 2016,

nhằm ngày14 tháng 2 (thiếu) năm Bính Thân, tại thành phố Worcester,

tiểu bang Massachusetts, hưởng thọ 77 tuổi.


ngon nen

Toàn thể thành viên Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England  xin thành kính chia buồn cùng nhà văn Tuệ Chương – Hoàng Long Hải và gia quyến.   Nguyện cầu hương linh Huệ Thường được an nhàn nơi Cõi Phật.

 

 

Posted in Hoàng Long Hải, HPNCV/NE, Phân Ưu | Tagged: , | Leave a Comment »

Nàng Công Chúa Giữa Rừng Lào

Posted by Webmaster on March 7, 2016

Tưởng Năng Tiến – Đàn Chim Việt.

“Lào, dường như, là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có nhật báo tiếng Hoa.”- Patrick BoehlerNew York Times.

Nowy-obrazCùng lúc với thời gian đồng tiền Đông Dương còn lưu hành ở Việt/ Miên/ Lào, chuyện (vui) sau đây cũng được lưu truyền quanh bàn nhậu:

Có một kỹ sư nông nghiệp của nước Pháp kết bạn với một ông nông dân Lào. Ông này hỏi ông kia:

Vậy chớ với ba mẫu đất này thì mỗi năm sản xuất được bao nhiêu tấn lúa?

Ba.

Sao ít xịt vậy, cha nội? Để tui bầy cho, canh tác theo đúng kỹ thuật thì hàng năm sẽ thu hoạch được chín tấn là giá chót.

Vài ba năm sau, họ lại có dịp hàn huyên:

Chớ năm rồi, thu được mấy tấn?

Ba.

Trời, bộ không làm theo phương pháp tui chỉ sao?

Làm đúng y chang vậy chớ nhưng bây giờ tui chỉ còn cầy cấy có một mẫu thôi.

Sao vậy ?

Ba tấn đủ sống rồi. Làm chi cho nhiều. Mệt.

Nowy-obraz-1

Người Lào, rõ ràng, không tha thiết gì lắm với chuyện làm ăn. Họ cũng chả bận tâm gì mấy tới việc dành dụm, hay tích lũy.

Những khẩu hiệu quen thuộc (“Một Người Làm Việc Bằng Hai/Làm Ngày Không Đủ Tranh Thủ Làm Đêm Làm Thêm Giờ Nghỉ”)ở nước CHXCNVN – chắc chắn – không cách chi lọt được vào tai của dân xứ Lào. Hổng tin, thử ghé qua thủ đô Vạn Tượng coi chơi (vài bữa, hay vài tuần) cho biết.

Ở đây, du khách có thể thưởng thức hương vị thức ăn của rất nhiều chủng tộc (Hương Việt Vietnamese Food, Parisien Cafe, Kiku Japanese Restaurant, Korean BBQ, Indian Buffet, Ban Mai Restaurant, Antica Spaghetteria Italiana, Salana International Cuisines, Best Thai Restaurant, Quán Ăn Sài Gòn, Scandinavian Bakery) duy chỉ có nhà hàng của dân bản xứ là tìm hoài không thấy!

Nowy-obraz-2-450x337

Dân số ở thủ đô Vientiane ước chừng non triệu. Gần mười phần trăm là Việt Nam, nếu tính luôn số sinh trưởng tại Lào – thường được gọi là người Việt cũ. Tuy thế, trên bất cứ con đường lớn/nhỏ nào ở Viêng cũng đều có những bảng hiệu (chỉ) ghi bằng Việt ngữ:

Phở Bò Tái Chín, Cơm Rang Mì Xào Gia Truyền Nam Định, Quán Cơm Chị Gái, Cơm Tấm Bún Bò, Sài Gòn Bê Thui, Cháo Gà Đà Nẵng, Beauty Salon Khải Băng, Kim Dung Coffee, Sửa Chữa Xe Máy, Nhuộm TócLàm Móng Gội Đầu, Quán Thịt Dê, Bánh Mì Đặc Biệt, Hớt Tóc Nam Nữ … Đó là chưa kể hàng trăm xe kem, xe trái cây, xe xôi chè, xe nước giải khát … (cũng) của người Việt len lỏi khắp nơi.

Nowy-obraz-3-450x337

Thiên hạ chăm chỉ làm ăn, và tận tình khai thác xứ sở của mình ra sao – dường như – cũng không phải là nỗi bận tâm của người Lào. Khoáng sản, lâm sản, đồn điền cà phê, cao xu … họ cũng đều vui vẻ nhường hết cho bá tánh mặc tình thao túng.

Nowy-obraz-4-450x337

Dân của đất nước Triệu Voi hoàn toàn hờ hững trong việc mưu sinh, và rất trầm tĩnh khi lưu hành trên đường phố. Tôi thề có trời là không hề thấy một anh cảnh sát, và cũng không hề nghe một tiếng kèn xe nào ráo,trong suốt hai tuần lễ ở Viêng Chăn. Một khuôn mặt giận dữ, hay một nét mặt nhăn nhó/cau có cũng không luôn.

Trên những con đường ở ven đô – đôi lúc – tôi còn bắt gặp những người lái xe bình thản ngồi chờ vài con bò, đủng đỉnh qua đường, với ánh mắt cùng thái độ an nhiên của một triết nhân!

Nowy-obraz-5-450x217

Cũng dọc theo những nẻo đường quê, loa phường được giăng đều đặn theo cột điện. Ngủ lại đây vài đêm, có sáng tôi nằm lắng nghetiếng loa và vô cùng ngạc nhiên vì cái âm điệu khoan thai hiền hoà của những xướng ngôn viên. Hỏi ra mới biết hệ thống phát thanh này chỉ dùng để cho những nhà sư đọc kinh hay giảng kinh Phật vào những ngày rằm (và cũng là ngày nghỉ việc) thôi.

Người Lào, kể cả đám cán bộ tuyên huấn Lào Cộng chắc vẫn còn giữ được phần nào bản tính chất phác nên không thể nói dối (xoen xoét) suốt ngày – như Việt Cộng. Thảo nào mà nhạc sĩ Tô Hải đã không tiếc lời khen: “Nước Lào rồi đây sẽ vượt VN về nhiều mặt… mà cái mình thấy họ vượt hơn hẳn là: Không muốn bẻ quẹo sự thật!”

Cập rập, lật đật, hối hả, vội vã, hấp tấp, khẩn trương … là những hạn từ (dám) không có trong tự điển tiếng Lào.Nhiều người cứ ngỡ Chủ Nghĩa Marxism Leninism Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm đã trói chân được dân Lào; ai dè nó lại nằm (dài) giữa thủ đô Vạn Tượng – nơi mà phần lớn những lá cờ búa liềm của Đảng Cộng Sản Lào đều treo ủ rũ, và đều đã bạc hết mầu.

Chú dân phòng, ông công an khu vực, bà tổ trưởng dân phố, và những cuốn sổ hộ khẩu cũng không có mặt ở Viêng Chăn. Bởi thế, những người Việt tôi gặp ở nơi đây đều không ngớt ca tụng phần đất này (“sống thoải mái hơn ở bên mình nhiều lắm”) dù phần lớn họ đều là những di dân không hợp pháp.

Vientiane an bình thiệt. Thành phố này không có ăn xin, không có trộm cắp, không có những căn nhà kín kẽ rào sắt (hoặc dầy đặc kẽm gai bao quanh khung cửa) như ở Phnom Penh. Cũng không dầy đặc xe cộ, cùng những toà nhà cao tầng như thủ đô Bangkok.

Ký giả Ngọc Hoà ví von rằng : “ … xứ sở Triệu Voi tựa như cô công chúa ngủ quên trong rừng vừa được đánh thức!” Tôi (trộm) nghĩ thêm rằng nàng hiện đang rất bối rối vì chợt mở mắt ra đã thấy có quá nhiều chàng trai đang xun xoe bên cạnh.

Kẻ có ưu thế đến trước, chắc chắn, là cái anh người Pháp. Ở Thủ Đô Vạn Tượng vẫn còn thấy nhan nhản những bảng hiệu “Adam Tailleur,” “Boulangerie à Vientiane,”và luôn cả“Lycée Vientiane” nữa.

Những cơ quan cấp bộ vẫn giữ nguyên tên của thời thuộc địa: MINISTÈRE DE L’ENERGIE ET DES MINES, MINISTÈRE DE LA JUSTICE, MINISTÈRE DE LA SANTÉ … Riêng bộ Thông Tin, Văn Hoá & Du Lịch (lại) tỉnh queo “chơi” một hàng chữ tiếng Anh: MINISTRY OFINFORMATION, CULTURE & TOURIST!

Nowy-obraz-7-450x337

Nowy-obraz-8

Ảnh chụp tháng năm 2015

Ảnh hưởng của cả Pháp lẫn Anh – tuy thế – không rõ nét, cũng không sinh động, và quyến rũ bằng những chiếc xe xinh sắn với đủ loại sắc màu (Kia Soul, Hyundai Elanta, Toyota Camry, Honda Civic…) đang chạy quanh trên khắp mọi nẻo đường của Xứ Sở Triệu Voi. Hai chàng trai Nam Hàn và Nhật Bản, rõ ràng, đã để lại ấn tượng khó quên trong trái tim của cô công chúa vừa thức giấc.

Nowy-obraz-9-450x337

Ai cũng biết là rất nhiều tỷ Mỹ Kim, cùng hàng trăm ngàn người Trung Hoa đã “đổ” vào Lào trong hai thập niên qua. Tuy thế, theo phóng viên thường trú của New York Times (tại Hồng Kông) Patrick Boehler: “ Lào, dường như, là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có nhật báo tiếng Hoa.” (Laos, it seems, is the only Southeast Asian nation without a Chinese language daily newspaper.)

Vẫn ví von mà nói thì nàng công chúa Lào, xem ra, chả mặn mà gì với cái gã Tầu già nua, thô lỗ và có quá nhiều tai tiếng (về tính đểu cán) này. Năm 2010, Viện Khổng Tử đầu tiên được thiết lập tại Trường Đại Học Quốc Gia Lào. Qua năm sau, tại đây lại khai giảng thêm lớp học tiếng Tầu – giảng dậy vào cuối tuần – do những giáo viên Trung Hoa phụ trách. Ban giảng huấn phát biểu:

“Chúng tôi hy vọng rằng họ có thể dùng cơ may này để mang tiếng Hoa vào chương trình trung học ở Viêng Chăn, và càng ngày sẽ càng có thêm học sinh cấp trung học hiểu được ngôn ngữ và văn hoá Trung Hoa.” (We hope that they can make use of this good chance to bring Chinese into the middle school in Vientiane, and more and more middle school students can understand Chinese language and Chinese cultures.)

Niềm hy vọng này, ngó bộ, có hơi phi phỏng. Ngoài cái Viện Không Tử, và ngôi nhà vô cùng khiêm tốn dùng làm văn phòng của Hội Ái Hữu Người Hoa ở Vạn Tượng ra, tôi không thấy dấu vết “văn hoá” gì rõ nét của Trung Hoa ở đây cả. Bước ra khỏi khu phố này thì tiệm ăn Tầu cũng biến mất luôn. Thảo nào mà Patrick Boehlercòn gọi khu phố Tầu ở thủ đô của Lào là một nơi trì trệ hay tù đọng (a stagnating Chinatown).

Soft Power của Trung Cộng, nếu có, e cũng chả tác dụng chi nhiều ở xứ Lào. Khổng Tử (xem chừng) không đứng được giữa núi rừng thiên nhiên nơi mà phép tắc và lễ giáo hoàn toàn không cần thiết, nhất là cái thứ lễ giáo và đạo đức (chuyên nói một đằng làm một nẻo) của … nền Văn Hoá Búa Liềm.

Cái “tạng” của người Lào, rõ ràng, không hợp với loại công việc luôn nhễ nhại mồ hôi, cắm cúi suốt ngày vào chảo lửa, nấu nướng, bưng bê, và rửa chén cho thiên hạ. Họ ưa rảnh rỗi và chỉ thích những sinh hoạt tâm linh, chiêm bái, lễ lạc thôi.

Nét nổi bật của Vientiane là những ngôi chùa u mặc và thần bí. Phải nhìn thấy thái độ hết sức nghiêm trang và thành khẩn của người Lào, khi cúng dường thực phẩm cho những vị sư đi khất thực, tôi mới “ngộ” ra tại sao chủ trương vô thần của người cộng sản không thể “trụ” được ở xứ sở của họ.

Đã thế, hôm 31 tháng 1 vừa qua, nhà báo Lê Phan lại vừa ái ngại cho hay:

“… Đảng Cộng Sản Lào đã có một quyết định làm Bắc Kinh choáng váng khi họ lật đổ toàn bộ hàng lãnh tụ thân Bắc Kinh và đưa một nhân vật vốn lâu nay bị gạt sang một bên chờ về hưu lên cầm quyền.”

Năm 2012, ngoại tưởng Hillary Rodham Clinton đã thực hiện một cuộc thăm viếng lịch sử ở Lào. Theo AP, năm nay (năm 2016) Obama sẽ là vị tổng thống Mỹ đầu tiên đến Lào trong chuyến công du Đông Nam Á.

Lại thêm một chàng trai nữa đến từ Châu Mỹ. Công chúa Lào, hẳn nhiên, có thêm đối tượng để mà lựa chọn.

Tôi không rành về bói toán và chính trị nên không thể đoán trước được hậu vận của nàng công chúa (vừa thức giấc) giữa rừng này. Chỉ cầu mong cô sẽ luôn luôn được an bình và gặp nhiều may mắn. Sự an bình và may mắn của đất nước Triệu Voi, chắc chắn, có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của hàng trăm ngàn đồng hương của tôi đang đang tha phương cầu thực nơi đây.

© Tưởng Năng Tiến – Đàn Chim Việt.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Năng Tiến, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: , , | Leave a Comment »

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

Posted by Webmaster on February 1, 2016

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Vương Trí Nhàn

Tác giả:  Tưởng Năng Tiến

Thi sĩ Dương Tường vừa viết thư (“Gửi Bạn Ở Cõi-Bên-Kia”) nhân ngày giỗ đầu – ngày 18 tháng 12 năm 2015 – của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

Đường Văn CaoThế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây…

 

Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán? Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước …

Đại lộ Phạm Hùng. Ảnh:TOITHICHDOC.BLOGSPOTBức thư thượng dẫn làm tôi nhớ đến những mẩu đối thoại (tưởng tượng) khác, cũng của người ở cõi dương với bạn bè ở bên kia thế giới:

Tôi thỉnh thoảng dạo phố vẫn hay dừng lại nhìn lên một tên phố mà chuyện trò lặng lẽ với con người ngồi ở trên cái bảng sắt tây dó. Để nghe anh ta giãi bày. Và cũng để anh ta đừng tưởng bở.

Thí dụ Văn Cao, ngày hai lượt ra trung tâm thành phố và về Cầu Giấy, tôi từng có lần hỏi anh: Cậu khỏe không? … Bây giờ ở trên cao này có thấy sao không?” Thì Văn Cao bảo tôi:“Tao làm nhạc, làm thơ, vẽ, ai hay nay làm diễn viên lên sân khấu đóng vai kịch ca ngợi đảng trọng hiền tài. Mày với tao sống trong cái chăn toàn rận này, mày lạ đ. gì nữa.

Hôm nọ thằng Dương Bích Liên nó lui lủi đi dưới kia, đầu chúi chúi, hai tay đút túi quần. Tự nhiên nó nhìn lên hỏi, mày lại cam ra làm bù nhìn bịp cho cái chính sách yêu vớt trí thức ư?Thế là tao rơi đánh xoáng một cái xuống. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh: triviet24h

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh: triviet24h

Tôi thì trộm nghĩ rằng những con phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu (e) chả phải là vở kịch “đảng trọng hiền tài” hay “chính sách yêu vớt trí thức” – như cách dụng ngữ của nhà văn Trần Đĩnh đâu. Những người cộng sản Việt Nam có đời nào mà tử tế dữ vậy. Họ cũng chưa bao giờ qúi trọng hay yêu thương gì giới trí thức cả, “giả trọng” hay “yêu vớt” cũng không luôn.

Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt, và nói theo lối thường dân (Nam Bộ) thì đây chẳng qua chỉ là “chính sách ăn theo” hoặc “chiến thuật dựa hơi” của Đảng mà thôi.

Kiểu chơi láu cá chó này ai cũng biết, đâu có xa lạ và mới mẻ gì. Tạp chí Khởi Hành số phát hành tháng 8 năm 99 – từ California – đã có bài viết (“Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”) của Thạc Sĩ Trần Anh Tuấn, về mấy cái mánh (lặt vặt) như thế tự lâu rồi.

Một phần của bài viết, Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một – do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập – nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ghi nhận và phân tích như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.

Nhạc sĩ Tô Hải mô tả đây là “cái trò nhố nhăng định khoanh vùng lịch sử chỉ còn ở cái ‘thời rực rỡ nhất’ là do Đảng họ lãnh đạo thôi,” chứ CS chả có lòng “yêu vội” hay “yêu vớt” gì Trần Ðức Thảo, Ðào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… cả. Họ chỉ “dựa hơi” những nhân vật trí thức này để mở đường cho cái đám thất phu (cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh …) được dịp “quá giang” hay “đi ké” vào lịch sử – như những gương mặt trí thức – Việt Nam.

Tương tự, những con đường mang tên Nguyễn Chí Thanh,Xuân Thủy, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn … sẽ bớt dơ dáng và dị hợm (phần nào) khi được đặt cùng với mấy tên phố tử tế và đàng đàng hoàng khác: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Làm thế coi cho đỡ chướng, và ngó cũng dễ “nuốt” hơn. Trông cũng giống như mấy lát mì cõng cơm (ăn độn) vậy mà!

Tôi còn sợ rằng giấc mơ của Dương Tường (dám) lại là ác mộng của Bùi Ngọc Tấn nữa chớ. Thưở sinh thời, đã biết bao lần nhà văn của chúng tatừng phải sống qua những ngày tháng hốt hoảng và tuyệt vọng:

… bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’…. Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. …Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa… có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

“Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Ðã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Ðời này sang đời khác.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương. Fallchurch, VA: 2014).

Cho mãi đến khi từ giã cõi đời, Bùi Ngọc Tấn mới hết bị “theo dõi” và mới hoàn toàn thoát khỏi “cái cảm giác như một con thú bị nhốt trong chuồng.” Thế mà cái “con thú” này bất ngờ lại được lên tên đường, và cận kề với toàn danh nhân (của ngành công an) những nhân vật “toàn quyền làm những việc họ thích” và có thể “huy động cả guồng máy khổng lồ để hại” người cỡ như Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng … thì rõ ràng là một chuyện rất … hãi hùng – một cơn ác mộng – chớ còn gì nữa? Không khéo Bùi Ngọc Tấn lại “rơi đánh xoáng một cái” như không!

Tương tự, tôi e rằng Văn Cao cũng không cảm thấy vinh dự hay hạnh phúc gì cho lắm (sau một kiếp “sống trong mộtcái chăn toàn rận”) khi ông bị đặt nằm giữa những con phố đầy rẫy bất trắc và tệ đoan xã hội:

– “Quét Gái Mãi Dâm Trên Đường Nguyễn Chí Thanh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Đột Nhập Động Mãi Dâm Trên Đường Phạm Văn Đồng” – báo Người Đưa Tin

– “Bắt Kẻ Giao Hàng Trắng Dọc Đường Trường Chinh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Trộm Vàng Táo Tợn Trên Đường Xuân Thuỷ” – báo VietNamNet

– “Phóng Viên Truy Đuổi Đối Tượng Trộm Cắp Trên Đường Phạm Hùng” – báo An Ninh Thủ Đô

-“Dàn Cảnh Cướp Xe Trên Đường Hồ Chí Minh” – báo Dân Trí

-“Xe Buýt Lại Tông Người Trên Đường Lê Duẩn” – báo Người Lao Động

– “Xuất Hiện Hố Tử Thần Trên Đường Trần Quốc Hoàn” – báo Lao Động

-“Tảng Đá Chục Tấn Rơi Trên Đại Lộ Nguyễn Tất Thành” –Báo Mới

– “Ôtô Điên Trên Đường Tôn Đức Thắng” – Báo Mới

-“Đột Kích Hàng Loạt Tụ Điểm Mát Xa Kích Dục Trên Đường Nguyễn Duy Trinh” – Báo Vnexpress.

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài những tội ác vô phương chối cãi – người Pháp cũng đã để lại cho xứ sở này những thành quả hiển nhiên, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, kiến trúc… Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng là “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.”

Sau đó, dân Việt bị còng tay (chặt hơn) bởi những người cộng sản rồi buộc phải… đi lùi! Đó là lý do tại sao trước khi được “vinh hạnh” mang tên “những vị anh hùng cách mạng,” phố phường Hà Nội (nói riêng) và của cả nước (nói chung) sạch sẽ và an lành hơn hiện cảnh rất nhiều.

Điều phiền phức và rắc rối hiện nay là dân Việt không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Họ đã bị đẩy đến tận chân tường rồi. Bởi thế, những người cộng sản khó mà có thể tiếp tục giữ được quyền bính trong những ngày tháng tới.

Khác với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản khi sụp đổ không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và vô số những con đường (cũng như những ngôi trường, những cơ quan, dinh thự …) buộc phải thay tên!

Đến lúc đó, có lẽ, vẫn chưa muộn để “Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán … Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn” – như giấc mơ của Dương Tường.

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Giấc Mơ Đi Biển

Posted by Webmaster on February 3, 2015

Nguyễn Hùng Sơn

Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng

Tuâ

Tranh vẽ HQ.2 của Họa sĩ Nguyễn Hùng Sơn

Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng, tàu về nhận tiếp tế trong vài ngày, rồi tiếp tục lên đường… Chúng tôi đứng trên đài chỉ huy, dői mắt vào chiếc duyên tốc đỉnh PCF của Hải Đội III Duyên Phòng, đang loay hoay cặp vào chiến hạm. Trời tháng 10, biển có nhiều sóng, chiến hạm phải thả thêm 2 trái độn lớn để chiếc PCF được an toàn hơn. Từ con tàu nhỏ chòng chành, nghiêng ngả, các SQ, HSQ và nhân viên thuộc chi đội đi bờ, măn phép, lần lượt trở về chiến hạm. Trong nhóm những người ấy, tôi thấy có 2 tân thiếu úy. Họ trong tư thế thật nghiêm trang, đặt túi quân trang xuống sàn tàu, đứng nghiêm, thẳng người, quay mặt về hướng quốc kỳ phía sau lái, rôì đưa tay chào thật hùng dũng, đúng quân cách. Nhìn nét mặt rạng rỡ đầy hãnh diện của họ, giấc mơ của một thời tuổi trẻ, bất chợt bùng lên trong tôi.

Giấc mơ của tôi thật đơn giản, “được đi biển”! Hình ảnh của con tàu và biển cả luôn là ước vọng trong suốt khoảng đời mới lớn của tôi. Ngày ấy tôi mê say đóng những con tàu nhỏ xíu bằng cây, rồi xếp đám lính đồ chơi bằng nylon lên boong tàu. Chúng tôi chia 2 phe, mỗi phe một chiếc tàu và dùng dây thun bắn vào đám lính đồ chơi của nhau. Đám lính của phe nào ngă hết trước thì phe ấy thua. Cuộc chơi chỉ có chừng đó, nhưng chúng tôi chơi mãi không biết chán… Giấc mơ cứ thế lớn dần.

Xong Tú Tài II, tôi vội vã thi vào trường Hàng Hải Phú Thọ nhưng bị loại. Mức độ chiến tranh càng lúc càng tăng. Lệnh tổng động vięn lại được ban hành. Tôi không còn một chút hy vọng nào để bước chân vào trường Hàng Hải, đành phải nương náu hoãn dịch ở một đại học không thi tuyển. Mặc dù vậy, giấc mơ con tàu và biển cả vẫn còn đó trong tôi.

Các chuyến xe GMC âm thầm rời trường Bộ Binh Thủ Đức, đưa chúng tôi về lại BTL/HQ trước khi khóa 1/70 SQTB ra trường. Không có lễ măn khoá, không trống kèn, không đại lễ diễn hành, không cung kiếm. Cũng chẳng có một nghi thức gắn lon, trao bằng tốt nghiệp nào cả. Cởi ra bộ quân phục SVSQ Bộ Binh mà chúng tôi đã mặc trong suốt 9 tháng thụ huấn. Khoác vào bộ quân phục Hải Quân với cặp lon chuẩn úy mới tinh, tự gắn. Lòng tôi nghe nhen nhuốm cay đắng. Một cảm giác khó chịu dấy lên trong lòng. Nỗi bùi ngùi về thân phận, về cái xuất thân kỳ quái của mình… Tình nguyện vào khóa 20 SQHQ/Nha Trang, bị tái khám về sức khỏe, rồi được xếp vào tài nguyên của khoá 21. Nhưng rốt cuộc Hải Quân lại đưa chúng tôi đi thụ huấn K1/70 SQTB tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong hoàn cảnh phải chấp nhận và không được giải thích này, tôi đă mang một mặc cảm bị bỏ rơi! (Mãi đến sau này, tôi tự tìm hiểu và được biết, vì nhu cầu khẩn cấp gia tăng quân số, HQ không đủ cơ sở huấn luyện, phải gởi một số tân binh và SVSQ đi thụ huấn tại các quân trường hoặc TTHL khác, để đáp ứng với hoàn cảnh Việt Nam Hoá chiến tranh).

Đơn vị đầu tiên của tôi là Giang Đoàn 57 Tuần Thám, đồn trú tại Nhà Bè. Đây là một căn cứ quân sự của Hải Quân Hoa Kỳ, nằm trong lãnh thổ Đặc Khu Rừng Sát, thuộc tỉnh Gia Định, vùng III chiến thuật. Cấp bậc của tôi, bây giờ được kèm thêm hai chữ “Chiến Binh”. Tôi không thích danh xưng “Chiến Binh” ấy và tự hỏi, tại sao lại gọi là chiến binh? Để phân biệt chăng? Nhưng phân biệt để làm gì?! Khi tất cả đều cùng chung một lý tưởng phục vụ?! Cũng may, nỗi buồn rồi qua mau khi tôi gặp lại hai người bạn cùng khoá 1/70 đến trình diện trước đó một ngày. Không kể CHT và CHP, sĩ quan của đơn vị gồm mười hai người. Trong đó, có đến chín người là”Chiến Binh”, cấp bậc từ chuẩn úy đến thiếu úy. Xuất thân các khóa 3/69, 6/69, 1/70 TĐ. Ngoài ra, còn có hai chuẩn úy Đoàn Viên và một chuẩn úy OCS. Chúng tôi không gặp nhau thường xuyên vì được phân tán theo các toán công tác khác nhau. Hoạt động tuần tiểu, hành quân trong các trục và khu vực cũng khác nhau.

Lúc ấy, đơn vị còn đang trong giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện tại chỗ (OJT). Chúng tôi thực tập qua những chuyến công tác trên chiến đỉnh Mỹ. tất cả đều xa lạ. Mặc dù vậy chúng tôi cũng đă cố gắng để sớm hội nhập vào môi trường sống mới, quen dần các sinh hoạt, cũng như rất ngưỡng mộ tinh thần kỷ luật, thái độ lịch sự, tôn trọng cấp bực của mỗi một quân nhân Hoa Kỳ mà tôi gặp gỡ.

Địa danh Nhà Bè, không xa lạ gì đối với người dân thành phố. Nhà Bè, một quận lỵ nhỏ gắn liền với Rừng Sát. Vùng nước lợ, đất thấp ngập nước, sình lầy, sông rạch chằng chịt, rậm rạp dây leo và cây thấp. Nhiều muỗi, rắn rết và cá sấu. Trong quá khứ Rừng Sát đã được biết đến qua các cuộc hành quân tiểu trừ loạn quân Bình Xuyên, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Rừng Sát. trải rộng 405 dặm vuông. Từ ranh giới Cát Lái, dọc quốc lộ 15 đi Vũng Tàu, suốt chiều dài sông Thị Vải, vòng qua vịnh Gành Rái, Cần Giờ, Long Thạnh, cửa sông Đồng Tranh, rồi bọc vòng lại Nhà Bè với sông Soài Rạp. Đôi khi địa bàn hành quân mở rộng đến vùng cửa sông Vàm Cỏ, lãnh thổ của tỉnh Long An và Vàm Láng thuộc tỉnh Gò Công. Các đơn vị đồn trú và tham chiến Việt Mỹ, gồm đủ cả Hải Lục Không Quân. Nhưng nỗ lực chánh vẫn là các lực lượng trấn giữ của Đặc Khu Rừng Sát. Riêng về HQVN, ngoài giang đoàn 57 TT, còn có 27 Xung Phong, 93 Trục Lôi và đôi khi có thêm một hay hai phân đội của giang đoàn 52 TT từ Cát Lái đến tăng cường. Đặc biệt hơn là các đơn vị Tình Báo, Biệt Kích, Thám Sát, Người Nhái, vẫn thường xuyên, âm thầm hoạt động.

Những trận đánh rất thường xảy ra, nhưng không ở mức độ lớn. Đại quân của CS nếu có thể, chỉ ở phía bên kia núi Thị Vải, Bà Rịa. Địa thế Rừng Sát, cây thấp, nước ngập, sông rạch chằng chịt không phải là nơi tập trung quân tốt. Nhưng lại là một vị trí chiến lược quan trọng. Địa thế rất thuận lợi cho lối đánh du kích, giao liên, nơi ẩn náu của các toán đặc công phá hoại CS, nhằm xâm nhập, khủng bố quấy rối Saigon. Đây cũng là vị trí yết hầu mà CS luôn ước muốn bóp nghẽn, cắt đứt thủy lộ huyết mạch Lòng Tào để ngăn chận nguồn tiếp vận vào thủ đô.

HQ Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng giang đoàn là một người uy quyền, ông nói tiếng Anh khá thạo nên tạo được sự kính nể của ban cố vấn Hoa Kỳ, nhờ vậy vấn đề tiếp liệu, sửa chữa các chiến đỉnh được đầy đủ, chu đáo. Ở một cấp bậc thấp, tôi thật ngưỡng mộ kiến thức kỹ thuật, tài tháo vát điều hành của ông. Nhưng lối đối xử đôi khi thiếu tôn trọng nhân phẩm đối với thuộc cấp của ông, đã làm cho tôi rất khó chịu. Có lần tôi bạo dạn, yêu cầu ông đừng nói ĐM và mày tao với tôi vì Hải Quy không quy định như vậy. Thú thật khi yêu cầu như thế thì tôi rất lo lắng và chờ đợi một phản ứng trừng phạt của ông. Nhưng ông đã lắng nghe và sau gần một năm phục vụ, ông đă đưa tôi từ vị trí một SQ trưởng toán tuần tiểu lên trưởng khối giang đỉnh và rồi SQ hành quân.

Trong bối cảnh chiến tranh càng lúc càng gia tăng, phải đương đầu với vất vả, nguy hiểm hằng ngày. Sự căng thẳng sống chết đă biến những người lính trở nên lì lợm, bướng bỉnh. Họ là những chiến sĩ can trường, nhưng cũng là những con ngựa bất kham! Họ cũng như chúng tôi, mang một thân phận “bất phùng thời”. Có những người là thủy thủ tập sự hay cải tuyển đã hai, ba năm mà chưa được đi học chuyên nghiệp. Có những người đă tử trận mà vẫn chưa thành thủy thủ. Còn lại một số đã từng mặc hai ba sắc áo lính trong chiến trận. Những ngày đầu ra đơn vị đầy thử thách. SQ trưởng toán không có lính cơ hữu. chỉ mang trách nhiệm điều động 2 giang đỉnh trong một chuyến công tác mà thôi. Người có quyền hạn trực tiếp đối với các thủy thủ trên chiến đỉnh là HSQ thuyền trưởng. Đó là vấn đề rất tế nhị trong lănh vực chỉ huy. Các thuyền trưởng nhận lệnh từ SQ trưởng toán. Nhưng thủy thủ đoàn lại phục tùng thuyền trưởng hơn là SQ trưởng toán. Nếu không khéo, SQ trưởng toán có thể bị cô lập và ngược lại, nếu vì sợ bị cô lập, không dám chứng tỏ quyền hạn chỉ huy của mình để hoàn tất công tác, thì vị SQ trưởng toán ấy phải nhận trách nhiệm đối với CHT. Khi nhìn những vết xâm, vết thẹo chằn chịt trên ngực hay trên cánh tay của hầu hết các thủy thủ và một vài thuyền trưởng, tôi thật có nhiều ái ngại! Một gã học sinh, ngơ ngẩn vào lính. Cái lon chuẩn úy trên vai quả thật nhẹ bổng, non choẹt đối với những người lính dày dạn chiến trận. Điều tôi lo lắng không hẳn chỉ với quân thù mà chính là làm sao để điều động được những người lính này. Làm sao để khiến họ phục tùng khi giáp trận. Khó khăn rồi cũng qua đi. Khi những chiếc huy chương nhỏ được cài lên ngực áo, thì cũng chính là lúc mà tôi thông cảm và ngưỡng mộ sự hy sinh vô cùng lớn lao, xứng đáng của những người lính xâm mình lì lợm ấy.

Chiếc huy hiệu tam giác nền xanh lá cây ở giữa nổi bật hình chiếc giang tốc đỉnh PBR đang cắt sóng với hàng chữ Giang Đoàn 57 Tuần Thám. Đă bắt đầu cho tôi niềm hănh diện khi đeo nó trên ngực áo. Hai chữ “Chiến Binh” vẫn còn đó, nhưng dường như không ai màng đến. Trước các cuộc hành quân và tuần tiểu liên miên, trước cảnh sống chết mỗi ngày, chúng tôi chỉ còn rất ít thời gian để gặp gỡ. Và tình chiến hữu bỗng dưng trở nên gắn bó, sâu đậm như anh em. Cụm từ “huynh đệ chi binh” đă không còn là những khẩu hiệu, những nhắc nhớ trong âm nhạc mà chính là tinh thần sống của chúng tôi. Một giang đoàn tác chiến!

Cuối năm 1971, bất ngờ tôi được thuyên chuyển về BTL/HQ/KQH làm Trưởng Tiểu Ban Huấn Luyện Liên Quân thuộc Phòng Điều Huấn. Công việc của tôi là liên hệ, điều hành thủ tục các khóa huấn luyện bên ngoài HQ. Đặc biệt là lo thủ tục cho các SQHQ dự thi tuyển và vào học tại các trường Kỹ Sư Phú Thọ. Công việc tham mưu văn phòng, nhàn hạ, an toàn, có thể là một hấp dẫn của nhiều người. Nhưng với tôi, ngày càng thêm căng thẳng, bởi có quá nhiều đụng chạm. Tất cả những bước cứu xét tuyển chọn khóa sinh, đều phải dựa trên những điều kiện qui định bởi các văn thư của BTTM hay BTL/HQ. Thế nhưng sau khi báo cáo danh sách tuyển chọn, tôi thường xuyên phải đương đầu với những cú gọi đầy áp lực của một số SQ cao cấp trong hoặc ngoài BTL/HQ, gởi gấm, nhờ giúp đỡ cho thân nhân, đàn em của họ, những người không đủ điều kiện, nằm trong danh sách bị loại. Có khi đó là những lời “Toi, Moi” lịch sự nhả nhặn, có khi là hằn giọng hăm he. Tôi thất vọng, chán nản, xin trở lại giang đoàn tác chiến hay ra khỏi quân chủng. Đại Tá TMP/QH là một cấp chỉ huy mà tôi hằng kính trọng. Ông là người trí thức, bao dung nhân hậu. Trong tâm tình của người anh, ông an ủi và khuyên nhủ tôi nhẫn nại, chịu đựng, trở lại làm việc…

Bạn bè cho tôi là người hay lý tưởng hóa vấn đề, thiếu thực tế ! Điều đó đúng, tôi biết rő. Nhưng tôi không thể thoát ra được quan niệm công bằng trong tương quan cuộc sống. Phải chăng công bằng chỉ là một ước vọng?! Vừa định làm đơn xin trở lại giang đoàn tác chiến một lần nữa, thì được biết có khóa 1ĐB/SQHQ/NT dành cho các SQ Chiến Binh, tôi mừng quá ghi danh ngay

Tuần Dương Hạm HQ.2 Trần Quang Khải

HHTQK

Mãn khóa, tôi về tuần dương hạm HQ2 cùng với 3 người bạn. Đây là một chọn lựa mà chúng tôi đă hănh diện trước tràng pháo tay của các bạn đồng khóa.

HQ2 đă biến giấc mơ “Đi Biển” của tôi thŕnh sự thật. Tôi thích ứng ngay đời sống trên chiến hạm… Cho dů sóng to gió lớn, lạnh buốt sương mù hay những ngày êm ả nắng ấm… Biển cả luôn là một hấp lực, cuốn chặt tôi vào những say mê riêng tư. Tôi tha thiết với những ngày tháng trùng khơi sóng gió ấy, học hỏi rất nhiều trên đủ mọi lãnh vực. Từ chuyên môn đến chỉ huy. Tôi trân quý các kiến thức “Đi Biển” lượm lặt được từ những người đi trước, bạn bè và sách vở. Sóng và gió biển đă làm cho huy hiệu trên mũ và cặp lon trên vai của tôi đen xanh lại. Kinh nghiệm biển cả cũng nhờ đó lớn dần. Tôi dạ dẫm từ một SQ trưởng khẩu đại bác 127 ly, SQ hải pháo, cho đến Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Chiến Báo, rồi Trưởng Khối Hành Quân. Có lẽ vì đi biển là sở thích, nhưng cũng có lẽ từ một mặc cảm sâu thẳm nào đó của quá khứ, tôi luôn luôn buộc mình phải cố gắng. Tôi muốn thử nghiệm khả năng của một gã mang thân phận “Lưu Đày”.

Khác xa với không khí cởi mở, gần gũi “huynh đệ chi binh” như ở giang đoàn tác chiến, đời sống trên chiến hạm thật quy cũ, nguyên tắc và kỷ luật. Truyền thống ấy dựa trên quyền lực của Hạm Trưởng và các sĩ quan chỉ huy. Một kỷ cương có lẽ đã lâu đời trong lịch sử hàng hải Tây Phương, của những thời thuyền buồm. Mang dáng vẻ phong kiến mà ở đó SQHQ là giai cấp chỉ huy hoàng tộc và thủy thủ là giai cấp phục tùng bình dân. Trong khuôn khổ kỷ luật như vậy, quả thật đã trấn áp được nhiều cuộc nổi loạn của thủy thủ trong quá khứ. Đă chứng tỏ được sức mạnh của phục tůng tuyệt đối trong các cuộc hải chiến giữa các hạm đội hay với hải tặc xưa kia. Nhưng xem ra, nguyên tắc lănh đạo như thế quá khô khan, gò bó! Cả 4 gã “Lưu Đày” chúng tôi đều phải cố gắng gò mình trong cái khuôn khổ mới. Tuy vậy, đối với các SQHQ (truyền thống) dường như đó là điều tự nhiên.

“Lưu Đày” không có thói quen ấy, không đặt nặng ranh giới giữa SQ, HSQ và Đoàn Viên. Sự hoà mình trong quan niệm chỉ huy có lúc trở nên một vấn đề bị chỉ trích trên chiến hạm. Có lần tôi bị Hạm Trưởng than phiền rằng: “Anh làm đục nước Hải Quân” khi ông thấy tôi có mặt trong một quán nhậu chung với các thủy thủ. Hạm Trưởng rất đúng trong phương cách tạo sự cách biệt, důng uy quyền để chỉ huy. Nhưng chúng tôi không được huấn luyện như vậy. Trường Bộ Binh dạy chúng tôi lối chỉ huy của một SQ Bộ Binh, biết vận dụng sức lực của con người qua tâm lý “đồng tâm cộng khổ”, “huynh đệ chi binh”, cái nhìn chỉ huy mang tính cách liên đới “tình cảm” trong đó có trách nhiệm của người anh và bổn phận của đàn em. Cái nhìn gắn chặt “đội hình”, nghĩa là toàn đội và đồng bộ. Bởi vì rất dễ hiểu, khung cảnh sống của binh sĩ Bộ Binh không bị cô lập như các thủy thủ trên một con tàu giữa đại dương. Vã lại, “uy quyền” của một trung đội trưởng Bộ Binh tác chiến không đủ để áp lực, buộc các thuộc cấp xung phong thí thân xuyên thủng phòng tuyến địch nếu không có sự liên hệ tình cảm trước khi tuân phục. Muốn vậy, người SQ vừa là cấp chỉ huy nêu gương dũng cảm lại phải vừa là người anh được sự thương mến, gần gũi của đàn em.

Thời gian trước Hiệp Định Paris 1973. Chúng tôi rất bận bịu, hải pháo ngày đêm, tuần tiểu không thấy ngày về bến. Thường thì nhận tiếp tế ngoài biển. Nhưng đôi khi cũng có ghé vào một vài căn cứ vùng duyên hải. Rồi lại đi ngay, chẳng có chi đội nào được đi bờ. Những lúc ấy thật là thiếu vắng cái không khí sinh hoạt của đất liền. Tôi thèm lắm màu xanh lá cây, thèm lắm một chút xe cộ, bụi đất và cũng nhớ lắm hình ảnh xum họp gia đình. Biển cả đâu phải chỉ có những ngày rì rào nắng ấm, con tàu đâu phải chỉ êm đềm rẻ sóng trùng dương. Đã bao lần chiến hạm phải đặt trong tình trạng kín nước, đương đầu với sóng gió băo táp, sương mù. Mũi tàu như cắm vào biển cả và chân vịt như gầm gừ giữa khoảng không. Những cái lắc nghiêng ngả, xô đẩy, răn rắc của vỏ tàu… và những chàng Thủy thủ bơ phờ xiểng niểng, vài chàng mắt mũi lem nhem, tay bám thành tàu, tay xách thùng sô ói mửa… Chiến hạm trân mình xuyên qua từng đợt sóng dữ dội, hất té những con chuột say mèm sóng gió xuống sàn tàu, quay cuồng rồi lăn tòm xuống biển. Tôi mệt mỏi, bơ phờ, nhưng đầy thích thú.

Vào năm 1972. Một phái đoàn “Nghiên Cứu Phân Chim” của Bộ Quốc Phòng (?) gởi tháp tùng chiến hạm ra đảo Hoàng Sa. Trong buổi chiều, trước giờ hoàng hôn, biển bắt đầu động nhẹ, chúng tôi vài người còn nán lại ở sân mũi, chuyện trò. Bất ngờ, một vị Trung Tá Phòng 7 TTM thuộc phái đoàn, bước ra và nhập bọn với chúng tôi. Trong câu chuyện vui vẻ, ông nói : “HQ mấy anh sướng quá! Ăn cơm ngồi bàn, muỗng nỉa. Ngủ giường nệm trắng, tắm nước nóng. Chẳng bù với chúng tôi, muỗi mòng, vắt đỉa, sình lầy, gạo sấy, mưa nắng vất vả”! Đang nói, bất ngờ ông lợm giọng, ói một ngụm xuống biển (cho cá ăn!). Chúng tôi biết ngay là ông đang say sóng, nhưng không ai nói ra, chỉ đề nghị ông vào phňng nghỉ ngơi. Ông không chịu! Cho đến ngụm thứ 3 thì ông từ giả, “Có lẽ tôi bị trúng gió. Thôi chào các anh em nhé!”. Dáng ông nghiêng ngả theo nhịp lắc của con tàu . Chúng tôi nhìn theo cùng cười và thông cảm. Những ngày sau đó, chúng tôi không hề thấy ông, kể cả giờ cơm ở phòng ăn SQ. Thời gian công tác rồi cũng qua, tàu về neo ở cửa Tiên Sa Đà Nẳng. Chúng tôi tiển đưa phái đoàn qua PCF để vào bờ. Vị Trung Tá P7/TTM hôm ấy, đă đến bắt tay tôi, nụ cười thật tươi như sắp thoát khỏi một hoạn nạn. Ông nói, “Tôi nghĩ đi lính Bộ Binh sướng hơn! 
Đời lính thủy đâu có phải chỉ đương đầu với sóng gió. Phía sau giấc mộng hải hồ là cả một thử thách, những khứng chịu của sự cô đơn, của tách rời, của thèm khát mà một người trong đời sống bình thường không thể nào có thể cảm nhận và thông cảm được. Tôi chợt nhớ đă đọc được trên lưng chiếc Jacket của một anh Hạ Sĩ Giám Lộ, “HQ2 cù lao sắt”, hoặc là hàng chữ xâm trên tay của một chàng Thủy Thủ Vận Chuyển, “Xa quê hương nhớ mẹ hiền” . Hay những dòng chữ nguệch ngoạc “Ôi biển cả bây giờ ta mới biết. Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta!” trên một giường bố nào đó, trong phòng ngủ đoàn viên. Tôi hiểu rất rõ sự khứng chịu ấy và hòa nhập hoàn toàn vào những cảm xúc thiếu vắng của họ. Đời thủy thủ là như thế đó. Nhưng bổn phận, trách nhiệm và kỷ luật đã gắn chặt tất cả chúng tôi với biển cả bằng một sức chịu đựng chân thŕnh.
Về Sài Gòn. Quả như cánh cửa thiên đàng mở rộng, lòng chúng tôi hân hoan vô kể. Những bộ tiểu lễ được đem ra mặc và nhiệm sở dàn chào thật nghiêm trang, đầy hãnh diện. Lâu lắm, chúng tôi mới được trở lại thủ đô mến yêu. Tàu có 3 chi đội, nhưng đâu phải được đi bờ 100%. Chúng tôi luân phiên, một chi đội rời tàu đi bờ. còn lại 2 chi đội, ứng trực và trực phải có mặt trên tàu 24/24. Một lần tàu về Sài Gòn. Gặp lúc chi đội của tôi trực, nhưng anh em vẫn vui vẻ, náo nức chờ xuống phiên rồi sẽ đi bờ ngày hôm sau. Bất ngờ được lệnh nhận tiếp tế đạn tại chỗ và ra khơi công tác vào ngày mai. Lúc ấy vào buổi trưa, trời nóng bức. Tôi phải điều động cả 2 chi đội còn lại khoảng 20 người để chuyển 2000 viên đạn đại bác 127 ly từ một chiếc LCU cặp ở vị trí kế bên vào hầm đạn của chiến hạm. Lệnh công tác ban ra, chúng tôi như tiêu tan hết năng lực làm việc. Sau hơn 6 tháng xa gia đình, anh em ai cũng muốn về nhà. Ước mong tàu sẽ nghỉ được vài ngày. Nào ngờ chỉ mới một ngày, lại có lệnh đi!
Vì sự an toàn, đạn 127 ly có 2 phần rời, đầu và thân đạn. 2000 vięn đạn có nghĩa là 4000 lần chuyển đạn chia đều cho 20 người hôm đó. Trong trách nhiệm một SQ trực, tôi hiểu ngay sự khó khăn sẽ phải đương đầu đối với một hoàn cảnh tâm lý không thuận lợi như vậy. Tôi quyết định cởi áo, cůng với anh em ra khiêng đạn. Sau cùng chúng tôi hoàn tất trong hạn định. Tôi mệt lã, mồ hôi như tắm, mặt mày lem luốc, bước vào phòng ăn SQ để uống nước. Hạm Phó đă về chiến hạm từ năy giờ. Ông có mặt trong phòng ăn SQ lúc ấy. Thấy tôi, nét mặt ông bỗng trở nên hầm hầm, ông quát lớn :”ĐM, anh không biết chỉ huy! Không có tác phong. Anh bảo tụi nó làm chứ anh không phải làm! Thằng nào cải lệnh thì đá đít nó. Anh hiểu chưa?” Câu quát tháo ấy làm cơn giận của tôi suýt nổ bùng! Tôi hiểu tôi đă phạm qui định, vào phòng ăn SQ mà không ăn mặc chỉnh tề. Nhưng tôi lại nghĩ, đây là trường hợp bất khả kháng. Tôi cố gắng trình bày,”thưa HP, tôi đã hoàn tất nhiệm vụ được giao phó.”
Theo tôi, một người chỉ huy phải biết ước đoán, tiên liệu. Tůy theo hoàn cảnh, năng lực của thuộc cấp để đạt được mục đích là thi hành và hoàn tất lệnh của thượng cấp. Việc dùng uy quyền, la hét, đá đít thuộc cấp. Không nhất thiết và không phải là một cung cách chỉ huy hữu hiệu. Hai cái máy, nếu mở cùng một tần số thì nó sẽ hát như nhau. Nhưng nếu là 2 con người thì không thể áp dụng một “công thức” đối đăi như nhau được. Hơn thế nữa, buổi sáng sẽ khác buổi trưa. Chuyển đạn rồi được đi bờ sẽ khác với phải ra khơi… Người lính cũng là con người, và tôi cũng thế. Tôi nghĩ nhiều về thân phận của chính tôi, của những bạn bè đồng cảnh ngộ, của nhân viên thuộc cấp, lý tưởng và mục đích của cuộc chiến. Một ý niệm về trách nhiệm phục vụ rộng mở, không còn bị đóng khung hạn hẹp ở màu cờ sắc áo nữa. Trong cái nhìn xa hơn. Tôi tìm thấy được niềm tự hào góp phần phục vụ quê hương dân tộc.
Sân mũi báo cáo, neo đă về lại vị trí. Nhiệm sở kéo neo được giải tán. Chúng tôi vào nhiệm sở hải hành… Chiếm hạm rẻ sóng ra khơi. Qua làn khói đen từ ống khói, thành phố Vũng Tàu mờ dần ở phía sau. Một cảm giác bồi hồi lại dâng lên trong lòng. “Ra khơi”, từ ngữ thật lãng mạn, cái lãng mạn đầy ắp tính chất văn chương thơ phú! Ra khơi với đại dương mênh mông, với hoa biển, mỹ nhân ngư và ngàn sao lấp lánh… Tất cả đă một thời gợi trong tôi thật nhiều mơ tưởng. Giấc chiêm bao của tôi về con tàu và biển cả lớn lắm! Lớn như một ước vọng được tung hoành… Tôi bất chợt cảm thấy buồn cười và thương hại cho chính mình. Thực tế đã đập vỡ tất cả những giấc mơ bay bổng của tôi. Cuộc dấn thân thật sự, không giống như 2 tân thiếu úy vừa đến chiến hạm. Cái xuất thân phức tạp, đă làm mất đi niềm tự hào trong tôi. Bước đầu quân ngũ, đầy nặng nề, choáng váng trước những cú thôi sơn thực tế. Giấc mơ biển cả như tan tành! Tôi đă có ý định ra khỏi Hải Quân. Nhưng rồi cũng chính trong trạng huống đổ vỡ ấy, tôi nhận ra được cái giá trị và ý nghĩa của quan niệm phục vụ. Con người, một cách rất tự nhiên, luôn mong muốn, cố gắng tìm kiếm cho mình một chỗ đứng để được ngưỡng mộ. Muốn thế, thành tích, phong cách và tên tuổi phải được đánh bóng. Để rồi từ đó, xuất thân và truyền thống được đề cao. Thật ra niềm tự hào, tự nó, mang một ý nghĩa tốt đẹp qua việc phục vụ chung. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp nào đó, niềm tự hào rất có thể trở thành nguyên nhân của nhiều mặc cảm. Gây nên sự so sánh, mất đoàn kết.
Đi biển, một giấc mơ. Hải Quân, niềm hănh diện phục vụ. Lưu Đày một thân phận bẽ bàng! Tôi muốn thả lỏng tâm hồn. Tất cả chỉ còn là dấu vết của một đời người. Cho đến bây giờ. Sau hơn 30 năm, cuộc chiến đă chấm dứt. Bao nhiêu bạn bè đã ra đi? Bao nhiêu người là “Chiến Binh”, bao nhiêu người là “HQ Lưu Đày”, bao nhiêu người là “HQ Truyền Thống NhaTrang” , bao nhiêu người là “HQ OCS Hoa Kỳ” hay Úc Đại Lợi ?! Họ đă tự hào, đă xông pha chiến đấu và đă hy sinh. Trong cuộc chiến ấy, đạn quân thù nào có phân biệt được ai?!… Tôi nghĩ về những vị CHT hay HT đầy uy quyền, và thông cảm được sự cô đơn của họ. Những vách ngăn, rào cản do quyền bính, chức vụ tạo thŕnh, chắc hẳn đă làm cho họ nhiều trăn trở. Tôi nghĩ về những SQ, những con người nhiệt huyết, hăng say đă chôn vůi tuổi trẻ của họ cho lý tưởng tự do. Và tôi cũng nghĩ về những người lính, những anh em, bạn bè của tôi. Những người đích thực xả thân! Xả thân và xả thân… Một khối thương yêu chợt ập đến, đè nặng tâm hồn.
Tôi ngồi đây trong hình hài một người đàn ông 60. Trang sử đă lật qua. Tuồng hát đă hạ màn. Tôi rời sân khấu. Nhưng những dư âm dường như còn đâu đó. Như một hoàng hôn hạ kỳ năm nào trên biển cả, tôi thấy tôi, các bạn tôi, cả thủy thủ đoàn và con tàu đang xẩm dần trong màn đêm. Khi đčn hải hành được thắp lên, sau lái chiến hạm, màu trắng xóa của bọt biển chợt lấp lánh một thứ ánh sáng lân tinh. Ánh sáng ấy kéo dài, xa dần, tan dần, đưa tôi vào dòng ký ức. Bắt đầu lại một giấc mơ biển cả, tôi ngồi đóng những con tàu gỗ nhỏ, những sợi thun được bắn thật chính xác vào đám lính đồ chơi của phe bên kia. Giấc mơ tuổi trẻ bay bổng thật xa, không ranh giới và phân biệt.

LĐ. Nguyễn Hùng Sơn Biên Hùng chuyển

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Văn, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Bước đường cùng.

Posted by Webmaster on August 31, 2014

Tác Giả: Huy Phương

cogai banbia

Một cô gái quảng cáo bia Anchor của Singapore tại Hà Nội. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này !

(Vú Em -Tố Hữu)

Ngày 15 tháng 8, Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam ra quyết định đình bản 3 tháng báo điện tử Trí Thức Trẻ và phạt 207 triệu đồng vì ngày 12 tháng 8 báo này đã đăng một bài có tựa đề là “Gái miền Tây và 3 chữ ‘N’ nổi danh thiên hạ” của tác giả Trai Toàn Cầu.

Ba chữ N đó là Ngoan, Ngon và Ngu. Bài này xem như đã vi phạm luật báo chí và chính ban biên tập đã ngỏ lời xin lỗi độc giả vì đã “gây nên sự tổn thương sâu sắc cũng như tạo cảm giác xúc phạm tới nhiều phụ nữ Việt Nam.”

Thật ra chuyện Ngoan, Ngon và Ngu không lạ gì với lời nói ngày xưa dùng để khuyên những người đi chọn vợ.

Ngoan nói về tính tình, ai lại không thích có một người vợ ngoan.

Ngon nói về thể chất và hình dáng bên ngoài, trắng da dài tóc, có nhan sắc, vì không ai muốn chọn vợ xấu.

Ngu nói về kiến thức. Phải ngu hơn chồng mới phục chồng, và không lấn lướt muốn dạy chồng. Không gì chán bằng cảnh ông chồng mới mở miệng phát biểu một câu thì vợ đã nói, “Chuyện này em biết rồi!” Vậy thì nên chọn một người vợ “ngu” hơn mình.

Nhưng ở đây bài báo lại dùng chữ “ngu” để vơ đũa cả nắm, cho con gái miền Tây ngây ngô và ngu muội, “não ngắn,” thiếu văn hóa. Tác giả cho rằng, “Về độ ‘ngon,’  thì tôi dám quả quyết không gái miền nào địch được gái miền Tây. Nhưng còn về độ ‘ngu’ thì phần lớn gái miền Tây cũng là những cô gái ‘ngu dốt’ vô đỗi !”

Không phải bây giờ, mà trước đây báo chí Việt Nam đã có những bài báo chỉ trích cay nghiệt con gái “Bắc Kỳ,” và rồi nay, những người “phụ nữ miền Tây” bị tổn thương vì sỉ nhục là ngu đần !

Cộng sản coi là đã thống nhất được đất nước nhưng lòng người thì ly tán, nhất là sau cuộc đổi đời 30 Tháng Tư, 1975, dân miền Bắc ồ ạt vào Nam lập nghiệp, được ưu tiên nâng đỡ trong việc lập nghiệp, chiếm đất, phá rừng, bây giờ ở Việt Nam đi đâu mà không nghe tiếng nói Bắc Kỳ 75. Người miền Nam chẳng ưa gì dân Bắc vào Nam trong tư thế kẻ thắng trận chiếm đóng, người miền Bắc tuy coi miền Nam là vùng tạm chiếm, bị bóc lột, nhưng gần như ganh tỵ vì choáng ngợp trước cảnh đời sống an nhàn, sung túc của dân Nam.

Người miền Trung và miền Bắc thường có quan điểm cho rằng người miền Nam là hời hợt, nông nổi, thiếu sâu sắc, không có căn bản văn hóa, mối giềng ràng buộc với họ hàng, làng nước. Ðiều này dư luận thường dùng để làm câu giải đáp cho việc “lấy chồng Ðài Loan” của con gái Việt Nam mà các thiếu nữ miền Tây đã dẫn đầu trong vài chục năm qua.

Những nhận xét về “gái miền Tây” lâu nay khá nặng tay. Một cán bộ của Ðại Học Tôn Ðức Thắng nhận định… “nhiều người dân ở vùng này chây lười nên không nhận thấy tầm quan trọng của tri thức !” Một bài khác trong Vnexpress cho rằng, “… đàn bà con gái chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage !” Và chỉ nội cái nhan đề trong Vitalk.vn, “Gái miền Tây lười, ít học và muốn một bước lên bà chủ !” cũng đủ là một điều xúc phạm chung cho cả một tập thể.

Vì đâu nên nỗi ?

Người đổ lỗi tại văn hóa, hoàn cảnh thiên nhiên ưu đãi mà không hề ai dám nói đến cơ chế xã hội và những gì là trách nhiệm của kẻ cầm quyền trong bao nhiêu năm nay. Một ông khoa trưởng một đại học lớn như Ðại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã xác định … “nền giáo dục ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long còn quá yếu, đặc biệt với phụ nữ, đã đưa đến những hệ lụy trên !” Vậy thì thưa ông, chủ trương này từ đâu đến và sao không nghe ông than trách việc khách sạn, sân golf, nhà hàng đặc sản hoac cho ngoại nhân thuê đất để đẩy dân vào chỗ khốn cùng, để con gái họ phải thoát ra cảnh nghèo, vươn qua biên giới để mong mỏi có một đời sống tươm tất hơn.

Cũng không nghe ai nói, trước Tháng Tư, 1975, “con gái miền Tây” toàn là dân đi bán bar, làm sở Mỹ hay làm điếm hay đi lấy chồng Ðài Loan. Ðiều gì đã biến đổi đất nước nói chung và con gái miền Tây lâm thảm cảnh này !(?)

Có quý vị trí thức nào bỏ ra chút thời giờ để nghiên cứu xem xứ nào đàn ông Việt Nam đầu quân đi bán sức lao động xứ người, và vì sao Nghệ Tĩnh và Quảng Bình lại lắm người bỏ ruộng bỏ vườn “đăng ký” đi làm thuê để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Không lẽ quý vị lại đổ tội cho chây lười, ít học hay chối bỏ quê hương nghèo khổ, truyền thống của mảnh đất này là thích đi làm “bồi” hoac sợ phạm đến mảnh đất “thiêng” mà không dám nói.

Một sự thật đau lòng là nhạc sĩ Tuấn Khanh, ở trong nước, trong blog của ông đã nói lên một điều, đáng lý phải làm cho chính quyền trong nước đỏ mặt. Các hội gọi là phụ nữ, các tổ chức nhân quyền vẫn thường có thói quen báo cáo tốt, đề cao thành tích, vẽ vời hình tượng người phụ nữ Việt Nam, nhưng có đất nước nào đã ở trong thời kỳ hòa bình, độc lập mà thân phận phụ nữ bọt bèo, trôi giạt khổ đau như người con gái Việt Nam ?

Sự thật là trong xã hội này, người phụ nữ bị đánh giá thấp, không hề được bảo vệ, che chở bởi công lý.

Những vụ án có liên quan về phụ nữ từ trước đến nay, phần đông phụ nữ đều bị thiệt thòi vì các loại đàn ông bên nguyên hay bên bị đều là loại nô bộc trung thành với đảng và nhà nước, và phụ nữ Việt Nam được xem không hơn một món đồ chơi !

Khi nói chuyện về đời sống của các cô gái miền Tây đi lấy chồng xứ người, blogger Tuấn Khanh được biết một sự thật rất là chua chát, nếu còn chút lương tri, hẳn các hội phụ nữ ở Việt Nam và cả cái cơ chế công an, cảnh sát xã ấp phải hổ thẹn. Khi hỏi về chuyện chồng Ðài Loan đánh đập, một cô gái đã cười hồn nhiên nói, “Không phải ai cũng bị như vậy, báo chí nói quá !  Nhưng nếu như có bị đánh ở Ðài Loan, tụi em còn được báo chí xứ đó lên tiếng giùm, chứ ở Việt Nam, lấy một ông chồng say xỉn rồi bị đánh chết cũng không ai lo cho mình !”

Ở đây chúng tôi không nhắc đến một loại kỷ luật chỉ có trong xã hội Việt Nam Cong San là cấp lãnh đạo thông tin, một loại “Ông Kẹ” mang hơi hướng “đảng” có thể làm tình, làm tội bất cứ cơ quan truyền thông nào khi họ cảm thấy bất như ý. Bài báo “ba N” có thể gây phẫn nộ cho quần chúng, thậm chí có thể ký giả bị bao vây hay tòa soạn bị đốt nhưng không thể vì lý do gì mà chính quyền phạt tiền hay đình bản. Phải chăng đây chỉ là một thái độ khúm núm, sợ mất lòng, vì trong Bộ Chính Trị hiện nay có bao nhiêu vị có mẹ, có em, có con là “gái miền Tây !”

Lên án ai đó là một công việc dễ dàng, nhưng đi tìm nguyên nhân mà và sự thật là một việc khó ! Không dễ dàng như một vị tiến sĩ xã hội học, đảng viên CSVN, đã nhận định rằng do ít ý thức về đức hạnh mà “phụ nữ Nam Bộ” thường hay lấy chồng ngoại (TK). Vậy thì ở Hà Nội, hoa hậu, sinh viên đại học có tên trong đường dây “gái gọi”, tan trường là lên giường, chắc không phải lý do là đức hạnh (?)!

Ba chữ Ngoan, Ngon và Ngu chưa đủ yếu tố để đưa “người con gái miền Tây” vào hoàn cảnh mà các “đạo đức gia” hay “đạo đức…giả” tha hồ bới móc, nói xấu. Quý vị cũng không nên quên một chữ N nữa, là chữ “Nghèo” khiến cho phụ nữ miền Tây phải lâm vào cảnh đi lấy chồng xa, hay chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage. Dân nghèo mạt, nhặt rác mỗi ngày không kiếm nổi tới $2, trong khi cán bộ công quyền giàu bạc triệu đôla, ăn xài huy hoắc bạc tỉ là ưu điểm của một chế độ XHCN chăng ?

Miền Tây “gạo trắng nước trong” ngày nay như thế nào ?
Báo Hậu Giang đưa tin: “Dân khổ vì ‘ 3 không ‘. Người dân tại các tuyến dân cư trên những con kênh mới hình thành ở xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, đang sống trong tình trạng ‘3 không’ : không nước sạch, không điện, không đường bộ. Trẻ em đến trường rất khó khăn, vậy thì sao cho là dân kém học vấn ?  Dân Hậu Giang còn nghèo, chỉ mỗi ấp 8 xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, đã có 87 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có 28 hộ nghèo không có đất sản xuất. Vậy thì động lực nào đã xô đẩy hàng vạn cô gái miền Tây đi lấy chồng ngoại, nên câu nói “không có tiền thì ‘cạp đất’ mà ăn” đâu có gì là quá đáng ?

Ở đây có câu chuyện bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi, cùng con gái là Hồ Nguyên Thủy, 33 tuổi, với thân thể trần truồng không một mảnh vải che thân, phản đối chính quyền đã cướp đất để bán cho một công ty ngoại quốc trong dự án “Khu dân cư Hưng Phú”, sau khi chồng và cha của họ đã vì quá phẫn uất uống thuốc rầy tự tử !  Hai mẹ con bà Lài “đã bị đám VC vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt. Ðó chính là câu chuyện “hổ thẹn” nhất của đất nước trong năm 2012 xảy ra tại miền Tây, nơi mà một tờ báo “vô đạo” ngày nay đã lên án là cái xứ lười, ngu và con gái chỉ muốn đi bán bia, hay hành nghề massage.

Hổ thẹn không phải nơi hai mẹ con đã phơi bày cái chỗ đáng giấu của đàn bà, vũ khí yếu đuối cuối cùng phải đem ra để tấn công vào khuôn mặt quá dày, trâng tráo của chế độ CSVN, mà xấu hổ rơi về phía cường quyền VC, đã toa rập với xã hội đen, các thế lực đồng tiền, với sự trợ thủ của ngành công an đẩy người dân vào bước đường cùng !

Xin các nhà nghiên cứu văn hóa, các khoa bảng, trí thức hiện đang giữ các vai trò quan trọng trong các trường đại học hay trung tâm nghiên cứu, thích chuyên bố, rao giảng thứ kiến thức cổ lỗ, xin đừng ôm mãi cái não trạng mà danh từ hiện nay, người Việt trong nước đang dùng là “não ngắn,” đi tìm và đổ lỗi cho văn hóa, địa dư và những nguyên nhân xa cho cái “nghèo” cái “ngu” của gái miền Tây, hầu hết là để biện minh cho tình trạng hư đốn của chế độ CSVN !

Thân “vú em” năm xưa làm sao nhục nhã, khốn khổ bằng chuyện con gái Việt Nam đi làm gái mại dâm mười phương bây giờ (!) nên chưa lúc nào tôi thấy hai câu thơ của Tố Hữu thấm thía như hôm nay:
“Bạn ơi nguồn thảm sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này !”

Huy Phương

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn, Đời sống quanh ta | Tagged: , | Leave a Comment »

Một Lời Nói Phải

Posted by Webmaster on January 27, 2014

05:32:am 24/01/14 | Tác giả: 

“Khi nào Đảng Cộng còn cầm quyền, khi đó họ còn tiếp tục làm cho công việc hoà giải dân tộc không thể nào thực hiện được.”
Trần V., độc giả Dân Luận

winter wonderland

Tôi thấy trên tờ lịch tháng Giêng năm nay – tại văn phòng khai thuế – ảnh chụp những cành lá tuyết phủ trắng xoá, và bên dưới là một câu ngạn ngữ của người Nhật Bản:

One kind word can warm three winter months: Một lời nói tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông.

Tôi đã trải qua hơn ba mươi mùa Đông (lạnh giá) nơi xứ người nhưng dường như chưa bao giờ nghe được một lời lẽ tử tế nào ráo trọi. Năm nay, may thay, vào những ngày cuối năm (khi nhiệt độ nhiều nơi rơi xuống trừ âm) nhưng tôi vẫn cảm thấy rất ấm lòng vì chợt nghe được một lời nói phải:

“Còn nhiều trang sử cần được mở ra, không chỉ có ở Hoàng Sa, dù ở đâu trên mảnh đất của ông cha, người Việt Nam chỉ nên để súng ống quay về cùng một hướng. Chỉ có hòa giải quốc gia mới có thể phát triển quốc gia. Một dân tộc không thể vững mạnh nếu như lòng người phân tán.”

Đó là kết luận của nhà báo Huy Đức trong bài viết (“Hoàng Sa & Hoà Giải Quốc Gia”) mới nhất của ông, đọc được vào hôm 12 tháng 1 năm 2014:

“Hóa ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”. Phải khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, 19-1-1974, ông Nguyễn Đăng Quang – một thành viên của phía Hà Nội trong “Phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên” thi hành Hiệp định Paris (1973) – mới nhận ra điều này. Họ ở đây là các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bên mà cho đến nay, nhiều người vẫn gọi là phía “ngụy”.

Phải mất 40 năm sau, báo chí nhà nước mới bắt đầu đăng hình bà quả phụ trung tá Ngụy Văn Thà lên trang nhất, sau khi một tổ chức “dân lập” – trung tâm Minh Triết – chứng nhận chồng bà đã “hành động vì biển đảo”. đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG

Posted by Webmaster on January 25, 2014

Nguyễn Văn Thông

Qua ngày Ông Táo về Trời còn 7 ngày nữa thì đến Tết. Phần lớn nước Mỹ chìm trong băng giá. Đồng-bào trong nước còn trong cơn âm-ỉ vùng lên đòi nhân-quyền, nhân-phẩm và những giá-trị chiến-đấu gìn-giữ đất-đai biển đảo của các chiến-sĩ và nhân-dân VNCH. Tôi xin gởi chút tâm-tình đến quí bạn-bè thân-hữu và cả lời nhắn đến những người cộng-sản VN về một ngày Tết trên Quê Hương. NVT

VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG
Nguyễn Văn Thông

“Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông,
Liền vội đứng mở tung cánh chào đón Xuân…”

Tet Hoa daoLà bài hát xuân của ông nhạc-sĩ tài-danh Phạm Duy ám-ảnh tôi đã lâu. Kể ra thì cứ mỗi lần báo-chí đăng những lời tuyên-bố của ông nhạc-sĩ ấy thì tôi lại mất đi nhiều sự quí-mến ông. Nhưng nhiều bài hát của ông hay quá, không thể không hát được. Cái hay về lời làm cho nhạc của ông hay hơn. Thế mà không hiểu sao ông lại có những tuyên-bố không ăn-nhập gì với những tác-phẩm bất-hủ ông đã viết ra. Thành ra nhiều lần tôi thở dài đành lòng với cái triết-lí vụn rằng, ai đóng-góp được bao nhiêu quí bấy nhiêu, làm sao mình đòi ai cũng phải hoàn-hảo được? Ông chắc có cả chục bài hát về mùa xuân, mỗi bài diễn-tả một ý, làm cho mùa xuân có những tình-cảm phong-phú. Giữa các ý xuân, tôi cảm thấy bị giao-động nhất về hình-ảnh một buổi sáng vừa vươn vai thức dậy, nhìn ra đã thấy một trời đầy xuân rực-rỡ; mình vội mở tung cửa để xuân tràn vào.

            Bốn giờ rưỡi sáng, chuông nhà thờ đổ, tôi tung chăn bật dậy chui ra khỏi màn, không cần phải chờ bố mẹ gọi thúc đến ba bốn lần. Tiếng chuông ngày Tết nghe như rộn-rã hơn. Chị em tôi ra bờ giếng sau nhà súc miệng rửa mặt. Hồi ấy ở nhà quê còn quê lắm, chưa có kem đánh răng. Giữa nhà chỉ có chiếc đèn dầu để trên bàn mà nó sáng hơn mọi ngày. Ngọn đèn vàng rọi qua chiếc bóng thủy-tinh mới được chùi rửa trong suốt soi chúng tôi vây quanh chiếc bàn, xúng-xính trong những bộ quần áo mới.

            Con đường cát trắng dẫn đến nhà thờ chỉ lờ mờ dưới chân, nhưng tôi nghĩ cành lá hai bờ dậu bên đường đã xôn-xao thức dậy. Nhà thờ hôm nay thắp đèn măng-xông sáng rực, và đông người hơn cả lễ ngày Chúa nhật. Thế nào ca-đoàn cũng sẽ hát “Mùa đông đã tàn phai, mừng Xuân mới về đây…”.  Nhưng tôi chưa biết mùa đông như thế nào, chỉ nghe bố mẹ kể rằng, mùa đông ở “bên nhà” rét lắm, có năm rét cá chết nổi trắng mặt đồng. Bên Nam không có mùa đông nhưng vẫn có Tết. Sáng hôm nay mùng một Tết, cả làng chúng tôi xong lễ kéo vào nhà xứ mừng tuổi cha xứ. Cha sẽ mừng tuổi cho trẻ con thiếu-nhi mỗi đứa một đồng. Mấy anh chị lớn cũng ngồi xuống chen vào giơ tay lấy tiền mừng tuổi. Sau đó cả nhà chúng tôi về nhà ông bà nội để mừng tuổi ông bà, các cô bác chú dì, và nhận tiền mừng tuổi.

Chúng tôi đã mong ngày Tết cả tháng nay rồi, nhưng mấy ngày gần đây thì thời-gian đi mau quá, chẳng phải mong. Mới hôm qua cả nhà chúng tôi ở nhà ông bà nội với gia-đình các cô, các chú để Tết ông bà và chuẩn-bị cho ngày Tết. Mẹ tôi và các cô, thím lau, xếp bát đĩa ra những cái nia ở một góc nhà, rồi quay nước, rửa thau, nồi nhộn-nhịp bên bờ giếng. Bố tôi và các bác, chú làm một cái dàn để mâm. Các cháu giúp ông bà bổ cau, têm trầu, và đuổi nhau chạy loanh-quanh. Xong bữa cơm tối thì nồi bánh tet banh chungchưng cũng xong. Mọi người vây quanh chăm-chú nhìn từng chiếc bánh nghi-ngút khói được vớt ra. Mỗi chiếc bánh được giơ lên trước khi được xếp vào chiếc mẹt để ép thì đều có vài lời bình-phẩm. Đâu là chiếc bánh này ai gói, có đầy tay hay không, mối lạt buộc có chắc hay không. Đôi khi có ý-kiến chống-đối nhau nhưng bao giờ cũng chấm-dứt bằng ý-kiến của ông nội tôi. May mà cả nồi thế nào cũng có vài cái bánh xấu nhất nên chúng được bóc ra ngay, ông nội chia cho mỗi người một miếng. Thơm ngon hết sức, chẳng thấy ai chê. Sau bữa cơm tối đầm-ấm là bố mẹ tôi cùng các cô chú bác quây-quần thành từng nhóm. Chỗ này oang oác, cạp cạp tiếng gà vịt trước lúc bị cắt tiết. Chỗ kia những bàn tay thoăn-thoắt nhổ lông chung quanh nồi nước nghi-ngút khói. Chiếc cần quay nước trên miệng giếng quay kẽo-kẹt, nước đổ ào-ạt, rồi chiếc thùng lại được thả xuống vù vù. Ánh đèn chỉ thấp-thoáng từng chỗ trên sân nhưng mặt ai nấy rạng-rỡ tươi cười. Các chị, các cô của tôi nom đẹp lắm dù chưa trang-điểm cho ngày Tết. Khoảng Giao-thừa là mọi sự được chuẩn-bị tạm xong cho ngày mồng một Tết.

Xong bữa cơm ngày mồng một Tết, trẻ con chúng tôi theo mẹ bưng đồ lỡi đi Tết các cụ, các ông bà trong làng. Nhà nào cũng tiệc-tùng vui-nhộn. Chúng tôi chỉ cần tiền mừng tuổi và thích đốt pháo. Con gái cùng lớp tuổi của tôi nhiều đứa hôm nay nhìn đẹp quá chừng nhưng tôi chỉ nhìn chúng nó một tí rồi chạy đi chỗ có tiếng pháo. Giấc trưa, nắng đã vàng mặt đường nhưng không thấy ai than nóng như mọi ngày. Người ta đi lại, chào hỏi nhau trong những bộ quần áo ngày Tết trên khắp đường làng là một cảnh đẹp vô cùng. Làng tôi chỉ có những mái nhà tranh nâu ẩn hiện sau những hàng dậu và tàn cây xanh quen-thuộc, nhưng ngày Tết, nó được tô-điểm bằng những màu trắng, đỏ, vàng, tím… khác gì những bông hoa nở rộ. Xa xa, trên con đường từ ngoài quốc-lộ dẫn vào làng, một vài bóng áo mới di-động giữa cái nền xanh của cánh đồng, đẹp như một bức tranh.

Tôi yêu thương cái không-khí Tết trong làng tôi vì nó đẹp, và cũng vì cái tình thân-ái. Hình như trong làng tôi đều có họ-hàng với nhau. Nếu không mang đồ lỡi đi Tết thì bố mẹ tôi cũng đều ghé tất cả mọi nhà để chúc tuổi và ngồi chơi một chốc-lát. Chẳng có nhà nào mà tôi không nhận được tiền mừng tuổi. Trẻ con chúng tôi thỉnh-thoảng có đánh nhau nhưng đều cố dấu không cho bố mẹ biết. Đến Tết gặp nhau là coi như hòa. Người lớn mà cãi nhau đã là chuyện lớn ở làng. Một là cha xứ sẽ tới khuyên-can, hai là hai bên cùng quên đi để làm hòa. Tôi nghĩ, thiên-đàng hẳn là đẹp, nhưng không biết đẹp thế nào, chứ còn ở làng tôi, ngày Tết là đẹp lắm rồi.

Mong Tết bao nhiêu thì tôi lại sợ hết Tết bấy nhiêu. Sáng mồng hai, mồng ba thức dậy vẫn còn háo-hức, nhưng mùng bốn thức dậy tôi đã thấy hơi buồn. Tôi cầu cho Tết đừng đi, Tết cứ còn mãi. Gặp ai trong làng mặc quần áo lam-lũ ra đồng từ sớm là tôi buồn lắm, biết rằng Tết đang ra đi rồi. Tôi thích những tiếng pháo muộn vào những ngày này để gọi Tết trở lại. Tôi mừng khi thấy  vài người họ-hàng ở xa đến thăm, và bố mẹ tôi lại bắt gà vịt làm bữa ăn Tết. Nếu không phải khách nhà tôi thì khách bất cứ ai ở trong làng cũng được, chỉ cần bóng-dáng họ ở trong làng cũng giữ được cái không-khí Tết ở lại với chúng tôi.

Làng tôi chỉ có mặt và có tên trong một quận-lị Miền Nam từ năm di-cư 54 cho tới khi có biến-chuyển chiến-tranh. Ngôi làng ấy đã trở nên ngôi làng kỉ-niệm, yêu-thương, mơ-tưởng của đời tôi. Tôi đi mãi, qua nhiều mảnh đất quê-hương, cũng đẹp lắm, nhưng trong lòng không bao giờ phai được cảnh làng cũ. Ra khỏi nước, tôi càng nhớ hơn, mặc dù ở nơi đây có mùa xuân rực-rỡ và nhất là có mùa đông rét buốt rất rõ-ràng để tôi cảm-nhận khi hát “Mùa đông đã tàn phai”, và “Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Tôi nghĩ phải nói rõ hơn một chút bạn mới tin là có sự thay-đổi nhanh-chóng chỉ qua một giấc ngủ như thế.

Chỗ tôi ở là vùng đông bắc nước Mỹ, mảnh đất định-cư đầu tiên của những người Pilgrims trên chiếc tầu Mayflower đi từ nước Anh tránh bão tuyết cập bến, rồi định-cư luôn, khoảng 400 năm trước. Đó cũng là lí-do vùng này được gọi là New England. Vùng đất này so với những vùng đất sau của nước Mỹ thì nhỏ bé nhưng lại màu mỡ, khí-hậu bốn mùa rành-rẽ, cây-cối xum-xuê. Có lẽ loại cây phổ-thông nhất ở vùng này là cây dương (maple) và bạch-dương (white birch). Mùa hè thì cành lá xum-xuê, và có điều đáng chú ý là từ đầu xuân đến cuối hè, cây-cối phát-triển nhanh như thổi, như ta có thể nhìn thấy chúng lớn lên.

Thu đến, lá đổi màu, cũng ào-ạt như thiên-nhiên được đổ màu lên. Vàng, đỏ, nâu lẫn với màu xanh còn sót lại như trải trên núi đồi tấm thảm hoa mênh-mông màu-sắc, biến những thung-lũng thành vườn hoa rực-rỡ. Đi dưới rừng cây có ánh nắng rọi, màu sắc rực lên lung-linh như lẫn vào không-gian. Một làn gió lay-động rắc những cánh lá chao nghiêng như đàn bướm. Hình như thiên-thai cũng là đây. Nhưng rồi những cơn mưa và những trận bão tuốt hết lá trên cây, chỉ còn cành trơ-trụi.

tet winter-new-englandBây giờ thiên-nhiên chỉ còn màu nâu ảm-đạm. Mặt trời buổi chiều cũng lặn đi vội-vã. Gió lạnh cắt da. Những trận tuyết đổ về mù-mịt. Thiên-nhiên chết cóng. Nhiều khi cả một rừng cây đóng băng như rừng nước đá. Thế nhưng thiên-nhiên không chết. Thiên-nhiên vẫn sống tiềm-tàng. Cách khoảng giữa những trận tuyết, các cành cây vẫn rung-rinh sức sống dù trơ-trụi. Ở các đầu cành, các búp cứ tròn dần. Một buổi sáng cuối đông, ngoài vườn còn lớp băng tuyết che kín, thế mà những búp thủy-tiên đã chui lên xòe cánh hứng ánh mặt trời.

Lúc này những búp trên đầu cành đã có màu. Cây anh-đào với hàng trăm, hàng ngàn búp loáng-thoáng hồng tạo nên đám mây hồng phủ trên tàn cây. Đám mây trắng trên tàn cây lê. Rồi mây xanh, mây tím đậu đó đây. Bỗng một ngày đầu xuân, một luồng gió ấm đẩy lùi cái lạnh của cuối đông, hàng trăm ngàn búp nụ đua nhau xòe cánh rực-rỡ.

Sự thay-đổi thời-tiết ở đây đột-ngột lắm, mỗi ngày có thể cách nhau đến vài chục độ. Một ngày ấm như mùa hè có thể xảy đến ở cuối đông. Đã có năm hoa thi nhau nở sớm, rồi bỗng bị một trận tuyết đổ xuống làm cả thiên-nhiên run-rẩy. Do những đột-ngột của thời-tiết như thế mà tôi cảm-nhận được rõ-ràng có những “buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Thay-đổi lắm, rạo-rực lắm. Xung-quanh ta thế-giới cũ như không còn. Chúng ta đang bước vào một thế-giới mới, đang bước vào tương-lai.

Đã bao nhiêu mùa xuân tôi sống trong những cảm-nghĩ đó. Mùa đông, năm cũ, những cay-đắng, thất-bại và buồn-bực chỉ còn thuộc về quá khứ. Nắng xuân và tương-lai rực-rỡ đang ùa vào nhà, vào lòng. Nhưng có nỗi ư-tư như những mành tơ vướng-víu. Quê-hương Việt Nam của tôi có bao giờ, cho tới bao giờ có nắng xuân và tương-lai rực-rỡ tràn vào? Mấy chục năm qua, mấy chục cái Tết nhưng vẫn chỉ là những cái Tết đắng-cay. Con gái xa nhà vì phải bán thân phương xa. Chồng xa vợ xa con vì phải bán sức lao-động cho ngoại-bang. Con nít xa quê vì phải về thành-phố, nếu sống được lương-thiện nhất là đi ăn-xin hay bán vé số.

Tôi mơ một ngày quê-hương vừa tỉnh giấc đã thấy tàn đông, một ngày người cộng-sản đồng lòng tuyên-bố quay về với dân-tộc, quăng đi cái xã-hội chủ-nghĩa. Áp-bức, dối-trá, nghèo-đói, thiếu nhân-phẩm bị đẩy lùi về quá-khứ. Cánh cửa quê-hương mở tung ra để nắng ấm của chân-thực, của nhân-phẩm, tình yêu-thương, tự-do và tương-lai rực-rỡ ùa vào. Đó là cơ-hội duy-nhất và đẹp nhất người cộng-sản có thể làm cho quê-hương dân-tộc. Đồng-bào sẽ mở rộng vòng tay đón họ như đón những người con lầm-lạc trở về. Họ sẽ làm nên lịch-sử, và làm cho thế-giới phải ngưỡng-mộ nếu họ làm được như vậy. Hãy làm đi, những ngày dài tăm-tối, đông-giá trên quê-hương đã quá nhiều rồi. Hãy làm cho cả quê-hương và người Việt khắp năm châu một buổi sáng thức dậy thấy bừng ánh sáng tự-do tràn vào.  Hãy thổi nắng ấm cho quê-hương một mùa xuân. Hãy làm cho khắp đất nước một cái Tết đẹp tình thân-ái.

Để chờ ngày ấy, chúng ta hãy chuẩn-bị những búp sự thật, những nụ nhân-ái, nụ yêu-thương, và đọt mầm nhân-cách chuẩn-bị trong mùa đông để nở tung cánh tạo mùa Xuân cho quê-hương yêu-dấu, một mùa Xuân chắc-chắn sẽ đến.***

tet hoa vang

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn, Z đến A | Tagged: , | Leave a Comment »

MỘT VÒNG HOA CHO VIỆT DZŨNG

Posted by Webmaster on January 1, 2014

 Lại Tư Mỹ.

Việt Dzũng, người con yêu quý của Tổ Quốc Việt Nam        Buổi chiều, thứ sáu, 20 tháng 12 năm 2013, trong khi đang lúi húi trang trí những dây đèn trước nhà, chuẩn bị đón mừng Chúa Giáng Sinh, anh Phạm Lê Rô,  anh Nguyễn Thanh Bình, rồi những người anh em thân thiết, điện thoại tới tấp hỏi thăm về tin Việt Dzũng đã qua đời tại California. Tôi bàng hoàng, xúc động, vội điện thoại ngay về Cali để xác nhận hung tin này ! Và đau đớn thay điều đó là sự thực !

          Sự ra đi của Việt Dzũng, ngay sau đó được loan tải rộng rãi trên khắp các cơ quan truyển thông đại chúng, một chương trình live được hệ thống đài SBTN trực tiếp truyền hình trên 4 tiếng đồng hồ, biết bao người không cầm được nước mắt ! Việt Dzũng! Anh là ai, mà sự ra đi của Anh làm bao người xúc động, tiếc thương !

          Tại Tiểu Bang Massachusetts chúng tôi, anh về đây sinh hoạt với đồng hương, trên dưới khoảng 10 lần, nhưng mà sao thân thiết, gắn bó đến thế! Anh Lê Răng, nhớ lại thời sinh hoạt trong Hội Phụ huynh học sinh Boston, còn nhớ mãi kỷ niệm Việt Dzũng khi anh về đây giúp cho buổi Lễ trao giải học sinh xuất sắc của Hội, những buổi gây qũy yểm trợ Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, sự hiện hiện của anh làm cho cả Hội trường sôi động, hình ảnh anh em cựu quân nhân chúng tôi cùng anh trên sân khấu, phất cao ngọn Cờ Vàng thân yêu, cất cao những bản hùng ca, nhớ qúa, kỷ niệm đẹp không thể mờ phai !! Anh cũng không vắng mặt trong những lần gây qũy yểm trợ bão lụt Miền Trung, rồi một vài buổi Hội luận Chính trị do Phong trào Giáo Dân Việt nam hải ngoại/ Cơ sở Boston tổ chức, sự hiện diện của anh, những lời phát biểu của anh, nói không qúa lời, được đồng hương trông đợi và đón chào nhiều nhất .

          Ngay ngày thứ bảy, 21 tháng 12, phóng viên đài SBTN/ Boston đã làm một phóng sự đặc biệt để tưởng niệm anh, đại diện Tổ chức Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts, Anh Ngô Triệu Vũ ( Phó Chủ Tịch Nội vụ ) đã gởi lời phân ưu đến tang quyến, nhắc lại những kỷ niệm đẹp về anh trong những dịp anh về sinh hoạt tại Boston, Phóng viên đài đã ghi nhận được những hình ảnh, tâm tư người dân địa phương trước tin anh ra đi, có người không cầm được nước mắt! nức nở, nghẹn ngào khi phát biểu ! Những bạn trẻ đang cộng tác, xướng ngôn viên cho đài SBTN Boston nhắc nhớ những công lao anh đã huấn luyện, chỉ bảo để ngày nay, tự tin, thành công trên phương diện phục vụ truyền thông. Buổi tối Thứ bảy 28 tháng 12 vừa qua, Hội Thanh Niên Thăng Long/ Boston cũng long trọng tổ chức Lễ Vinh Danh và Tưởng Niệm anh tại IBEW Hall, số 256 Freeport St, Dorchester, Boston. Tôi nhớ  những lời nói chí tình của anh khuyến khích các bạn trẻ tham gia vào dòng chính của xã hội Hoa Kỳ :” Hãy mạnh dạn ứng cử trong các chức vụ dân cử, anh sẽ về đây gây qũy tranh cử cho các em.” hoặc, những lời nói, việc làm nhằm tạo sự đoàn kết để cùng tranh đấu cho một quê hương Việt Nam Tự Do, Dân Chủ.

          Giờ đây, Việt Dzũng đã yên nghỉ trong lòng đất, người Việt khắp nơi đã tiễn đưa anh, bằng sự hiện diện, hay bằng hướng tâm hồn mình từ khi trái tim anh ngừng đập,và cùng hiện diện với anh tại Nhà quàn Peek Family Funeral Home, Nhà Thờ Thánh Linh, cho đến Nghĩa trang Chúa Chiên Lành .

           Giây phút cuối cùng, 9 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 12 năm 2013, thi hài anh được đưa sang Nhà Thờ Thánh Linh trong sự nghiêm trang, chờ đợi của khoảng 2,000 người đứng dọc hai bên đến cửa Giáo đường, do đích thân Giám mục Mai Thanh Lương, Giám mục phụ tá Giáo Phận Orange Chủ Lễ, cùng với trên 25 Linh Mục đồng tế . Hiện diện trong Thánh Lễ an táng, gồm đủ mọi thành phần từ các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các cấp chính quyền , thân hào, nhân sỹ, truyền thông, báo chí, những người yêu mến và tiếc thương anh. Trong bài giảng, Giám mục Mai Thanh Lương  chia sẻ kỷ niệm về chàng thanh niên kém may mắn : Việt Dzũng, 17 tuổi lạc lõng trên xứ lạ, quê người, ước ao sống cuộc đời tu trì, rồi thành lập đài Radio Voice of Refugee cho người tỵ nạn, đến những phong trào mà anh tạo ra cho Cộng đồng hải ngoại, đến những phấn đấu vượt bực mà Giám mục Mai Thanh Lương phải xác nhận :” Cuộc đời anh, tuy chỉ ngắn ngủi 55 năm , nhưng đã làm được những điều mà những người khác không thể làm được… Anh sống đời của người tử đạo, tâm tư sống vì dân tộc .”

          Nghi thức hạ huyệt vào lúc 1 giờ 00 PM, khi chiếc quan tài bằng gỗ của anh được đặt vào trong một chiếc quan tài mầu trắng, lớn hơn. Linh Mục Hà Đăng Thuy dâng trầm hương, đọc lời nguyện , tiễn đưa và phó thác Linh Hồn Giuse Gioan Kim Nguyễn Ngọc Hùng Dũng vào tay Thiên Chúa nhân lành, xin Ngài đón nhận. Bà Hoàng Anh, đặt trên quan tài chồng một chiếc đàn nhỏ và cánh hoa đầu tiên, sau đó, trên hai ngàn người, xếp thành hai hàng, lần lượt chào người qúa cố lần cuối . Những cánh hoa tiếc thương phủ đầy quan tài, chiếc xe xúc cát tiến vào, lấp quan tài anh dưới lớp đất bụi, những vòng hoa tiễn đưa phủ đầy ngôi mộ mới ! Có người nhớ đến thói quen của anh, đốt một điếu thuốc cắm trên ngôi mộ !

          ” Đám tang lớn nhất từ trước đến nay tại hải ngoại .” đó là tựa đề bài  viết của ký gỉa Thiên An trên báo Người Việt. Tôi lại muốn viết thêm : ” Đám tang lớn nhất từ trước đến nay và, có lẽ cả sau này tại hải ngoại .”

          Tôi cứ tự hỏi, một con người kém may mắn, quá nhiều nghiệt ngã của cuộc sống từ thủa ấu thơ, lại vững vàng trên đôi nạng gỗ, trở thành điểm tựa cho biết bao con người ? Anh thực sự đa tài, nhưng thiếu gì người làm văn nghệ, lo việc bác ái , tranh đấu cho tự do, dân chủ nhân quyền đâu thua kém anh ?!! Có lẽ, anh chỉ có một điểm son nổi bật nhất : Anh vì mọi người, vì quê hương dân tộc và … không nghĩ đến bản thân mình ! Người tài thì rất nhiều, người giỏi cũng không hiếm, nhưng người như anh, không dễ tìm gặp trong cuộc sống hôm nay !

          Và tôi nghiệm ra một chân lý sáng ngời : những ai yêu mến quê hương mình, ước mơ một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, nhân phẩm cho đồng bào mình, tranh đấu không mệt mỏi cho sự tiêu vong của chế độ cộng sản vô thần trên quê hương mình , người đó, luôn có một vị trí xứng đáng trong trái tim mỗi người dân Việt nam .

          Việt Dzũng, người con yêu quý của Tổ Quốc Việt Nam

          Hãy yên nghỉ ! Anh xứng đáng nhận lãnh một vòng hoa của MẸ VIỆT NAM

                                                                            

                                                             Lại Tư Mỹ      

Posted in Lại Tư Mỹ, Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Năm Ngàn & Năm Cắc

Posted by Webmaster on September 21, 2013

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Vài bữa sau, sau ngày đổi tiền ở miền Nam,  tờ Sài Gòn Giải phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã gửi đến những người dân ở vùng đất này đôi lời an ủi:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức lại có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên thắng cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” ở nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm!

Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai.

Đồng tiền 50 xu, năm cắc, in hình ông Ngô Đình Diệm, phát hành năm 1960

Đồng tiền 50 xu, năm cắc, in hình ông Ngô Đình Diệm, phát hành năm 1960

Tờ một đồng, phát hành năm 1955

Tờ một đồng, phát hành năm 1955

Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi mới vừa biết sài tiền?

Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá bào nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi cho đến khi xi rô bạc hết cả mầu mới ngừng tay, lễ phép xin thêm:

–  Cho con thêm chút xi rô nữa được không?

–  Được chớ sao không. Bữa nào tụi bay cũng vậy mà còn làm bộ hỏi!

Năm cắc đủ cho một chén bò viên, dù chỉ được một viên thôi nhưng khi nắp thùng nước lèo mở ra là không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh đó – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy –   hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể  khiến cho đứa bé xuýt xoa mãi cho đến… lúc cuối đời.

Năm cắc cũng đủ làm cho chú Chệt vội vã thắng xe, mở ngay bình móp, lấy  miếng kem – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – rồi trịnh trọng trao hàng với nụ cười tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt lạnh thấm dần qua lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng hay một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (Trời ơi!) đó là cả một trời, và một thời, hạnh phúc muôn mầu!

Một đồng mua được hai quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng bay (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố mới lên đèn và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương, dù tóc đã điểm sương.

Còn hai đồng là nguyên một tô cháo huyết có thêm đĩa dà trá quẩy ròn rụm đi kèm. Hai đồng là một tô mì xắt xíu với cái bánh tôm vàng ươm bên trên, và nửa cọng rau xà lách tươi xanh bên dưới. Tờ giấy bạc với mệnh giá quá lớn lao và rất hiếm hoi này, không ít lúc, đã khiến cho tuổi thơ của tôi vô cùng phân vân và bối rối!

 Tờ bạc hai đồng, phát hành năm 1955

Tờ bạc hai đồng, phát hành năm 1955

Và trong cái lúc mà tôi còn đang suy tính, lưỡng lự, cân nhắc giữa bốn cái kem đậu xanh năm cắc, bốn cuốn bò bía, bốn ly nước mía, hay một tô hủ tíu xắt xíu thịt bằm béo ngậy (cùng) giá hai đồng thì ở bên kia chiến tuyến người ta đã quyết định cho ra đời Mặt trận Giải phóng Miền Nam – vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.

Hệ quả thấy được, vào mười lăm năm sau – vẫn theo báo Sài Gòn Giải, phóng số thượng dẫn:

Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hãnh diện chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang.”

Niềm hãnh diện được nâng niu từng tờ bạc mới (nếu có) cũng nhỏ dần sau từng đợt đổi tiền. Rồi với thời gian những tờ bạc này đã từ từ biến thành… giấy lộn – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, đọc được trên Vietnamnet hôm 21 tháng 5 năm 2012:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Và đó là chuyện xẩy ra năm trước. Năm nay – sau khi dự phiên họp ngày 14 tháng 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính về ngân sách những tháng đầu năm 2013 –  Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan bỗng (chợt) nhận ra rằng: “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!”

Ủa, “gay go” thiệt sao?

Mà “gay go” tới cỡ nào lận?

Ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người đã từng lạc quan tuyên bố “năm 2015 sẽ có một Vinashin mới” nay đã bắt đầu đổi giọng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%.” Và đã đến nước này thì ông phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương,Nguyễn Xuân Cường, cũng đành phải (xuôi xị) nói theo thôi: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại.”

Điều lo ngại nhất là bó rau muống sẽ không ngừng ở giá năm ngàn đồng bạc. Dù với số tiền này – vào năm 1960 – đủ để mua hai ngàn tô phở gánh, hay hai ngàn năm trăm tô mì xe, hoặc mười ngàn chiếc bong bóng đủ mầu.

Lão bà nghỉ chợ bần thần Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong Xếp riêng rồi lại xếp chung Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Bù lại, vẫn theo lời của bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan, là mọi người được sống với “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”

Cái giá của “dân chủ” (cũng như Độc lập – Tự do – Hạnh phúc) của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, hơi mắc. Dân Việt, tội thay, không những đã hớ mà còn mua nhầm đồ giả và đồ đểu nữa mới chết (mẹ) chớ!

© Tưởng Năng Tiến

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

Ngoại bang & nước bạn

Posted by Webmaster on September 10, 2013

Đại diện Mạng lưới các bloggers Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho Đại sứ quán Đức ở Hà Nội hôm 28 /8/2013 Tưởng Năng Tiến
2013-09-09

Cuối tháng rồi – từ Bangkok – biên tập viên Gia Minh (RFA) đã có lời tường thuật, với đôi chút băn khoăn:

“Đại diện Mạng lưới các bloggers Việt Nam hôm nay 28  tháng 8 tiếp tục đến trao Tuyên bố 258 cũng như trao đổi vấn đề nhân quyền ở Việt nam với Đại sứ quán Đức ở Hà Nội, sau khi họ vừa thực hiện được hoạt động đó hôm 23 tháng 8 với Đại sứ quán Úc.

Tuy nhiên việc làm đó có phải ‘thuận buồm, xuôi gió’ hay không?”

Câu hỏi này hoàn toàn xác đáng nhưng dường như lại không phải là nỗi bận tâm của một trong những người trong cuộc. Qua FB, blogger Phương Bích tâm sự:

“Là một trong những người ký vào bản tuyên bố 258, đương nhiên tôi nhận lời tham gia trao tuyên bố này cho sứ quán Đức, vào sáng ngày 28/8. Thú thực, tuy các cuộc trao tuyên bố 258 trước đó cho các sứ quán Thụy Điển, Úc, Mỹ đều diễn ra bình thường, nhưng tôi vẫn khá hồi hộp. Tôi chỉ nghĩ duy nhất về một điều: làm thế nào để đến được đó?

Đến gần sứ quán, từ xa đã thấy mấy người đàn ông cả Tây lẫn ta đang đứng trên vỉa hè, ngay trước cổng… Ngay lúc đó, tôi đã cảm thấy được che chở, mặc dù mình đang đứng ngay trên đất nước mình. Một cái gì đó ấm áp, tin cậy khiến tôi rất xúc động…

Vào đến phòng, qua giới thiệu, chúng tôi mới biết những người Đức đứng đợi chúng tôi ngoài cổng chính là tham tán và trưởng phòng văn hóa chính trị của sứ quán Đức. Thực sự tôi rất ngạc nhiên. Họ là đại diện cho một trong những đất nước được coi là văn minh hàng đầu thế giới, nhưng lại sẵn sàng đứng đợi những người dân thường như chúng tôi, để đón tiếp và lắng nghe những nguyện vọng tâm tư của những người chẳng có một chút địa vị nào trong xã hội. Đến bao giờ, quan chức Việt Nam mới đón tiếp người dân của mình được như thế này?

Bỗng nhiên tôi thấy tủi thân ghê gớm. Đất nước mình lúc nào cũng tự hào có 4000 năm lịch sử, vậy mà hôm nay con cháu Người vẫn nghèo khổ, vẫn thua xa thiên hạ một trời một vực. Bên cạnh họ, năm người phụ nữ chúng tôi đủ lứa tuổi, thật nhỏ bé và yếu đuối. Có lẽ những điều đang xảy ra với chúng tôi và những người dân Việt Nam đang phải chịu đựng, thật xa lạ và khó hiểu đối với họ…

Có thể ai đó cười mỉa mai, rằng sao phải cầu tới ngoại bang? Nếu vậy, xin hầu các quý vị vào dịp khác.”

Hậu vận của Phương Bích, và những bạn đồng hành – rồi ra – chưa chắc đã “thuận buồm xuôi gió” nên đợi “vào dịp khác” (e) bị hơi lâu. Trong lúc tôi lại quá rảnh, quá an toàn, và cũng hơi chán đời (hay nói theo kiểu Mỹ là đang rất boring) nên xin phép được tiếp nối ngay câu chuyện dở dang này, cho nó… đỡ buồn – chút đỉnh!

Tưởng gì chớ “cầu tới ngoại bang” – trong những năm gần đây – là chuyện đã diễn ra một cách rất hồn nhiên, và tuyệt nhiên chả thấy ai có chút băn khoăn nào ráo. Xin đơn cử một thí dụ, qua một lá đơn đề ngày 17 tháng 6 năm 2009:

ĐƠN TỐ CÁO

V/v Bắt giữ người và xe máy trái pháp luật,

lập hồ sơ giả, biên bản giả ép mẹ tôi đi tù

Kính gửi:UB Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, các cơ quan thông tin ngôn luận trong và ngoài nước.

Tên tôi là Nguyễn Thị Hưong, 23 tuổi, hộ khẩu tại Xóm Vàng, Hoàng Đan, Tam Dương, Vĩnh Phúc.

Tôi xin được trình bày với nội dung như sau:

…………

Với là đơn này, kính mong các quý cơ quan, ân nhân… hết sức lên tiếng cứu giúp mẹ tôi đang tuyệt thực trong nhà tù cộng sản, lên tiếng cứu giúp một người dân khiếu kiện lâu năm bị đàn áp và bắt bớ vô tội vạ.

Hà Nội, 17/6/2009

Nguyễn Thị Hương

(Liên lạc : +841223247067, Chị Khang +841673061848, chị Mai +84978105604)

Cũng đúng vào hôm mà cô Phương Bích, và các đại diện mạng lưới bloggers đang “trao đổi vấn đề nhân quyền ở Việt nam với Đại sứ quán Đức ở Hà Nội” thì một công dân Việt Nam (khác) lại tiếp tục đặt niềm “hy vọng mỏng manh” của mình, qua một tờ đơn khác:

Đơn Kêu Cứu

Phú Yên, ngày 28/8/2013

Kính gởi:

– Ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon

– Tổng Thống Hoa Kỳ Obama và Chính Phủ Các Nước Dân Chủ Trên Thế Giới

– Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Nghị Viện của Hoa Kỳ và các Nước

– Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ

– Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam

– Các Tổ Chức Nhân Quyền Trên Thế Giới

– Các Cơ Quan Truyền Thông Thế Giới

– Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại

– Ban Trị Sự Giáo hội PGHH Trung Ương tại Hải Ngoại

– Các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, đài RFA…

Tôi tên NGUYỄN THỊ KIM LAN, sinh năm 1957, hiện ngụ tại 17/6 Nguyễn Trãi, phường 5, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Việt Nam. Số điện thoại nhà 01226606052. Hôm nay, tôi xin trình bày về sự việc chồng tôi bị công an tỉnh Phú Yên bắt tạm giam tại trại tam giam tỉnh Phú Yên đã 7 tháng nay mà cho tới nay chúng tôi vẫn chưa rõ thông tin…

Trong tình trạng vô cùng lo lắng cho tính mạng chồng tôi, và trong tình trạng người già lại mang trong người nhiều căn bệnh  như bệnh đau bao tử, huyết áp cao… tôi không biết tình trạng của chồng tôi như thế nào, tôi kính xin Liên Hiệp Quốc, Chính phủ các nước, các Tổ chức Nhân quyền, các Cơ quan Truyền thông, các Đoàn thể Người Việt Hải ngoại, các Cơ quan yêu chuộng tự do trên thế giới lên tiếng và can thiệp giúp chồng tôi, giúp tôi biết được tình hình chồng tôi, và được trả về sống với gia đình.

Tôi cùng gia đình xin hết lòng cám ơn sự giúp đỡ can thiệp của Quý Tổ Chức và Quý Vị.

Trân trọng kính chào

Cô Nguyễn Thị Hương và bà Nguyễn Thị Kim Lan, cũng như bao nhiêu triệu công dân Việt khác – rõ ràng – không còn chút tin tưởng (nhỏ nhoi) nào vào luật pháp và giới lãnh đạo ở đất nước này. Khi mất mẹ, mất chồng, hay mất xe (đạp) họ chỉ cầu mong đến sự “giúp đỡ” hay “can thiệp” của…Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc và các tổ chức nhân quyền trên thế giới!

Mọi người, xem chừng, đều… hướng ngoại. Hay nói theo cách dùng chữ của blogger Phương Bích là đều… “cầu tới ngoại bang”!

Sao lại kỳ vậy cà?

Sao một dân tộc vốn có truyền thống “chống ngoại bang” và “vẫn tự hào vì đã đánh thắng ba đế quốc to” đùng, lại đùng đùng đâm ra “hảo ngoại” (hay “vọng ngoại,” hoặc “sùng ngoại”) dữ vậy – Trời?

Câu trả lời có thể tìm được sau khi nghe (qua) một…  Tiếng dân kêu:

Hải phòng 16-8-2010

Kính gửi:Giáo sư Nguyễn Huệ Chi – trang mạng boxitvn.net

Tôi Bùi Thị Đóa 72 tuổi, văn hóa lớp 6 bổ túc, trú 550 Tôn đức Thắng HP. Xin được hỏi và nhờ ông giúp đỡ như sau:

Tôi kêu cứu theo Hiến pháp, luật pháp VN, từ quan chức thấp đến cao nhất của Nhà nước, cụ thể là:

1/  Bộ chính trị và UBTV quốc hội: 120 đơn

Ô. Mạnh  Tổng bí thư:                 19 đơn

Ô. Triết  Chủ tịch nước:               25 đơn

Ô.  Trọng Chủ tịch quốc hội:       17 đơn

Ô.   Dũng Thủ tướng CP:             23 đơn

Dù vốn là một kẻ rất vô tâm, và dù chưa đọc hết tờ đơn (xem nội dung “kêu cứu” chuyện gì) tôi cũng đã cảm thấy vô cùng… ái ngại. Tôi không ái ngại vì hàng trăm lá đơn không người nhận của bà Bùi Thị Đoá. Tôi cũng không ái ngại gì vì sự “vô tình” của ông Tổng Bí thư, ông Chủ tịch Nước, ông Chủ tịch Quốc hội, hay ông Thủ tướng. Tôi chỉ ái ngại cho người (duy nhất) chịu nhận tờ đơn là giáo sư Nguyễn Huệ Chi – một nhân vật mà tôi e rằng chưa chắc đã có thể bảo vệ được trang mạng, cũng như sinh mạng, của chính mình trong thời buổi (nhiễu nhương) này!

Vấn đề cũng không chỉ giới hạn ở từng cá nhân. Ở bình diện tập thể, hình ảnh “những người dân oan không còn biết cầu mong ở ai” này – cùng với những biểu ngữ viết bằng ngoại ngữ, sai lỗi chính tả tùm lum – cũng đã xuất hiện mỗi lúc một nhiều, ở khắp mọi nơi.

Thôi thì cũng xin giới lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam hai chữ “đại xá”, chả thèm chấp nhất làm chi với (cái) đám dân đen vốn “ngu quá lợn” ở xứ sở này. Tuy nhiên, nếu rảnh, tưởng quí vị cũng nên xem qua bản “Tuyên bố của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền” và “Kháng thư của Khối 8406” về Nghị định 72 cho biết sự tình. Cả hai nhóm người (đạo cũng như đời) này đều “kính gửi” sự quan tâm của họ đến:

– Quý Chính phủ các Quốc gia tự do dân chủ

– Quý Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc

– Quý Tổ chức Nhân quyền hoàn vũ

– Quý Cơ quan truyền thông quốc tế và quốc nội…

Nói cách khác là mọi tầng lớp dân chúng đều đã đồng lòng…

* Bài viết trích từ trang blog của Tưởng Năng Tiến. Nội dung không phản ảnh quan điểm của RFA.

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

Lại Tư Mỹ: Lễ Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Tại Boston, Massachusetts

Posted by Webmaster on June 28, 2013

ltm 1Là quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, tôi những tưởng cuộc đời mình đã khép lại trong chốn lao tù Cộng sản ! May thay, những biến chuyển chính trị trên chính trường Thế giới đã cho chúng tôi cơ may làm lại cuộc đời.
Những dịp chào lá cờ thân yêu trong những ngày đầu định cư tại Hoa kỳ, và ngay cả đến bây giờ, tôi không cầm được nước mắt, hạnh phúc và xót xa ! có ngờ đâu, lá cờ thân yêu của chúng ta, cho đến ngày hôm nay, mãi mãi tung bay trên khắp tận cùng trái đất, bất cứ nơi nào có người Việt tỵ nạn Cộng sản cư ngụ .
Chẳng những thế, Quân Lực mà chúng tôi phục vụ, tưởng đã tan đàn, rã gánh! ngờ đâu, ngày nay, khắp nơi đều kỷ niệm và vinh danh. Nhân dịp kỷ niệm 11 năm thành lập Hội Cựu Sinh viên Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức và Vinh Danh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng gây qũy yểm trợ anh em Thương Phế binh của chúng ta được tổ chức long trọng vào chiều ngày thứ Bảy, 15 tháng 6 năm 2013 tại Nhà hàng China Pearl , Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã khẳng định rằng, quân đội chúng ta là một một quân đội anh hùng, chiến đấu để bảo vệ những gía trị cao đẹp, phục vụ Tổ quốc và đồng bào mình một cách tích cực nhất. chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn để chống lại 3 kẻ thù cùng một lúc: Cộng sản xâm lược, bọn ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản, đâm sau lưng chiến sỹ và bọn phản chiến trong lực lượng đồng minh!! Cám ơn quý anh Cựu SVSQ/ Thủ Đức đã cho chúng tôi những giờ phút tìm lại kỷ niệm đời quân ngũ, cám ơn Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã cho tôi niềm hãnh diện và tự hào về cấp chỉ huy của mình, về một Tướng Lãnh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa!
Ngày hôm sau, Chủ Nhật, 16 tháng 6 năm 2013, Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts long trọng tổ chức Lễ Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Townfield Park, số 1550 Dorchester Ave., thành phố Boston. Buổi Lễ năm nay do một thanh niên trẻ, Anh Nguyễn Hùng Khang, đương kim Hội trưởng Hội Thanh Niên Thăng Long trách nhiệm trong cương vị Trưởng Ban Tổ Chức. Chúc mừng Cộng đồng chúng ta, ngày càng có nhiều bạn trẻ, có khả năng và tràn đầy nhiệt tâm tham gia sinh hoạt.

ltm 2Chúng tôi có mặt tại địa điểm hành Lễ khi mọi việc đã chuẩn bị chu đáo và sẵn sàng, nhìn quý anh, quý chị trong bộ quân phục năm nao, lòng tôi bồi hồi xúc động! khán đài đã được trang hoàng rực rỡ, Cộng Đồng Việt nam Massachusetts, Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Yểm Trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa, Nhân quyền cho Việt Nam … tất cả đều in đậm nét trên các Banner khổ lớn, Ban Tổ chức còn chu đáo hơn, đã treo cờ khắp nơi từ ngày hôm trước trên các đoạn đường mà đoàn diễn hành sẽ đi qua.
Nghi thức chào cờ, do toán Quân Quốc kỳ phụ trách, ngoài hai lá đại kỳ Mỹ và Việt nam Cộng Hòa, Cờ Bộ Tổng Tham Mưu/ Quân Lực VNCH, cùng với Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức, Cảnh sát Quốc Gia và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/Đà Lạt.
Giây phút đặt vòng hoa do Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam/ Mass, Võ Bị Chiêm Thanh Hoàng, đại diện quân nhân và anh Nguyễn Hùng Khang, Trưởng Ban Tổ chức trang trọng tiến dâng lên trước bàn thờ Tổ Quốc với dòng chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” Mọi người cúi đầu, mặc niệm lắng nghe bài Văn Tế “Chiến sỹ Trận vọng” với giọng đọc trầm ấm và bi hùng của Võ Bị Nguyễn Xuân Cung và Ca Sỹ Ngọc Diễm, cộng thêm tiếng sáo véo von của Võ sư Tấn Nhật Bích, cùng với tiếng trống, tiếng chiêng của Bác sỹ Vũ Linh Huy và Anh Lê Rai, một thành viên trong Hội Đồng Quản Trị Cộng Đồng, tôi nghe đâu đây, những người anh em, đồng đội tôi trở về, hồn tử sỹ, gió ù ù thổi!!!! bạn ơi, hãy yên nghỉ!! hãy cầu nguyện cho Quê Hương, đồng bào mình!!! Mênh mang một cõi đi về…..ltm 3

Như một nghi thức vinh danh, đại diện các Quân binh chủng tiếp nhận vòng hoa từ các em gái hậu phương, năm nay chủ yếu do quý Chị trong Hội Phụ Nữ Cờ Vàng/ New England và các cháu Sinh Viên trao tặng.
Huỳnh Duyên Trinh, thành viên tích cực của Đoàn Thanh Niên Hướng Việt/ Worcester là MC cho buổi Lễ, Cô giới thiệu từng cá nhân phát biểu, lời chào mừng của Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Hùng Khang, làm tôi xúc động, trong lòng các em, phải có một tình cảm trân quý như thế nào với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nên các em mới dành nhiều thời gian và tâm sức để tổ chức buổi Lễ hôm nay, Kelly Thư, một cháu bé du sinh đang đi học, khi cháu lên phát biểu, cháu đi tay không, không giấy tờ, bài bản, có người bên cạnh tôi lo lắng, không chuẩn bị, làm sao nói?? nhưng mà, tôi cũng thực sự bối rồi, rồi đổi sang vui mừng, thì ra, cháu đã chuẩn bị trong đầu, những lời nói từ trái tim, đâu cần phải soạn sẵn! Thế hệ thứ 3 của chúng ta, đã đọc và đã hiểu lịch sử. Một câu nói trong bài phát biểu của ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam / Mass làm tôi nhớ mãi:” Xin để cho chúng tôi, những người dân được Vinh Danh quý vị, những Chiến Sỹ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bởi quý vị xứng đáng để được Vinh Danh.” dịp này Ông cũng công bố Nghị quyết của Hội Đồng Thành Phố Boston, công nhận ngày 19 tháng 6 là ngày “Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” và xác định, nơi đây, chính tại vị trí này đã được Hội Đồng Thành Phố Boston cho phép xây dựng Kỳ Đài Mỹ & Việt Nam Cộng Hòa.
Đúng 1 giờ trưa, đoàn người bắt đầu cuộc diễn hành, cờ bay ngập trời trong tiếng quân nhạc thân thương và hào hùng năm nao, cùng những bản nhạc nói lên khát vọng cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương Việt nam mến yêu, từ địa điểm hành Lễ, thẳng ngang qua đường Gibson, vòng qua Adams, tiến về Dorchester Ave. dân chúng bên đường hoan hô, cổ võ …. Kết thúc cuộc diễn hành, chúng tôi trở lại vị trí ban đầu, chào hỏi nhau, chụp hình lưu niệm, riêng anh em chúng tôi, những cựu SVSQ/ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt hú nhau một tiếng, chương trình hậu vinh danh tại nhà tôi, anh em lại có dịp nói cười, ôn lại chuyện xưa, chuyện nay, buồn vui lẫn lộn!
Sẽ là thiếu sót, nếu không ghi nhận thành phần Ban Tổ chức cũng như các Hội Đoàn, Đoàn thể tham dự:

ltm 4Trưởng ban: Nguyễn hùng Khang
MC: Huỳnh duyên Trinh
Giới trẻ phát biểu: Kelly Thư (sinh viên du học)
Hội cựu SVSQ/ĐH/ CTCT/Đà Lạt
Cựu SVSQ/Thủ Đức Mass và Tổng Hội
Cựu SVSQ/Võ Bị Đà Lạt
Đồng Đế Nha Trang
Hội Ái Hữu CSQG Mass
Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Mass
Hội Ái Hữu Hải Quân NE
Gia Đình Mũ Đỏ NE
Hội Quân Cán chính Lowell
Hội PNCV Mass
Hội Phụ Nữ Mass và vùng Phụ cận
Hội Diên Hồng
Phong trào GDVN Hải Ngoại
Chùa Lục Hoà
Chùa Phật Giaó Boston
Hội Thanh Niên Thăng Long
Viet-Aid
Hội Thanh thiếu niên Hướng Việt
Đảng Việt Tân
LMDC Mass
Hội Ái Hữu TT Ngô Đình Diệm
Các cựu Quân nhân TQLC, BDQ…
Rado TNT
SBTN/TV Boston
Nghị viên John Connolly
Sinh viên các Đại học tại Mass
và rất đông đồng hương tham dự.
Cám ơn Cộng đồng Việt Nam/ Mass, cám ơn các bạn trẻ đã bỏ nhiều công sức để tổ chức buổi Lễ long trọng hôm nay. Tôi nhớ đến anh em mình trong đơn vị thân thương ngày nào, nhớ đến những người bạn cùng Trường cùng Khóa, cùng vui buồn trong đời quân ngũ, cùng chia ngọt sẻ bùi trong chốn lao tù Cộng Sản, cùng nâng đỡ nhau trên đất lạ quê người! Cám ơn tình cảm dành cho nhau: những người anh em cùng chung chiến tuyến tại Massachusetts.

Boston, ngày Quân Lực 2013
Lại tư Mỹ

 

cDSC04359

cDSC04368

cDSC04351

cDSC04338

Posted in HPNCV/NE, Lại Tư Mỹ, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Sinh hoạt, Z đến A | Tagged: , , | Leave a Comment »

DORCHESTER……. và DORCHESTER DAY .

Posted by Webmaster on June 13, 2013

Lại-Tư-Mỹ 

Nếu có ai hỏi, trên thế giới này, đâu là nơi đẹp nhất ? Mỗi người sẽ có câu trả lời theo nhận định của mình, với tôi, rất đơn giản, đó chính là nơi, những người thân yêu của tôi đang cư ngụ !  Dorchester, đó là nơi đẹp nhất .

Dorchester ngày nay đã trở thành trung tâm sinh hoạt của những người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản , nơi các cơ sở thương mại sầm uất do người Việt làm chủ, có tất cả các dịch vụ đa dạng để giúp đỡ đồng hương, các cơ quan truyền thông , báo chí đa phần đặt bản doanh tại khu vực này, và đặc biệt hơn cả, có một Cộng đồng Việt Nam năng động, tích cực và nhiệt thành. Dorchester, với tình cảm nồng ấm đã là nơi nương tựa lý tưởng cho những người Việt ly hương !

Cách đây nhiều thế kỷ, vào năm 1630, những người khao khát tự do như chúng ta đã đặt chân đến vùng đất này, với bao chuân chuyên, vất vả với vùng đất mới, với khí hậu khắc nghiệt đã tranh đấu với thiên nhiên để xây dựng vùng đất trù phú này cho chúng ta được thừa hưởng ngày hôm nay. Năm 1904 , Ngày Dorchester ( Dorchester Day ) được long trọng tổ chức để kỷ niệm sự kiện lịch sử này, tuy nhiên, vì nhiều lý do, đã không được tổ chức liên tục, phải đợi đến năm 1963, Dorchester Day mới trở thành một ngày truyền thống được quy định vào ngày Chủ nhật đầu tiên trong tháng 6 và được tổ chức liên tục trong vòng 50 năm qua.

Dorchester Day năm nay, đúng vào ngày Chủ Nhật 02 tháng 06 năm 2013 kỷ niệm lần thứ 109 và cũng là kỷ niệm 50 năm Dorchester Day liên tục được tổ chức, đoàn diễn hành bắt đầu đúng 1 giờ 00 PM khởi đi từ khu vực Lower Mills, góc đường Richmont và Dorchester trên đoạn đường dài 3.2 miles và chấm dứt tại góc đường Columbia và Dorchester. Theo tài liệu của Ban tổ chức, đoàn diễn hành sẽ theo thứ tự :

DSC04148ADVANCE UNIT

BostonFire Department
Boston Emergency Medical Services
Brewster Ambulance
McCall Ambulance
Eascare Ambulance
CHIEF MARSHAL’S DIVISION
Mayor Thomas M. Menino & Family
Dorchester Day Parade Chief Marshals 1963-2012
Boston Police Gaelic Column
Transit Police Honor Guard
Chelsea Soldiers Home Honor Guard
National Lancers
Community Academy of Science & Health – JROTC
English High School Army – JROTC
Cub Scout Pack 11 – Mather School
5th Mass Battery
Disabled American Veterans
Vietnamese American Community of Massachusetts

LTM 1

WestbrookDrum Corps
2013 Mayor of Dorchester – Kelly Butts
Spartans Drum & Bugle Corps
2013 Little Miss Dorchester – Rachel Christopher
2013 Young Miss Dorchester – Adrianna Bravo
2013 Artist Competition Winners –
Adaeze Wogu & Anna Nguyen
2013 Essay Competition Winners –
Richard Tran & Jeanelle Hernandez
Mrs. Massachusetts – Janelle Woods-McNish
State Championship Basketball Team –
Richard J. Murphy School
Boston Gaelic Fire Brigade
Boston Fire Museum
Ms. Silver / Ms. American Tropical Beauty of MA –
Sondra Hardy
Dynasty Productions Inc.

FIRST DIVISION

Boston City Councilor – Frank Baker
Tony Barrie Marching Band
Dorchester Arts Collaborative
City Councilor At-Large (President) – Stephen Murphy
Christ the Rock Church
Massachusetts Nurses Assoc. Region 5
Mayoral Candidate – City Councilor Felix Arroyo
Estrellas Tropicales
Vietnamese American Initiative for Development
(Viet Aid)
Mayoral Candidate – City Councilor John Connolly
Worcester Brass Band
Let’s Get Ready
Dorchester Collegiate Academy
Mayoral Candidate – City Councilor Robert Consalvo
Nigerian American Community Organization Inc.
Carney Hospital
Fields Corner Main Street
Century 21 – Cahill Associates
City Councilor At-Large Ayanna Pressley
Kenny School Marching Band
Fields Corner Children – Thrive
Mayoral Candidate – City Councilor Charles Yancey
105.7 WROR
Pilgrim Church
Mayoral Candidate – City Councilor Mike Ross
Phillips Family Hospitality

SECOND DIVISION

Suffolk County Sheriff – Steven Tompkins
Roma Band
All Dorchester Sports League (ADSL)
Dorchester Avenue Donuts Inc. – Dunkin Donuts
Dorchester Community Food Co-op
MA State Senator-Elect Linda Dorcena Forry
Trinidad & Tobago Social Club of Boston Inc.
Dorchester Board of Trade
James Massone / The Voice – H. Levenbaum Insurance
Mayoral Candidate – State Representative Marty Walsh
Firehouse Dixie
Meeting House Hill Reunion
Dorchester Recycling Coalition
Standish Village Assisted Living
Mayoral Candidate – District Attorney Dan Conley
Uncle Sam Jazz Band
DotOut
Uphams Corner Health Center / Elder Service Plan
State Representative – Nick Collins
Black Diamond Dance and Twirl
Veterans for Peace
Empowerment Christian Church
Patsy’s Clowns
Saint Brendan Color Guard
Vietnamese American Small Business Assn. of MA (VASBAM)
Dorchester Lacrosse

THIRD DIVISION

City Council At-Large Candidate – Annissa Essaibi-George
New Liberty Jazz Band
Big Sister Assn. of Greater Boston
Big Brother Big Sister Foundation
City Council At-Large Candidate – Michael Flaherty
Roberto Clemente 21 Dancers
Dorchester People for Peace
Mayoral Candidate – Charlotte Golar Richie
Providence Brass Band
Samaritans Inc.
Mayoral Candidate – Bill Walczak
Dotwell – Dorchester House & Codman Sq. Health Center
Dorchester YMCA
City Council At-Large Candidate – Michelle Wu
New England North Minority Pathfinders
Mayoral Candidate – John Barros
Worcester Sound & Lights Military Band Organ
MacLellan Law Firm
Lt. Governor Candidate – Steve Kerrigan
92.9 WBOS
Cluster of Clowns
Kit Clark Senior Services
Bay Cove Human Services
City Council At-Large Candidate – Jeffrey Ross
DJ3Way Entertainment
Dorchester Youth Soccer
City Council At-Large Candidate – Martin Keogh
Boston Windjammers
City Council At-Large Candidate – Jack Kelly III
Avenue Auto Wholesalers
Mayoral Candidate – Charles Clemons
Cycling Murray’s

Dorchester Day ngày càng trở lên một sinh hoạt đa dạng của những người tạo lên sự phồn vinh của khu phố đông dân nhất thành phố, cũng là cơ hội biểu dương nét đẹp văn hóa của mọi sắc dân, sự lớn mạnh của các cơ quan, đoàn thể phục vụ dân chúng, và đặc  biệt là cơ hội cho các chính trị gia, hiện diện và quảng bá cho các cuộc tranh cử tương lai. Có tham dự và chứng kiến cư dân đứng chật hai bên đường, các đơn vị diễn hành trang trọng, rực rỡ trong mầu cờ, sắc áo, chúng ta mới cảm nghiệm được niềm hãnh diện của cư dân địa phương này.

Dịp này, chúng ta cũng được vinh dự có Richard Trần được vinh danh trong đoàn diễn hành vì đã đoạt giải nhất trong bài tiểu luận của mình, và cháu Anna Nguyễn chiến thắng trong cuộc thi nghệ thuật , trong khi tước hiệu ” Cô bé xinh đẹp Dorchester ” thuộc về em Rachel Christopher, và Hoa hậu trẻ Dorchester thuộc về em Adrianna Bravo. Mặc dù đơn ứng thi đã được Cộng đồng phổ biến rộng rãi, nhưng bản chất khiêm nhường của người Việt đã làm đa số phụ huynh chần chờ, e ngại, nếu không, số các cháu gốc Việt được vinh danh phải là cao hơn nhiều . Và một điều đáng tiếc nữa, cũng vì bản tính này mà chúng ta thiệt thòi, không có cơ hội vươn cao hơn trong một đất nước tự do, dân chủ, và biểu dương được khí thế Cộng đồng mình, nếu không, người đưọc biểu dương là ” Mayor of Dorchester.” sẽ không phải là Kelly Butts mà phải là một nhân vật trong Cộng đồng mình được nhiều người ủng hộ,  tín nhiệm và đề cử .

LTM 2

DSC04105

Đoàn diễn hành của Cộng đồng Việt Nam được đánh gía cao, ngoài số người tham dự đông đảo, mầu cờ, sắc áo rực rỡ cả một góc trời, bao gồm cả một đoàn xe hùng hậu, trang trí công phu, mỹ thuật , quý vị cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong toán Quân Quốc kỳ,  các chị trong Hội Phụ Nữ Cờ vàng, các bạn trẻ trong Thanh Niên Thăng Long, các cơ quan, đoàn thể, thiếu nhi …. và đặc biệt, Trường Huấn Luyện Võ thuật Bình Định/ Boston rực rỡ xe hoa,  với chân dung vị anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ với một Benner rất lớn ” Vua Quang Trung đại phá quân Thanh.” như một cảnh tỉnh cho bọn Cộng sản Việt nam hôm nay đang khom lưng dâng đất, dâng biển cho Tầu cộng !

Hãnh diện và tự hào biết bao khi thấy các cháu biểu diễn võ thuật trên suốt đoạn đường diễn hành, một thế hệ trẻ năng động, tinh thần minh mẫn, trong một thân thể tráng kiện , bài hát năm nao lại trở về ” khỏe vì nước, kiến thiết Quốc gia .” hãy xây dựng lại quê hương mình đang bị tàn phá và có nguy cơ ” Việt nam còn hay đã mất !”

LTM 3

Như một khách bàng quan, chúng ta sẽ nhận xét, cuộc diễn hành năm nay quy mô, trang trọng và đẹp, thực đúng như vậy. Nhưng để có được như vậy, phải là bao công phu, khó nhọc của những người nhiệt tâm, chỉ nói riêng về Cộng đồng mình, là đã thấy công phu, từ việc thuê mướn xe cộ ngày hôm trước, sáng sớm ngày Chủ Nhật đã có bao nhiêu người hiện diện để trang trí , chuẩn bị, tôi phụ với quý anh chị được một chút thôi, vì tới nơi, mọi sự gần như đã hoàn tất, lòng cũng áy náy vì chẳng đóng góp được bao nhiêu ! Tôi vui, vì thấy quý anh chị đắn đo, suy tính từng chi tiết nhỏ trong việc trang trí, cụ thể cờ Mỹ, cờ Việt Nam phải như thế nào cho đúng cách và trang trọng, Benner ” Thank you American .” phải được mang theo đoàn diễn hành như thế nào để biểu tỏ được lòng biết ơn của chúng ta với đất nước đã cưu mang chúng ta , thực đúng như Ông bà đã từng dạy ” Ai mà phụ nghĩa quên công, thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm .”

Buổi chiều, sau buổi diễn hành, như thông lệ hàng năm , nhân tiện tưởng thưởng các em võ sinh, Võ Sư Tấn Nhật Bích có nhã ý mời một số thân hữu dự buổi cook-out thân mật. Chỉ một câu nói mà tôi hiểu được tấm lòng của vị Võ Sư nhiệt thành này ” Nhìn các em ăn uống ngon lành, mình vui sướng qúa !” Cám ơn Dorchester  đã cho tôi gặp những người bạn giầu lòng nhân ái.

Trên đường về nhà, lòng cứ miên man, bạn bè thường nói tôi là số đẻ bọc điều, nghĩ kỹ, chúng ta đều có số đẻ bọc điều ! bởi, có ngờ đâu những kẻ bị ngược đãi tại chính quê hương mình, nay lại được sống trong một đất nước tự do, dân chủ . Trân trọng cuộc sống có được ngày hôm nay, chúng ta phải hết lòng bảo vệ và gìn giữ nó, qúa khứ đã cho chúng ta kinh nghiệm, Cộng sản sẽ chẳng buông tha cho chúng ta, chúng sẽ tìm mọi thủ đoạn xâm nhập, lũng đoạn, chia rẽ …. Cám ơn quý anh, quý chị đã nhiệt tâm lo lắng trong các sinh hoạt chung để Cộng đồng chúng ta có được sự khởi sắc như ngày hôm nay. Một tin vui lớn, kế hoạch thực hiện một Kỳ Đài Việt – Mỹ tại ngay trung tâm khu vục người Việt tại Dorchester đã được tổ chức Cộng Đồng vận động nhiều năm qua, nay đã có kết qủa ,  được sự chấp thuận của Chính quyền Thành phố  và sự ủng hộ nhiệt tình của các vị dân cử, ngày 28 tháng 5 vừa qua, vào lúc 4 giờ 00 chiều, tổ chức Cộng đồng Việt Nam cùng rất đông đại diện các Hội đoàn & Đoàn thể cùng sự hiện diện của đại diện văn phòng Nghị viên Jonh Connolly , ứng cử viên sáng gía cho chức vụ ” Thị Trưởng  Boston ” đã đến và xác định vị trí ” Xây dựng Kỳ Đài Mỹ & Việt .”

” Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu ” chẳng những trên Cổ Thành Quảng Trị điêu tàn, mà nay, trên chính thành phố thân yêu : Dorchester ! cái nôi của người Việt tỵ nạn Cộng sản thuộc Tiểu bang Massachusetts.

Boston mùa này mưa nhiều, tôi nhớ đến bài thơ tình nổi tiếng của Nguyên Sa : “Tháng Sáu trời mưa, trời mưa không dứt. Trời không mưa, tôi cũng lạy trời mưa.” tình thì tình thật, nhưng mưa mà đi diễn hành thì vất vả lắm, cám ơn Ông Trời không nghe lời cầu xin của Nguyên Sa , nên Dorchester Day chẳng những không mưa, mà còn rất đẹp. Hy vọng ngày Chủ Nhật 16 tháng 6 này, là ngày Father’s Day và cũng là ngày các bạn trẻ tổ chức Lễ Vinh danh Quân Lực Việt nam Cộng hòa tại Townfield Park số 1550 Dorchester Ave. Dorchester, MA. 02122 từ 12 giờ 00 trưa đến 3 giờ 00 chiều , cũng sẽ là ngày nắng đẹp.

Boston, một ngày tháng sáu trời mưa !

                                                                       Lại tư Mỹ 

DSC04017

Posted in HPNCV/NE, Lại Tư Mỹ, Sinh hoạt, Đời sống quanh ta | Tagged: , , , | Leave a Comment »

“Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng dậy đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.”

Posted by Webmaster on November 9, 2012

Tưởng Năng Tiến:  Ăn học & ăn nói

“Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng dậy đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.”

–         Bùi Ngọc Tấn

Tôi không rành ngoại ngữ nên chỉ đoán non, đoán già rằng nhân loại (chắc) không mấy ai “đam mê” chuyện ăn uống  như là dân Việt: ăn tết, ăn giỗ, ăn khao, ăn cưới, ăn đám, ăn mừng … Ngoài ăn trưa, ăn tối, ăn chiều và (thỉnh thoảng) ăn dặm, ăn chơi,  ăn hàng – như đa phần thiên hạ – người Việt còn ăn chực, ăn ké, ăn quà, hay ăn vặt … suốt ngày.

Và cách ăn của chúng ta, xem ra, lại (thường) không được thanh nhã hay tử tế gì cho lắm: ăn bẩn, ăn vụng, ăn hớt, ăn bớt, ăn xén, ăn chận, ăn lường, ăn quỵt, ăn theo, ăn mảnh, ăn lẻ, ăn gian,  ăn tham, ăn không, ăn vạ… Đó là chưa kể đến chuyện ăn mày, ăn xin, ăn nhặt … hoặc ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, và tệ nhất là ăn tiền, ăn hối lộ hay còn gọi một cách bóng bẩy là tham nhũng!

Trong giới hạn cho phép của môt bài báo ngắn, câu chuyện hôm nay chỉ xin giới hạn vào hai chuyện (nhỏ) có liên quan đến miếng ăn: ăn học và ăn nói.

Vi nạn tham nhũng nên dù sống trong một quốc gia có con số xuất khẩu lúa gạo cao nhất thế giới, nhiều người dân Việt vẫn không đủ cơm ăn – theo như tường trình của báo Dân Trí , đọc được vào hôm 5 tháng 09 vừa qua:

“Ở Huổi Chát, ở Mường Tè, ở vùng cao, việc đầu tiên của những cô giáo trước ngày khai trường, không phải là nghĩ ra các khoản thu, nghĩ ra cách thu tiền mà là ‘dân vận’ để cha mẹ học sinh đồng ý đưa con đến trường. Không thể có giáo dục nếu như không có những ngôi trường. Nhưng cũng không thể có những ngôi trường nếu như không có học trò. Chỉ buồn là giáo dục ở vùng cao không thể tách rời chuyện miếng cơm manh áo. Huổi Chát tất nhiên không phải ngoại lệ. ..

Miếng cơm manh áo thúc vào sườn họ đau và bức bối đến mức ước mơ đôi khi chỉ là bát cơm có miếng thịt. Và cái chữ, vì thế cũng là thứ gì đó xa xỉ, thậm chí xa lạ. Chúng tôi đi từ Văn Chấn, Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, ngược lên Phong Thổ, Mường Tè, qua 9 điểm bản và nhận ra một điều rằng, ở bất cứ trường học vùng cao nào cái khó nhất của thầy trò nơi đây chính là bữa ăn…”

Hai cô bé bán rau. Nguồn: thitruongvietnam.comCái đói, tất nhiên, không chỉ giới hạn ở những vùng thượng du miền Bắc mà hiển hiện khắp mọi nơi. Tại một phiên chợ sớm, họp lúc nửa khuya và tan lúc trời vừa hừng sáng – tại thị trấn A Lưới, Thừa Thiên, Huế – phóng viên  Như Ý và Văn Long đã ghi lại được nhiều hình ảnh mưu sinh (nhọc nhằn) của những bé thơ miền núi:

“Em Hồ Thị Nhơn, 5 tuổi (thôn Pơ Nghi 1, xã A Ngo) thức dậy từ 2h đêm với mớ rau má mang đi. Em Hồ Thị Hiền, học sinh THCS Hồng Quảng đang ngồi bên chậu hến. Hồ Thị Hiền tâm sự: ‘Buổi chiều, khi cô giáo cho lớp nghỉ là em lên cái suối xa để mò con hến, rồi chờ đến sáng sớm mai để đem xuống chợ.’ Mỗi lon hến tươi của Hiền có giá 1.000 đồng. Em vẫn đi mò thường xuyên, và sau mỗi buổi chợ em có được 10 đến 15 ngàn để giúp mẹ cải thiện bữa ăn gia đình và mua thêm sách vở.” 

Không cần phải là thầy bói, người ta cũng đoán được rằng trên bàn tay của các em Hồ Thị Nhơn và Hồ Thị Hiền không có đường học vấn; hoặc, lỡ có, chắc cũng ngắn thôi. Không đứa bé nào có thể tiếp tục thức dậy lúc hai giờ sáng để em hến đem rau ra chợ bán, xong vội vã đến trường, rồi tan trường lại lật đật đi hái rau mò hến …. cho buổi chợ hôm sau mãi mãi.

Đời sống có những nhu cầu ưu tiên sắp sẵn: ăn – học. Cơm chưa có đủ ăn, áo chưa có đủ mặc. Nói chi đến chuyện học hành làm chi cho nó thêm phiền.

Miếng ăn ở miền xuôi, về cơ bản, coi như tạm ổn. Chuyện ăn/học không còn là một vấn nạn lớn cho phần đông dân chúng. Tuy nhiên, người dân lại phải đôi diện với một vấn nạn khác: ăn/nói.

Sếp ăn dữ quá…Một chuyến đi Hồng Kông về được là bao. Sếp xuống gặp thuyền trưởng nói thẳng: Chuyến này lo cho hai trăm triệu nhé… Hai trăm trịệu chứ ba ba trăm triệu cũng phải nôn ra. Thế là anh em lại phải đóng góp. Đây chỉ là khoản đóng góp đột xuất thôi. Các chuyến khác thấp hơn nhưng vẫn phải bảo đảm chỉ tiêu…những buổi họp cán bộ chủ chốt, đến hội nghị công nhân viên chức, sếp lên nói chuyện. Sếp toàn nói về những điều to lớn hệ trọng, về toàn tâm toàn ý xây dựng xí nghiệp, xây dựng chủ nghĩa xã hội, về năng động sáng tạo, và chống lãng phí tham ô, về vấn đề phát huy tinh thần làm chủ, đấu tranh xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nói mà không hề ngượng nghịu, không hề vấp váp.

– Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.

– Cái tài của các sếp chính là ở chỗ ấy. Có thế mới làm sếp được…” 

(Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói CáHội Nhà Văn. Hà Nội: 2008,197).

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

Mì quảng ơi, thôi vĩnh biệt

Posted by Webmaster on November 8, 2012

Thu, 11/08/2012 – 10:54 — tuongnangtien

Người ta xêu nhẹ vài sợi mì, gắp thêm một chút rau, ấn nhẹ muỗng xuống tô để lấy thêm chút nước… rồi e ngại, rụt rè đưa vào mồm. Và rồi sẽ hiểu (ngay) thế nào là nỗi thất vọng đắng cay của kẻ “yêu lại một người yêu thất tiết!”

Người ta xêu nhẹ vài sợi mì, gắp thêm một chút rau, ấn nhẹ muỗng xuống tô để lấy thêm chút nước… rồi e ngại, rụt rè đưa vào mồm. Và rồi sẽ hiểu (ngay) thế nào là nỗi thất vọng đắng cay của kẻ “yêu lại một người yêu thất tiết!”
Tưởng Năng Tiến

Rồi ngày California ngắn lại. Nắng dịu vàng và sáng hẳn ra. Vào lúc ngày đi dần vào tối, gió chiều đã bắt đầu có pha lẫn một chút hơi lạnh làm se se da thịt. Sáng có hôm dậy muộn vẫn chưa thấy nắng, bầu trời thoáng vẻ âm u, và thành phố lãng đãng sương mù.

Thế là mùa thu đến. Mùa hè bỏ đi bất chợt, vội vã như một người tình hối hả vượt biên. Mùa Thu xuất hiện bất ngờ như một mối tình muộn màng, vào lúc mà người ta đã tưởng chuyện tình là chuyện không còn… cách nào xảy ra được nữa.  đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

Nghĩa muội Tạ Phong Tần

Posted by Webmaster on October 12, 2012

04:02:am 12/10/12 | Tác giả: 

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

Tạ Phong Tần

Quãng đời ấu thơ của tôi buồn bã, và trơ trọi. Anh kế tôi, Tưởng Đăng Trình, qua đời lúc mới vừa lên chín. Tôi được sinh ra – có lẽ – chỉ để bù đắp (phần nào) cho sự mất mát quá lớn lao, và bất ngờ đã đến với bố mẹ mình.

Và vì thế giữa tôi và người chị kế là khoảng cách khá xa về thời gian, cũng như tình cảm. Chị hơn tôi đến gần mười tuổi. Chúng tôi, tất nhiên, không có thú vui nào có thể chia sẻ với nhau. Chị lớn của tôi thì lấy chồng rất sớm, và ở rất xa. Cả ngày tôi đành chơi lủi thủi mỗi mình, giữa đồi núi bao la và hoang dại, ở Tây Nguyên. Quanh tôi chả có ai ngoài hoa bướm, chim chóc, và sóc chồn.

Sự đơn độc này, xem chừng, đã ảnh hưởng không ít đến đời sống của tôi mãi mãi về sau. Như để bù đắp vào sự thiếu thốn của những ngày thơ ấu, trên đường đời, tôi hay kết nghĩa anh em với những người mà mình qúi mến.

Tạ Phong Tần là một trong những người này. Tôi “kết” em ngay sau khi đọc bài viết khai bút (“Mỗi Blogger Hãy Là Một Nhà Báo Công Dân”) vào ngày đầu năm 2008:

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”

“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta...”

Tuyển Tập Tạ Phong Tần

Quan niệm tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Với bản chất phá hoại và đa nghi, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang toan tính …“diễn biến hoà bình” – cần phải bị giam giữ và trừng phạt nặng nề.

Tạ Phong Tần bị họ bắt giam vào ngày 5 tháng 9 năm 2011, đưa ra toà vào ngày 24 tháng 9 năm 2012 (cùng với hai thành viên khác của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do) và đã bị kết án hàng chục năm tù, với tội danh rất mơ hồ (và hàm hồ) là “tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Và điều này đã được Tạ Phong Tần dự đoán trước đó, khá lâu:

Anh à, trong trường hợp em gặp nạn, em ủy thác cho anh công bố công khai tất cả những bài viết em đã đăng báo dưới bút danh khác là bài của em. Để cho thế giới thấy rằng chúng đang đàn áp một nhà báo bình thường với với những bài viết rất bình thường, nhưng vì là nhà báo tự do nên phải như thế.”

 

Anh à, trong trường hợp em gặp nạn, em ủy thác cho anh công bố công khai tất cả những bài viết em đã đăng báo dưới bút danh khác là bài của em.

Thể theo ý nguyện này, tôi đã liên lạc và được ban biên tập tuần báo Trẻ đồng ý phụ trách xuất bản Tuyển Tập Tạ Phong Tần (*). Đây là một cuốn sách mỏng chỉ bao gồm một số những bài viết về thời sự của tác giả trong hai năm 2010 và 2011 nhưng thể hiện được đầy đủ những nỗ lực – cũng như quan niệm – của em tôi về vai trò của một blogger: “Dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”

Cái đám “công chức” của “Nhà Nước Pháp Quyền CHXHCNVN” đã phản ứng điên dại bằng cách tuyên án mấy chục năm tù và hàng chục năm quản chế cho ba bloggers:Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, và Phan Thanh Hải. Đây là bản án khắc nghiệt dành cho chính chế độ hiện hành, chứ không phải cho nghĩa muội của tôi, và hai người bạn đồng hành.

Tự nó đã tố cáo sự bất lực và lo sợ của nhà đương cuộc Hà Nội trước ảnh hưởngt sâu rộng của những bloggers ở Việt Nam. Họ đang xử dụng  những phương tiện truyền thông tân kỳ, của thời đại thông tin, để để cổ vũ tự do và dân chủ cho xứ sở. Nó cũng khiến cho bất cứ ai còn mơ hồ về bản chất (bất lương và đê tiện) của chế độ hiện hành nhận ra điều giản dị này: thể chế hiện nay không thể nào thay đổi mà phải được thay thế. Ngoài ra nó còn phơi bầy một sự thực rõ ràng và phũ phàng là  “ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ CHỌN LỰA DỨT KHOÁT THÀ MẤT NƯỚC CÒN HƠN MẤT ĐẢNG, ĐỨNG VỀ PHÍA TRUNG QUỐC TRÊN BÀN CỜ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI” – theo như nhận định của blogger Song Chi.

Biếm họa Babui. Đàn Chim ViệtVới sự “lựa chọn” ngu xuẩn này, tôi không nghĩ rằng những người cầm quyền hiện tại vẫn có thể tiếp tục tại vị ngang với thời gian bản án mà họ đã cho Tạ Phong Tần. Và tôi tin chắc rằng cái ngày mà mình có thể cầm Tuyển Tập Tạ Phong Tần để đứng đón người em kết nghĩa, trước cổng trại giam, sẽ không còn bao lâu nữa.

Nhân đây, tôi xin được thay mặt nghĩa muội của mình để cảm ơn tất cả qúi vị đã chào đón tác phẩm đầu tay của em. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến ban biên tập của tuần báo Trẻ trong việc xuất bản và phát hành Tuyển Tập Tạ Phong Tần.

Cho ra đời một cuốn sách ở một nơi mà tiếng Việt bị coi như là ngoại ngữ, và giữa lúc mà mọi ấn phẩm đang mất dần người đọc, là một việc làm đòi hỏi ít nhiều hy sinh của những người phụ trách. Tuy nhiên, có nhiều sự kiện cần phải được ghi lại rõ ràng bằng giấy trắng mực đen. Tuyển Tập Tạ Phong Tần là một trong những ghi nhận cần thiết như thế cho thời điểm hiện tại, cũng như cho lịch sử của dân tộc mai sau.

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »

Hoa sứ nở hoa mang hình cờ Việt Nam Cộng Hòa

Posted by Webmaster on September 25, 2012

Hoa sứ nở hoa mang hình cờ vàng với ba sọc đỏ, cờ Việt Nam Cộng Hòa.
Điềm lành chăng?
Trả ta núi thẳm rừng thiêng! Sông hồ biển đảo tài nguyên đất trời. Nếu không! Dân nguyện một lời: Tru di cửu tộc hết đời cộng nô!
Bỗng dưng hoa sứ nhà nàng,
Thinh không lại nở cờ vàng Việt Nam.
Điềm trời báo hiệu phải chăng?
Cộng Hòa thuở trước thăng trầm đáo lai?
Ba tám năm, non nửa thế kỷ dài,
Ma vương quỉ cộng đọa đày dân Nam.
Giờ đây tiếng khóc dân oan,
Cờ vàng xuất hiện xóa tan xích xiềng.
Hoan ca tiếng hát mọi miền,
Từ Nam chí Bắc một lòng đứng lên.
Trả ta núi thẳm rừng thiêng!
Sông hồ biển đảo tài nguyên đất trời.
Nếu không! Dân nguyện một lời:
Tru di cửu tộc hết đời cộng nô!
Thanh Ty

Posted in Nguyễn Thanh Ty, Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Đ Á N H ! ! ! Đánh ai? Ai đánh?

Posted by Webmaster on August 6, 2012

Nguyễn Thanh Ty
“Vì thế mà tòa sọan Tin Sáng, địa chỉ số 124 đường Lê Lai bị đốt vào ngày 28-3 và có trải truyền đơn như sau: “Đồng bào quyết đập chết những tên cộng sản nằm vùng Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận.Hoặc: “Quần chúng rất phẫn nộ trước những hành động đâm sau lưng chiến sĩ của các dân biểu tay sai Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận” Tin Sáng”. (http://namkyluctinh.org/a-lichsu/nvluc-baochimiennam[54-75].htm)
·

           Đọc bài viết của ông Hồ ngọc Nhuận (k èm bên dưới bài này) xong thấy buồn cười chứ trong lòng chẳng có chút lay động mảy may nào về nhiệt huyết yêu nước cứ nung nấu hừng hực trong tâm can bấy lâu, kể từ ngày bọn vô thần Bắc Việt Nam đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản mà quan thầy là Liên xô và Trung cộng để nuốt trọn miền Nam tự do yêu quí của chúng ta.

·
Bây giờ thì mọi người Việt Nam, nhất là bọn đầu trâu mặt ngựa  miền Bắc, lính đánh thuê, và đặc biệt xấu hổ nhục nhã vô cùng tận là bọn trí thức miền Nam, bọn ăn cơm quốc gia thờ ma Việt cộng đã đâm sau lưng quân dân miền Nam đã sáng mắt ra và đã uất hận khôn cùng khi chứng kiến tận mắt bọn Tàu khựa ngày càng ngang tàng hống hách, hung hăng ngay trên đất nước mình.
·
Vì ai và vì đâu mà bọn Tàu khựa khốn kiếp này càng ngày càng lộng hành, ngang ngược chiếm đất, chiếm rừng, chiếm biển đảo của ta một cách trắng trợn như vậy?
Không cần phải có câu trả lời dài dòng, diễn giãi bởi, vì, rằng, thì, là…
Mà câu trả lời thẳng, ngắn gọn: Chỉ tại tên bán nước Hồ Chí Minh đã cam tâm làm tên tay sai nô lệ cho Tàu và Liên xô. Bây giờ hậu duệ của lão ta tiếp nối công việc bán nước, dâng cơ đồ Việt Nam cho Tàu khựa để được chúng phong chức quan và “bảo kê” cái ghế luôn bền vững để được “muôn năm trường trị” ngồi trên đầu trên cổ, bóp họng dân đen Việt Nam, vơ vét tài sản cho mình, gia đình mình và bè lũ của mình.
·
Trong lúc bọn bán nước, 14 tên trong Bắc Bộ phủ, đại diện là ba tên: Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng đang ra sức nịnh nọt, bợ đỡ, suốt ngày chầu hầu Bắc Kinh để lấy lòng quan thầy Thiên triều Đại Hán(g) mỗi khi bất đắc dĩ phải khom lưng uốn gối trước những tên “Đế Quốc Mỹ” trong thời gian vừa qua,sang Việt Nam thăm viếng xã giao để làm ăn và chèo kéo VN vào liên minh quân sự để hòng ngăn chận bước chân của Tàu khựa đang mạnh bước về Biển Đông t óm thu khu vực Đông Nam Á thì làm sao mà hô hào đánh! đánh!
·
Tất nhiên ta không thể vung quyền, tung cước đánh được địch khi bị trói tay, trói chân. Bị trói nằm quay cu lơ ra đó bị địch đánh cho tối tăm mặt mũi mà cái mồm “sĩ diện” cứ la oai oái: Đánh chết mày nè! Đánh chết mày nè!
·
Thật là buồn cười khi nhớ lại câu chuyện tiếu lâm về anh chàng sợ vợ. Mỗi lần bị vợ đánh cho lê lết, cứ chui xuống gầm giường trốn mà miệng thì la bài hãi: Đánh cho mầy chết! Đánh cho mày chết!, khiến hàng xóm nghe cứ tưởng anh chàng đang đánh vợ.
·
Quốc Hội ta đã ra “Luật biển đảo” xác nhận chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của ta rồi mà sao bạn lại nói lời tiêu cực vậy? Ngay Thủ tướng 3 Dũng cũng đã mạnh mẽ tuyên bố Hoàng, Trường Sa là của ta rồi đó sao!
·
Biết rồi! Không những tuyên bố, ra luật mà còn thông báo rộng rãi mua vũ khí, tàu ngầm, tàu nổi để bảo vệ tổ quốc nữa kia…
Toàn là hư chiêu cả! Toàn là những ngón đòn bịp bợm để che mắt và làm dịu lòng dân đang phẩn uất sôi sục như áp suất nồi súp de sắp nổ tung đấy thôi. Chứ mấy chiếc tàu ngầm Kilo cỏn con của Liên xô mà đánh đấm gì ai. Chỉ tổ gãi ngứa cho hỏa lực Tàu khựa.
·
Ngay mấy chiếc tàu gọi là Hải giám của chúng đi nghênh ngang sát  ven bờ Đà Nẵng, Khánh Hòa mà hải quân Vẹm đã run như cầy sấy, cứ đứng trong bờ vén quần lên hô khẩu hiệu:Việt Nam phản đối hành động sai trái của anh em đồng chí 16 chữ vàng và 4 tốt nước lạ!
Rồi cứ mặc cho ngư dân Quãng Nam Đà Nẵng ngày ngày bị bọn Tàu khựa khốn kiếp bắt giữ, đánh đập, chém giết, bắt giam đòi tiền chuộc.
·
Lại có lần Quốc Hội hô hào cấp súng cho ngư dân chống lại bọn Tàu tặc.
Cái chiêu này chỉ tổ xua dân đen mau vào chỗ chết. Tàu khựa sẽ lấy lý do tàu đánh cá VN có vũ khí sẽ dễ dàng nổ súng hơn. Người viết, ngay lúc đó, có hiến kế cho Nhà nước VN một thế võ bí truyền để huấn luyện ngư dân chống giặc lợi hại hơn mà không gây tiếng súng nổ, châm ngòi chiến tranh rộng lớn. Đó là miếng “Kim kê áp noãn” hay “ Hải để tầm châu”. Nói nôm nay mach qué là ngón “bóp dế” mà mấy bà sư tử Hà Đông thường áp dụng cho quí ông chê cơm nhà, thích lén đi ăn phở. Không biết Nhà nước VN có nghe theo lời hiến kế của kẻ hèn này không? Cái bí quyết của miếng võ này làm làm sao áp sát, tức sáp lá cà, với quân thù mới giơ tay ra đúng tầm để bóp nếu không thì… sẽ giống như kết quả Hội đồng chuột: Ai sẽ là người đem chuông treo vào cổ mèo?
·
Trở lại chuyện ông Hồ ngọc Nhuận hô hào: Đánh! Đánh!
Đánh cái con khỉ khô!
·
Phải chi ngày xưa làm dân biểu, viết báo ông cũng mạnh miệng hô như thế cho toàn quân dân miền Nam đứng lên đánh bỏ mẹ tụi ViXi thì có phải là hay biết mấy! Miền Nam đâu đến nỗi mất sớm như thế?
Ông Nhuận có lẽ ức lòng trước thái độ quá xấc xược, hỗn hào của bọn Tàu phù  mà quên phắc rằng cái bọn nằm trong Bắc Bộ Phủ mới là cái bọn đáng đánh, đáng bỏ tù trước rồi giải tán cái đảng chết tiệt đó đi, lúc đó không cần ông Nhuận, từng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, hò hét gì cả mà toàn thể nhân dân 86 triệu đồng bào trong nước, ba triệu đồng bào hải ngoại tự khắc đứng lên kẻ có dao dùng dao, kẻ có súng dùng súng, đàn bà đòn gánh gánh hàng cũng đánh…
·
Còn bây giờ bọn chúng đang lập bàn thờ nhang đèn, khói hương nghi ngút lạy vái bọn Tàu khựa để tưởng nhớ công ơn trời biển của chúng đã “nuôi nấng, dạy dỗ cán bộ cách mạng ta”(http://www.hennhausaigon2015.com/2012/24015/) .Tổ chức văn nghệ thi đua hữu nghị tiếng hát Việt Trung (http://qtv.vn/channel/5148/201205/Khoi-dong-Cuoc-thi-tieng-hat-huu-nghi-Viet-Trung-lan-thu-3-nam-2012-2168100/) Tên Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn thiện Nhân, phó thủ tướng, chủ trương dạy tiếng Tàu ở bậc Trung,Tiểuhọc.(http://vietbao.vn/Giao-duc/Se-dua-tieng-Hoa-vao-day-tieu-hoc-THCS/2131433441/202/) thì còn nói gì đến chuyện đánh với đấm?
·
Nhắc cho ông Hồ ngọc Nhuận, bạc tóc rồi mà óc vẫn cứ còn đen,nhớ cho những cuộc xuống đường của đồng bào yêu nước chỉ vì muốn nói lên ước muốn đòi lại chủ quyền đất nước trên hai quần đảo Hoàng, Trường Sa mà bị bọn chó săn công an, côn đồ xã hội đen kết hợp với tà quyền đỏ Xã nghĩa Việt Nam đánh cho toé máu đầu, sứt trán, rách mặt. Có kẻ còn bị tù đày như bà Bùi Minh Hằng, Điếu cầy, Phan thanh Hải, Phạm thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Tạ phong Tần… Và sẽ còn dài dài cái cảnh khốn khổ, khốn nạn này nếu bọn mãi quốc cầu vinh Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng còn ngồi trên đầu nhân dân Việt Nam.
·
Tóm lại, nếu ông Hồ Ngọc Nhuận và đồng bọn của ông biết ăn năn và hối lỗi vì đã từng một thời lầm lạc, thành kẻ phản bội Quốc gia, tiếp tay với giặc cộng làm tan nát một miền Nam độc lập tự do dân chủ nhân quyền thì nên cùng nhau quay ngược mũi súng nhắm vào đầu bè đảng của 14 tên trong Bắc Bộ phủ, trừ hại cho nước nhà, lật đổ tà quyền, giải tán cái đảng cộng sản ôn dịch đem lại tự do cho nhân dân trước hết cái đã. Sau đó mới tính sổ với bọn Tàu phù.
·
 “Bậc quân tử mười năm trả thù chưa muộn”, câu ngạn ngữ của Tàu phù, ta dùng chiêu “Gậy ông đập lưng ông”, lúc đó tống cổ bọn con cháu Tàu ghẻ đang ngự trị tràn lan trên đất nước ta từ Bắc chí Nam vô sô kể sẽ chẳng mấy chốc.
Với sức bật khủng khiếp của tám mươi sáu triệu dân Việt Nam khi họ đồng một lòng vì sự nguy vong của đất nước đến hồi khẩn cấp sẽ không có sức mạnh hay thế lực nào của bọn mãi quốc cầu vinh Bắc Bộ phủ và bọn Tàu khựa chống đỡ nỗi.
·
Bọn Tàu khựa càng hung hăng con bọ xít bao nhiêu, bọn Bắc Bộ phủ lại càng hèn mạt bấy nhiêu thì cái ngày nhân dân ta vùng lên đánh đuổi bọn chúng, chiến thắng giành quyền tự chủ, độc lập, tự do cho đất nước sẽ càng sớm bấy nhiêu.
Ψ
Nguyễn Thanh Ty Boston, 5/8/2012
(Đọc bài Đánh!!!  của Hồ Ngọc Nhuận)
Đ ánh!!!
Hồ Ngọc Nhuận
Tôi nghĩ  tôi không là quá khích. Nhưng nếu  có ai nghĩ  vậy thì cứ nói.Tôi không giành nói một mình.
Tôi chì là một tiếng nói trong mấy chục triệu đồng bào , trong toàn thể đồng bào không chấp  nhận chịu nhục. Toàn dân ai cũng có tiếng  nói và muốn nói.Và tiếng nói chung sau cùng tôi tin chắc là “ĐÁNH”.
_  Đánh cách nào,  khi chúng có nanh nguyên tử ?  Và đủ thứ . Và tất cả. Với lòng lang sói và cái  nọc  con rắn độc ? Còn ta thì như tay không . Lại không đầy  một phần mười dân số của chúng.
Tôi thưa : ai có gì đánh nấy . Tay không thì đánh tay không. Ông cha ta xưa cũng vậy.Ta với  chúng  luôn như trứng chọi đá, như chấu đá xe.Nhưng khỏi cần nhắc chúng cũng biết ông cha chúng đã bị ông cha ta đánh đuổi chạy về nước bao nhiêu lần…
Với lại dân TQ đâu phải ai cũng không biết  điều. Một phần không nhỏ còn là  nạn nhân  của bao chánh sách bạo ngược của phe nhóm độc tôn  bá chủ. Bọn cầm quyền Bắc Kinh tưởng có thể dùng mánh cũ mèm, gây hấn với bên ngoài, để dễ bề  đàn áp lửa hận bên trong. Nhưng chúng đừng hòng : Ta chấp nhận thách đố là để cứu nguy cho ta, mà cũng để những người “dân TQ biết điều” thừa cơ nổi dậy  tự giải phóng.Và rồi  bọn cầm quyền BK sẽ phải cúi đầu tạ lỗi trước nhân dân, như  tên thủ tướng chết họ Chu đã phải cúi đầu xin lỗi các oan hồn tử sĩ TQ đã chết ức ở gò Đống Đa ngày nào, vì buộc phải tuân  lệnh những tên trùm bành trướng cũ..
Đ Á N H  ! ! !
Lại  có câu hỏi : Sao không  tìm cách nói chuyện phải quấy trước, rồi đánh cũng chưa muộn ?
Mỗi người mỗi cách đánh, tôi không  cản.Nhưng khi nhà cầm quyền Bắc Kinh cứ vênh vênh lè cái “lưởi bò” gớm ghiết của nó ra để dọa  hết người nầy đến người khác thì  nói chuyện với nó chính là nói chuyện   với cái đầu bò về cái lưởi bò.
Nhưng  đánh lúc náo ?
_ Chậm nhất là khi bị chúng đánh. Nghĩa là ngay bây giờ.
Bởi chúng đã ngoạm hết Hoàng Sa của chúng ta rồi đó. Và  dơ dáy làm bậy ở một số đảo ở Trường Sa. Liên tiếp nhiều đợt chận bắt ngư dân của chúng ta trên chính  vùng  biển  của mình.Và đang tìm cách cướp hết tài nguyên các thứ ở Biển Đông của ta và các nước…
Lại còn đạo quân thứ 5 của chúng sờ sờ ngay trong nhà của chúng ta nữa. Không đánh để chúng đặt mìn phá nát  ruộng đồng sông núi, bàn thờ , mồ mả tổ tiên , và cái nôi con đỏ của chúng ta sao ? Lại còn những kẻ vô tình hay cố ý nối giáo  cho chúng nữa….
ĐÁNH  ! ! !
Chỉ  có răng hay tay không cũng đánh. Và ngay bây giờ.
Có mấy thứ  NÓI KHÔNG  với chúng cũng  là ĐÁNH  :  KHÔNG mua hàng TQ, KHÔNG  bán hàng TQ, KHÔNG đi chơi TQ, KHÔNG xuất  bất cứ thứ gì sang TQ, KHÔNG đến  các phòng khám bệnh của TQ,  KHÔNG qua lại làm ăn dưới bất cứ hình thức  nào với TQ, KHÔNG lấy chồng TQ. Và còn nhiều cái KHÔNG  khác nữa…Biết NÓI KHÔNG VỚI TQ TỨC LÀ ĐÁNH rồi đó.Mà ai ai cũng đánh, mọi người  già trẻ gái trai lớn nhỏ đều đánh. Không chờ ai ra lệnh. Không cần ai cho phép. Không sợ ai ngăn. Có ngăn cũng không sợ.  Còn kẻ nào đã lỡ vì  hám lợi trước mắt mà bán ruộng, bán vườn, bán hoa mầu, bán mặt nước …  cho TQ thì tạm thời hảy để lương tâm họ xử. Nhưng ít nhất là truy cho ra những kẻ đã  thả cửa cho lũ giặc vào nhà  để  tối thiểu nọc ra mà cho mấy roi vô đít. Và kẻ nào  chần chờ, nhút nhát, chưa nói đến  có mưu mô toan tính gì,  bất cứ  ở đâu , cấp nào,  thì ít nhất , trong nhất thời, là đẩy ra sau lưng. Sức dân là sức trời , mọi người nên nhớ vậy./. HNN

Posted in Nguyễn Thanh Ty | Tagged: , | Leave a Comment »

Hoa Quỳnh “Phụ nữ cờ vàng New England” đã nở hoa.

Posted by Webmaster on July 30, 2012

 

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England 2012

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England 2012

Video: Lễ Kỷ Niệm Đệ Nhất Chu Niên Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England on youTube
                Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England, 2011 – 2012: Một Năm Hoạt Động

Nguyễn Thanh Ty

Mới ngày nào, tôi vừa được mời đến dự buổi lễ ra mắt hội “Phụ nữ cờ vàng vùng New England” tại nhà hàng Adam Seafood – Dorchester – Mass, mà nay, thắm thoát đã hơn một năm qua.

Một năm 12 tháng, một tháng 30 ngày…dòng thời gian cứ vô tình lặng lẽ trôi.

Dòng đời nặng trĩu những lo toan cơm áo gạo tiền của bao người trong đời thường cũng tất bật ngược xuôi trôi theo.

Qua một đêm thức dậy, nào có ai biết hay quan tâm đến những gì trong xã hội, nơi đất khách tạm dung, cũng đang có một dòng hoạt động chuyển biến, bộc phát theo tình hình thời sự, đã liên tục diễn ra trên đường phố, nhưng không âm thầm lặng lẽ như thời gian, trái lại rất sôi nổi, hào hứng, phấn khích của những bầu máu nóng, bầu nhiệt huyết…của những người Việt lưu vong yêu nước, nặng lòng với mệnh nước nổi trôi tại quê nhà từng ngày, từng tháng, từng năm… đang mất dần trong tay giặc Tàu bởi bè lũ Việt gian cộng sản bán nước.

Họ không còn tuổi trẻ nữa, họ là những “vang bóng một thời” của các giới Quân Cán Chính năm xưa của một nước tự do dân chủ có tên là Việt Nam Cộng Hòa, nay kết hợp lại với nhau thành những hội đoàn, đoàn thể… để cùng dõng dạc cất cao tiếng nói phản kháng quân cộng vô thần đang cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, dâng đất liền, biển đảo của Tổ tiên cho Tàu phỉ nhằm mục đích duy nhất là cá nhân và gia đình chúng , nhóm lợi ích chúng được vinh thân phì gia.

Bên cạnh những hội đoàn, đoàn thể chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã có bề dày thành tích chiến đấu trong quá khứ 20 năm, một thời hăng say sát Cộng… người ta còn thấy có cả bóng hồng trong chiếc áo dài tha thước mang đậm màu cờ vàng với ba sọc đỏ rực rỡ vắt ngang trước ngực cũng hăng hái chen vai thích cánh cùng giới mày râu.

Một lần nữa, người viết muốn dành tất cả cảm xúc dâng tràn trong trái tim mình trong ngày 15 tháng7 khi ngồi theo dõi những hình ảnh Slide Show của Hội PNCV/NE trình chiếu trên màn ảnh nhỏ để lượt trình thành quả của mình với hơn hai trăm quan khách và thân hữu trong thời gian qua, để ngợi ca những người phụ nữ đầy nghị lực và quả cảm này.  đọc tiếp

Posted in HPNCV/NE, Nguyễn Thanh Ty | Tagged: , , | Leave a Comment »

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Những Bước Đi Lùi

Posted by Webmaster on May 4, 2012

 

Tưởng Năng Tiến (RFA Blog) – “Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”  – Tạ Phong Tần (Thành Viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)
Lâu rồi, có bữa, tôi nghe nhà văn Vũ Thư Hiên (bùi ngùi) nhắc lại một kỷ niệm buồn ở Bất Bạt – Sơn Tây:
“Nơi tôi được đưa đến là một trại giam quân đội… Trên cái bàn gỗ mộc bụi bặm và mốc thếch lăn lóc mấy tờ Quân Đội Nhân dân nhàu nát. Tôi vồ lấy chúng, đọc ngấu nghiến để rồi thừ ra, thất vọng – tin tức trong báo chả nói với tôi điều gì mới.”

“Thời gian không đứng về phía chúng tôi. Những tờ báo giống y như những tờ này tôi đọc hàng ngày, một năm trước. Chúng sẽ giống như thế một năm sau, hoặc nhiều năm sau. Thế giới đã mắc bệnh bại liệt… Ngoài kia vẫn là đêm tối, chưa có gì hứa hẹn bình minh. Mà bây giờ đã là mùa hè năm 1969.”
(Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California:Văn Nghệ, 1997).
Khoảng thời gian mà Vũ Thư Hiên vồ vập và đọc ngấu nghiến mấy tờ báo Quân Đội Nhân Dân (rồi “thất vọng” và than rằng ““Thời gian không đứng về phía chúng tôi”) thì một công dân Việt Nam khác vừa mở mắt chào đời. Bà sinh ngày 15 tháng 9 năm 1968. Bốn mươi năm sau, với tư cách là một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, blogger Tạ Phong Tần đã dõng dạc tuyên bố:
“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…” 

“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.” 

“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”  đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Năng Tiến | Tagged: | Leave a Comment »