Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for September, 2014

Binh nhất Mỹ và Đại tướng Việt

Posted by Webmaster on September 11, 2014

 

Đồng Phụng Việt

binh va Giap 1

Năm ngoái, khi tướng Giáp từ trần, bạn mình gửi cho mình một đường dẫn, bảo mình vào xem một video clip trong YouTube,…Mình ngồi hơn một tiếng, xem xong video clip đó và tự thấy phải tìm thêm thông tin.

Năm rồi, hễ rảnh là mình vào Google, lục lọi để kiếm những thông tin mà mình chưa biết. Bây giờ, tuy chưa biết đủ nhưng có thể tạm xem là biết đôi chút, mình muốn chia sẻ ít dòng…

***

Video clip mà mình vừa đề cập ghi lại lễ tang của Specialist Brittany Gordon, 24 tuổi, phục vụ trong Đại đội 572 Quân báo, Lữ đoàn Cơ động số 2, Sư đoàn 2 Bộ binh Mỹ. Specialist Gordon bị thương khi xe của cô cán trúng mìn ở Kandahar, Afghanistan và chết vào ngày 13 tháng 10 năm 2012.

binh va Giap 2

So với quân đội Việt Nam, cấp bậc trong quân đội Mỹ có một số khác biệt.

Với quân đội Việt Nam, lính trơn chỉ có Binh nhì, Binh nhất, sau đó là tới ngạch hạ sĩ quan, bắt đầu bằng Hạ sĩ,… Trong quân đội Mỹ, lính trơn có tới 4 bậc, từ E1 đến E4. E4 lại chia làm hai loại, một loại gọi là Specialist, loại còn lại gọi là Corporal (Hạ sĩ). Tuy lãnh lương và nhận các phúc lợi giống hệt nhau nhưng Specialist vẫn bị xem là lính, còn Corporal thì ở ngạch Hạ sĩ quan (bắt đầu có quyền chỉ huy).

Thời gian trung bình để trở thành một Specialist trong quân đội Mỹ là hai năm. Nếu đã tốt nghiệp đại học, gia nhập quân đội nhưng không muốn làm sĩ quan thì tân binh trở thành Specialist ngay từ ngày đầu tiên khi nhập ngũ.

Nói cách khác, Specialist Brittany Gordon chỉ là Binh nhất…

***

Quân đội Mỹ có một căn cứ không quân tên là Dove đặt tại tiểu bang Delaware. Dove có một trung tâm chuyên tẩn liệm những quân nhân Mỹ tử trận ở nước ngoài. Tẩn liệm xong, quan tài được chuyển về cho gia đình.

Video clip mà mình xem ghi lại những nét chính trong lễ tang Binh nhất Brittany Gordon, từ lúc tiếp nhận quan tài chứa thi thể của cô ở căn cứ không quân Macdill, tiểu bang Florida, đưa cô về nhà ở thành phố Saint Petersburg, quận Hillsborough, cách Macdill khoảng 33 cây số, cho đến khi chôn cất cô.

binh va Giap 3

Binh nhất Brittany Gordon được đưa từ Dove về Macdill bằng một phi cơ chuyên dụng. Ngoài thân nhân, đứng đón cô ở cuối phi đạo còn có một nhóm quân nhân mặc lễ phục, cảnh sát, lính cứu hỏa của quận Hillsborough và của thành phố Saint Petersburg.

Tất cả các công đoạn, từ việc đưa quan tài ra khỏi phi cơ, mang quan tài đặt vào xe tang đều theo nghi thức có sẵn, vừa trang trọng vừa thành kính.

Hôm đó, cả căn cứ Macdill ngưng hoạt động, quân nhân từ sĩ quan, hạ sĩ quan tới lính của bộ binh, không quân, hải quân, nhân viên dân sự,… làm việc trong căn cứ, xếp hàng dọc hai bên đường, từ cuối phi đạo đến cổng, tiễn biệt Binh nhất Brittany Gordon.

binh va Giap 4

Ra khỏi Macdill, xe tang chở quan tài Binh nhất Brittany Gordon có xe cảnh sát mở đường đi qua nhiều xa lộ và tuyến đường. Suốt quãng đường dài 33 cây số, tất cả xe cộ đều ngừng lưu thông, cả dân chúng lẫn cảnh sát, lính cứu hỏa các thành phố mà xe chở linh cữu đi ngang, chờ sẵn hai bên đường để chào cô Binh nhất này.

Ở Mỹ, tin người lính nào đó vừa mới tử trận luôn được báo chí và các đài truyền hình địa phương đặt làm tin chính. Cũng vì vậy, tuy không có… loa phường, dân chúng vẫn biết, vẫn đổ ra đường đón người lính trở về trong quan tài phủ quốc kỳ Mỹ.

Lễ tang Binh nhất Brittany Gordon diễn ra cũng với các nghi thức vừa trang trọng, vừa thành kính như vậy.

binh va Giap 5

Chỉ đạo lễ tang của một binh nhất là một ông thiếu tướng. Ông tướng hai sao đó chính là người lần lượt quỳ xuống trước mặt cha và chị Binh nhất Brittany Gordon, trao cho họ lá cờ Mỹ đã phủ quan tài của cô rồi cởi găng tay, bắt tay họ, đeo găng tay, đứng nghiêm chào họ, cung kính như chào thượng cấp…

binh va Giap 6

https://www.youtube.com/watch?v=ghhpYyTw8mo

Binh nhất Brittany Gordon không lập được “chiến công” nào để đời. Cô chỉ tình nguyện gia nhập quân đội rồi cùng đơn vị đến Afghanistan bảo vệ những lợi ích của Mỹ (tiêu diệt khủng bố, giúp tái thiết Afghanistan) và chẳng may thiệt mạng. Tuy nhiên với Mỹ, chừng đó đã đủ để trở thành anh hùng.

Binh nhất Brittany Gordon không phải là ngoại lệ. Từ trước tới giờ, Mỹ vẫn làm như thế với tất cả những người lính “vị quốc vong thân”.

Nếu rảnh và muốn biết tường tận cách Mỹ tiễn đưa một người lính “vị quốc vong thân”, bạn có thể vào YouTube xem video clip mình vừa kể (1).

Muốn xem nhiều hơn, bạn có thể dùng những từ khóa kiểu như “fallen hero coming home”, “hero returns home”… YouTube có hàng ngàn video clip như vậy.

***

binh va Giap 7

Tuy thanh niên tròn 18 tuổi phải “đăng ký nghĩa vụ quân sự” nhưng Mỹ không có “nghĩa vụ quân sự”. Phục vụ quân đội là chuyện hoàn toàn tự nguyện. Để khuyến khích người ta tự nguyện, Mỹ đề ra nhiều chính sách ưu đãi.

Chẳng hạn nếu đã có gia đình, muốn ở trong căn cứ, bạn sẽ được cấp nhà ở miễn phí, ngay cả tiền điện, nước, rác cũng không phải trả. Không muốn ở trong căn cứ, bạn sẽ được cấp tiền thuê nhà, số tiền nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào giá cho thuê nhà ở nơi gia đình bạn sống.

Không chỉ bạn mà thân nhân của bạn cũng sẽ được khám, chữa bệnh miễn phí.

Đã hoặc đang phục vụ quân đội, muốn mua nhà, bạn không cần phải có khoản tiền tương đương 20% giá trị căn nhà để đặt cọc như mọi người Mỹ khác. Bộ Cựu chiến binh của chính phủ Mỹ sẽ bảo lãnh để bạn được vay 100% và lãi suất luôn luôn ở mức ưu đãi.

Nếu bạn đã từng vay tiền để học gì đó trước khi phục vụ quân đội, quân đội sẽ thay bạn trả khoản nợ này. Trong thời gian phục vụ quân đội, bạn muốn học thêm gì đó, quân đội cũng đứng ra trả học phí thay bạn. Phục vụ đủ mười năm, người phối ngẫu và con cái của bạn sẽ được trả tiền học phí khi họ muốn học nghề hoặc học đại học.

Tại các căn cứ quân sự đều có chợ và siêu thị. Vì được bù lỗ nên giá bán thực phẩm và hàng hóa chỉ khoảng một phần ba hay một nửa giá ở bên ngoài. Chưa kể mua thực phẩm và hàng hóa trong các căn cứ quân sự không phải trả thuế.

Các căn cứ quân sự thường chỉ có trường từ mẫu giáo đến cấp hai. Cơ sở vật chất của các trường trong các căn cứ quân sự luôn khang trang, đầy đủ hơn những trường ở bên ngoài. Giáo viên cũng đông hơn, sĩ số mỗi lớp thì thấp hơn các trường bên ngoài vì Mỹ quan niệm, con lính cần được chăm sóc kỹ hơn, do thiệt thòi hơn bởi cha hoặc mẹ có thể vắng nhà dài ngày.

Hồi đầu năm nay, một tờ báo của quân đội Mỹ cảnh báo, con lính Mỹ đang gặp nguy hiểm vì thực phẩm dành cho chúng trong các trường ở những căn cứ quân sự “không an toàn”. Yếu tố “không an toàn” nằm ở chỗ… dư thừa dưỡng chất và con lính có khuynh hướng béo phì.

Luật Mỹ yêu cầu chính quyền liên bang phải ưu tiên tuyển dụng các thương binh, thân nhân tử sĩ, cựu quân nhân.

binh va Giap 8

Theo luật, vị trí nào mà chính quyền liên bang cần tuyển dụng cũng phải mô tả “điều kiện tối thiểu”. Nếu các thương binh, thân nhân tử sĩ, cựu quân nhân, hội đủ “điều kiện tối thiểu” thì theo luật, vị trí đó phải dành cho họ.

Trong trường hợp cần “tinh giản biên chế”, luật Mỹ yêu cầu các cơ quan của chính quyền liên bang phải giữ lại các thương binh, thân nhân tử sĩ, cựu quân nhân. Các cơ quan của chính quyền liên bang chỉ có quyền loại bỏ những đối tượng này nếu như đã loại bỏ hết những nhân viên thuần túy dân sự khác.

Những chính sách vừa kể áp dụng cho tất cả mọi cá nhân đã hoặc đang phục vụ quân đội. Dẫu cho họ chỉ là… binh nhì.

Dân Mỹ vốn sính kiện nhưng chưa bao giờ có ai thắc mắc về những “đặc quyền, đặc lợi” dành cho những người phục vụ quân đội.

Nếu có thời gian, bạn nên đọc những bình luận bên dưới các video clip ghi lại hình ảnh liên quan tới lễ tang những người lính Mỹ tử trận, các bạn sẽ hiểu tại sao.

Công dân của xứ sở sính kiện có thể là nhất hành tinh này, xem những “đặc quyền, đặc lợi” dành cho những người phục vụ quân đội là điều đương nhiên.

 

binh va Giap 9

Điều đương nhiên đó nhằm bù đắp thiệt thòi cho những người chấp nhận từ bỏ “chăn ấm, nệm êm”, chấp nhận đủ thứ ràng buộc để bảo vệ xứ sở, bảo vệ tự do, bảo vệ những giá trị của người Mỹ.

Đa số các công ty, cơ sở dịch vụ ở Mỹ đều có chính sách “giảm giá cho lính Mỹ”. Đi máy bay, lính không phải trả phụ phí do quá nhiều hành lý hay hành lý quá ký. Gần như tất cả phi trường ở Mỹ đều có “USO”. “USO” giống như khu vực dành cho “VIP” ở các phi trường tại Việt Nam. Tại Việt Nam, khu vực “VIP” ở các phi trường chỉ dành cho giới nhà giàu, đủ tiền mua vé hạng “C”. Ở Mỹ “USO” tại các phi trường chỉ tiếp đón lính Mỹ và thân nhân. “USO” là chỗ họ có thể ngủ nghỉ, tắm rửa, xem phim, ăn uống,… tất cả đều miễn phí.

***

binh va Giap 10

Lịch sử Mỹ là một chuỗi dài những lần dính líu vào đủ thứ chuyện trên thế giới. Cũng vì vậy mà lính Mỹ khổ. Họ bị đưa đi khắp năm châu: Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc và chết khắp năm châu. Có thể vì vậy mà Mỹ có một cam kết với lính khi đưa họ vào chỗ chết. Đó là bất kể thế nào cũng sẽ “đưa lính về nhà”.

Để làm chuyện này, quân đội Mỹ thành lập Bộ Chỉ huy hỗn hợp về Tù binh và Tìm kiếm quân nhân mất tích (Joint POW/MIA Accounting Command – JPAC).

 

JPAC có một trang web (2). Trang web đó tường trình mọi hoạt động liên quan đến các hoạt động tìm lính Mỹ mất tích trên khắp thế giới từ Thế chiến thứ nhất cho đến giờ. JPAC tất nhiên là có văn phòng ở Việt Nam. Đến giờ, Mỹ vẫn còn tìm kiếm lính Mỹ mất tích tại Việt Nam.

 

Nếu bạn rảnh, hãy thử tra cứu trên Internet để tìm hiểu về bang giao Việt – Mỹ, bạn sẽ thấy tù binh Mỹ và lính Mỹ mất tích đã tạo cho chính quyền Việt Nam ưu thế để đòi hỏi chính quyền Mỹ phải nhượng bộ nhiều vấn đề, cả trong giai đoạn trước tháng 4 năm 1975 lẫn sau đó.

Suốt sáu thập niên, hết đảng viên Cộng hòa đến đảng viên Dân chủ thay nhau làm Tổng thống Mỹ nhưng trong các cuộc đàm phán với Việt Nam, Tổng thống nào cũng phải thoái bộ để có điều kiện thuận lợi, thực thi lời hứa “đưa lính về nhà”.

binh va Giap 11

Hôm 29 tháng 8, báo chí Mỹ loan tin, Mỹ vừa mang Binh nhất Cecil E. Harris về nhà. Binh nhất Cecil E. Harris, 19 tuổi, lính của Trung đoàn 179, Sư đoàn 45 Bộ binh Mỹ, mất tích vào ngày 2 tháng 1 năm 1945 trong một trận giao tranh với lính phát xít Đức ở gần Dambach, Pháp.

Hai ngày trước khi tử trận, Binh nhất Cecil E. Harris viết thư cho mẹ, nhờ bà chuyển lời thăm hỏi mọi người, nhắn với họ rằng mình sắp về. Tuy chữ “sắp” này dài đến 69 năm nhưng thân nhân Binh nhất Cecil E. Harris vẫn hài lòng, bởi dù sao, chính quyền cũng đã thực thi cam kết “đưa lính về nhà” (3).

***

Đó là những chuyện ở Mỹ. Những chuyện ở Mỹ làm mình liên tưởng và băn khoăn về những chuyện ở xứ mình…

Trước hết là những băn khoăn về tướng Giáp. Rõ ràng, tướng Giáp là một “khai quốc công thần” khi cùng đồng chí, đồng đội của ông kiến tạo chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

binh va Giap 12

Hàng triệu người đã chết khi tham gia vào công cuộc kiến tạo đó song tại sao 69 năm đã trôi qua, còn rất nhiều người mất xác mà chính quyền không hề bận tâm tìm kiếm?

Dù chẳng có thống kê nào cả song vẫn có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, con số đó rất lớn.

“Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất” đã 39 năm nhưng các “nhà ngoại cảm” vẫn có đất dụng võ, kiếm cả danh lẫn lợi!

binh va Giap 13

Ngoài hàng triệu người đã chết, hàng triệu người khác từng xả thân để “giành độc lập dân tộc”, để “đánh Ngụy, đuổi Mỹ” nay vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Cha mẹ, anh em, con cháu vất vưởng, vật vờ, sống hôm nay nhưng không dám nghĩ tới ngày mai.

 

Lẽ nào tướng Giáp vô can?

 

Con đường công danh của tướng Giáp có thể lận đận, khiến nhiều người đủ thương cảm để bỏ qua yếu tố dù bị bạc đãi, song nhờ “nhẫn”, ông vẫn bình an trên nhung lụa, trong tháp ngà, rồi lên tiếng bày tỏ sự bất bình thay cho ông, song nào con đường dẫn tới cơm no, áo ấm của hàng chục triệu người, nay là của gần một trăm triệu người không đáng để phải bận tâm nhiều hơn?

Mình cũng băn khoăn về cuộc tranh luận dường như bất tận quanh đề tài quân đội nên vì dân hay nên vì Đảng?

70 năm qua có lúc nào quân đội chiến đấu vì dân? Những tài liệu đang được giải mật, bạch hóa càng ngày càng nhiều cho thấy là chưa bao giờ!

 

Quân đội chiến đấu vì Đảng nên sự tồn vong của Đảng, bảo vệ tham vọng “Muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ” của Đảng là mục tiêu tối thượng.

Tham vọng ấy là lý do để “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và “tinh thần 4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) được chọn làm điểm tựa.

Chẳng phải hết lãnh đạo Đảng, rồi tới lãnh đạo quân đội từng nhiều lần khẳng định, bất kể thế nào cũng phải gìn giữ quan hệ với Trung Cộng vì Trung Cộng “có cùng ý thức hệ và thể chế chính trị” đó sao?

Đã thế thì hàng trăm ngàn người đã chết trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, giai đoạn từ 1978 – 1989 và trong cuộc chiến vệ quốc ở biên giới phía Bắc, giai đoạn từ 1979 – 1988 tất nhiên phải trở thành thứ yếu. Không thể ghi công, không nên tưởng niệm, ngay cả bia cũng cần đục bỏ bởi tất nhiên là ảnh hưởng đến điểm tựa giúp duy trì sự tồn tại của Đảng.

binh va Giap 14

Đúng 30 năm sau cuộc chiến đẫm máu ở Vị Xuyên – Hà Giang, 1.700 người lính Việt tử trận khi chặn quân xâm lược Trung Cộng tràn qua biên giới, mới được báo giới Việt Nam báo công, vinh danh. Đại diện chính quyền mới đề cập đến việc xây Đài Tưởng niệm.

Nếu không có sự kiện Trung Cộng đưa giàn khoan 981 vào thăm dò – khai thác dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5 vừa qua, khiến người Việt sôi lên vì giận thì theo bạn, hồi tháng 7 vừa qua, 1.700 người lính Việt đó có được báo công, vinh danh và đại diện chính quyền có quảng cáo kế hoạch xây Đài Tưởng niệm họ không?

***

binh va Giap 15

Để ghi nhận công lao của Liệt sĩ – Nữ anh hùng các lực lượng vũ trang Lê Thị Dãnh, Đảng đúc tượng của bà, đặt ở Đà Nẵng.

Hồi xảy ra thảm họa Chanchu (trận bão số 1 của năm 2006), báo chí xứ mình kể rằng, tại phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng có một bà lão tên là Phạm Thị Thúy khóc ngất vì mất chồng. Ông Nguyễn Văn Độ, chồng bà Thúy, lúc đó đã xấp xỉ 70, song vì đói nghèo vẫn phải xuống một tàu đánh cá để nấu cơm, phơi mực. Con tàu này bị bão Chanchu nhấn chìm hồi thượng tuần tháng 5 năm 2006.

Bà Thúy chính là con gái của Liệt sĩ – Nữ anh hùng các lực lượng vũ trang Lê Thị Dãnh.

Khi quân đội chiến đấu vì Đảng, quân đội chỉ là công cụ. Hãy nhìn quanh mình, bạn sẽ thấy rất nhiều ví dụ minh họa cho thân phận của những công cụ như vậy.

 

Đồng Phụng Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: | Leave a Comment »

Saigon Beats Hanoi Four Decades After Vietnam War

Posted by Webmaster on September 8, 2014

By Jason Folkmanis and Nguyen Dieu Tu Uyen Sep 3, 2014 3:01 PM PT

Photographer: Munshi Ahmed/Bloomberg Almost four decades after the Vietnam War ended, Saigon has turned the tables on Hanoi, outstripping its conqueror in investment and growth.

The former southern capital, renamed Ho Chi Minh City but still widely known by its prewar name, contributes almost a quarter of the country’s gross domestic product and the market capitalization of its stock index is seven times Hanoi’s. (VHINDEX) Now, Saigon is upping the ante with plans to build a new airport that would increase capacity as much as fivefold.

“By all measures, Ho Chi Minh City has moved into a more advanced place than Hanoi in terms of the sophistication of its economy and local companies,” said Edmund Malesky, an associate professor of political economy at Duke University in Durham, North Carolina, and the lead researcher for the Vietnam Provincial Competitiveness Index, compiled by the Vietnam Chamber of Commerce and Industry with U.S. aid.

It’s a long way from the chaotic day of April 30, 1975, when North Vietnamese tanks crashed through the gates of the presidential palace. Replicas are now parked outside as a tourist attraction, while the renamed Reunification Palace is a favored venue for shareholder meetings.

Saigon’s population has more than doubled to 7.8 million, while its economy grew 9.3 percent last year, pushing the city’s per-capita GDP to $4,513, more than twice the national average. In Hanoi, which has about 6.9 million residents, the economy grew 8.3 percent to increase its per-capita to $2,985.

Economic Hub

That makes the southern city key to Vietnam’s efforts to revive a national economy heading for its seventh straight year of sub-7 percent growth after averaging 7.3 percent in the previous seven years.

Ho Chi Minh City’s relative wealth makes it the entry point for many Western brands. McDonald’s Corp. (MCD) Chief Executive Officer Donald Thompson attended the opening of the company’s first branch in the country in February. A second opened in May near Ben Thanh market, a landmark where tourists slurp bowls of spicy beef noodles and shop for lacquer boxes and raw silk.

Hanoi got its first Starbucks Corp. store in July — more than a year behind Ho Chi Minh City, which now has eight.

“Saigon is the dynamo, the city with more energy,” said Ray Burghardt, the Hanoi-based U.S. ambassador to Vietnam from 2001 to 2004, who lived in South Vietnam from 1970 to 1973.

Looking South

Part of that dynamism is rooted in the city’s past. Southern Vietnam’s trading roots date back centuries, according to Martin Stuart-Fox, an emeritus history professor at Australia’s University of Queensland in Brisbane. While Hanoi’s history is tied to the presence of neighboring China, about 100 miles away, Saigon, next to the rich alluvial plain of the Mekong Delta, is 700 miles to the south and closer to Thailand, Malaysia and Singapore than it is to the Chinese border.

“Southern Vietnam was always a frontier area, and because it didn’t have that close contact with China and didn’t look north as Hanoi always had, people in the south looked outward instead and welcomed trade,” said Stuart-Fox. “Then, when the French moved in, they built drainage canals to increase rice production in the Mekong Delta and boost trade with France, and in general focused on exploiting the south economically.”

Vietnam’s post-1975 attempts to stifle enterprise misfired “abysmally” in Ho Chi Minh City, with many entrepreneurs sent to labor camps for “capitalist activities,” until a crumbling economy caused Marxist tenets to be diluted or scrapped, Stanley Karnow wrote in his book “Vietnam: a History.” After the so-called Doi Moi economic reforms in 1986, Saigon resumed its role as a commercial hub, with newly freed entrepreneurs quickly resuming their businesses.

Western Influence

Growth was boosted in 2000 with the signing of a bilateral trade agreement with the U.S.

“The south has always had more U.S. influence on its business culture,” said Than Trong Phuc, managing director of technology-focused investment fund DFJ VinaCapital LP in Ho Chi Minh City. “Doing business here is more straightforward, whereas doing business in the north involves more government and a complex maze of relations.”

Saigon’s economy even may have benefited from being on the losing side of the war because it removed much of the government presence that existed when it was the southern capital, said Sesto Vecchi, managing partner of the Ho Chi Minh City office of U.S. law firm Russin & Vecchi. He arrived in South Vietnam in 1965 with the U.S. Navy and was in Saigon in the days before it fell.

Less Government

“Now there’s even less government impact on people’s decision making here,” said Vecchi, who returned to live in the city in 1993. “A lot of the government influence in those days was directed toward the war, but even with that, Saigon always had a strong commercial environment.” Hanoi’s position as the nation’s capital is a double-edged sword. While it makes the city vital for businesses that must deal with the ministries, especially banks, it also creates a more restrictive regulatory environment.

“We need to see more progress in terms of the economic-reform policies coming out of Hanoi,” Burghardt said. “Ho Chi Minh City is a hostage to the speed of those reforms.”

Ho Chi Minh City ranked 10th last year and Hanoi 33rd among 63 Vietnamese provinces and cities in the country’s competitiveness gauge, which weighs measures such as entry cost, transparency and access to land.

Downtown Airport

Ho Chi Minh City’s advance is most evident at the airport, which saw some of the fiercest fighting during the battle for the city in 1975. A 20-minute drive from Reunification Palace, Tan Son Nhat is now in the heart of Saigon’s expanding sprawl of houses, shops and factories. Still coded SGN for Saigon, it’s almost at bursting point, with almost twice the number of passengers that fly in and out of Hanoi.

The planned new airport in neighboring Dong Nai province eventually is expected to handle 100 million passengers a year, compared with about 20 million at Tan Son Nhat. The project needs approval from the National Assembly and its first stage, costing about $7.8 billion, wouldn’t be operational until at least 2020.

Meantime, the number of travelers coming to Vietnam keeps rising, climbing 11 percent last year to 7.6 million. Tourists heading to Hanoi are drawn to the scenic limestone islands of Ha Long Bay; in the south, it’s the beach resorts of Mui Ne and Phu Quoc island or the former emperor Bao Dai’s summer palace in the hills in Dalat.

The latest offering is a resort and casino at Ho Tram beach, with courtesy buses shuttling gamesters for the 2 1/2-hour drive to and from Saigon.

“The beaches in the north can only be used for half the year; the southern beaches are beautiful, and they are usable year-round,” said Paul Stoll, who helped set up the Vietnam Tourism Association and is chief executive of Celadon International Hotel Management Joint-Stock Co. “Ho Chi Minh City is Vietnam’s superhub.”

To contact the reporters on this story: Jason Folkmanis in Ho Chi Minh City at folkmanis@bloomberg.net; Nguyen Dieu Tu Uyen in Hanoi at uyen1@bloomberg.net

To contact the editors responsible for this story: Adam Majendie at adammajendie@bloomberg.net James Hertling

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: | Leave a Comment »

Sài Gòn vẫn vượt trội Hà Nội sau 4 thập niên bị cưỡng chiếm và tận thu

Posted by Webmaster on September 8, 2014

Saigon Beats Hanoi Four Decades After Vietnam War

09/08/2014

Sài GònTrong một bài viết nghiên cứu về kinh tế đời sống của Việt Nam sau gần 40 năm không chia cắt địa lý chính trị, tờ Bloomberg đã có bài nhận định sâu sắc, nhấn mạnh rằng Sài Gòn vẫn là trung tâm của phát triển và vượt Hà Nội mọi mặt, dù bị cưỡng chiếm, tận thu và bị o ép nhiều mặt.

Trong bài viết có tên Saigon beat Hanoi four decades after Vietnam war ra ngày 3 tháng 9, tờ Bloomberg đã gây nhiều chý ý trong giới nghiên cứu về tình hình Việt Nam, đồng thời cũng làm cho hệ thống kiểm duyệt của Nhà nước CSVN khó chịu, vội vã tìm cách ngăn chận.

Theo nhận định của nhà phân tích Jason Folkmanis, thì hiện nay, dù được dành cho nhiều ưu thế về ngân sách, thậm chí là nuông chiều, nhưng Hà Nội vẫn tụt hậu so với Sài Gòn về đầu tư và phát triển. Một thành phố trước đây là thủ đô của miền Nam tự do, dù có một thời gian ngắn ngủi vươn ra thế giới trong tình cảnh chiến tranh, nhưng lại đủ sức khôn ngoan để xoay sở và sống còn trong ách tận thu của chế độ CSVN.

Hiện nay, Sài Gòn đang là thành phố chiếm một phần tư cả tổng sản phẩm nội địa, thậm chí sức phát triển kinh tế vượt gấp 7 lần so với  thủ đô Hà Nội.

Ông Edmund Malesky, giáo sư về kinh tế chính trị của Duke University, tại Durham, North Carolina, cho biết rằng nếu phân tích chiều sâu, Sài Gòn đang có rất nhiều ưu thế của một nền hoạt động kinh tế hết sức chi tiết tinh tế, cũng như sự vững chắc của hàng loạt các công ty địa phương so với Hà Nội.

Sự thành công vượt trội của Sài Gòn, mà ai cũng biết là bị chế độ CSVN giày xéo như một đội quân chiếm đóng, đã khiến người Sài Gòn hết sức tự hào về thành phố của mình. Sau tháng 4 năm 1975, những người Cộng sản đã đặt lại tên của thành phố này là Hồ Chí Minh, theo lãnh tụ của Đảng CSVN, nhưng người Sài Gòn đã âm thầm từ chối cái tên đó bằng cách vẫn gọi tên nguyên gốc của nó là Sài Gòn, đến mức chính quyền cưỡng chiếm CSVN cũng đành phải miễn cưỡng chấp nhận.

Sài Gòn hiện nay đang có số dân cư ngụ chính thức là 7.8 triệu người, nhưng số người nhập cư để kiếm sống có thể khiến thành phố này có khoảng 10 triệu người ở đây. Mức thu nhập đầu người ở Sài Gòn hiện nay cũng cao hơn ở Hà Nội. Hiện có 6.9 triệu dân trong thành phố, Hà Nội chỉ có thu nhập trung bình đầu người hàng năm là 2.985 Mỹ kim do với Sài Gòn là 4.513 Mỹ kim mỗi người, hàng năm.

Dù vậy, cho tới giờ phút này, Sài Gòn vẫn đang bị tận thu đến mức khó tin cho ngân sách Nhà nước cũng như lọt vào túi riêng của hệ thống quan chức CSVN. (N. Khanh)

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: | Leave a Comment »

Thưa Bác: cháu đếch hiểu nỗi !!!

Posted by Webmaster on September 2, 2014

Vũ Đông Hà – Dân Làm Báo.
hochiminh-thangcuoi-danlambao
Xin lỗi Bác về cái từ đếch không được chỉnh chu. Số là theo lời kêu gào của Đảng ta, nhân ngày Bác giả từ vũ khí, buông búa thả liềm, cháu lò mò lôi di chúc 3 đời của Bác ra học tập ngày đêm. Càng học thì càng bứt rứt và xúc động, chịu hổng nỗi với cơn bức xúc tràn dâng nên đành ngữa mặt lên trời mà ách xì một phát: cháu đếch hiểu nỗi !!!
 
Coi: Theo lời vàng chữ ngọc của đảng ta thì Bác là “nhà báo cách mạng”. Bác bắt đầu sự nghiệp vĩ đại của Bác bằng làm báo, viết báo và tuyên truyền bằng báo (*). Bác còn được xem là người sáng lập, lãnh đạo, chủ bút, phóng viên… kiểu gì Bác cũng chơi… cho tờ Người Cùng Khổ, Thanh Niên… vậy mà cái di chúc 3 đời 65, 68, 69 của Bác nó như đống mèo mửa. Bác lận đận 5 năm để viết cái di chúc mà Đảng ta bắt 90 triệu người phải học, mà học cái gì ?
 
Xem:
Hochiminh-DiChuc1966-3
Q

Bác làm gì vậy Bác!? Chi mà sửa tèm lem tẹp nhẹp máu me tùm lum vậy Bác!? Có vài trang giấy mà Bác phải 5 năm tình lận đận đến đổ máu vậy thì bố ai tin Bác là người viết Bản án chế độ thực dân Pháp ký tên Nguyễn Ái Quốc!

Cháu… đếch có tin!

Còn nữa:

Cái gì mà toàn jân fải jũng cảm, fải mở lớp jạy ngề để họ có thể jần jần tự lực cánh sinh tại địa fương, fải hàn gắn vet thương ngiêm trọng để fục vụ, xây jựng lại nước Việt Nam jân chũ cộng hòa độc lập, tự jo, hạnh fuc…

Mẹ ơi! Học theo Bác để viết tiếng Việt kiểu này thì… fuc thiệt, chẳng khác gì Bác cùng chúng cháu hành quân, lên đường hiếp dâm chữ nghĩa Việt Nam.

Nói thiệt nghe bác: cháu không thích mấy cái thuyết âm miu gì gì đó kết bác là họ Hồ một Tập nhiều Chương do bác Mao sáng tác gửi từ bên Tàu qua. Nói gì thì nói phải đem cái xác Bác xét nghiệm DNA thì cháu mới tin trăm fần trăm.

Nhưng đọc di chúc của Bác thì thú thiệt cháu ước Bác là… thằng Tàu thiệt. Chứ nếu là người Việt Nam, là cha già jân tộc, là lãnh tụ vĩ đại, là chủ tịch muôn năm mà viết lách kiểu này thì nhục cho một đứa học sinh lớp 3 trường làng quá.

 Nhân kỷ niệm ngày Bác thả búa buông liềm đi gặp mác với lê, cháu xin gửi lại các fan của Bác giọng nói của bác để mắt vừa thấy Bác viết làm sao, tai vừa nghe Bác nói ra làm sao…
Q
 Q
Sau cùng, trong những thứ Bác dặn dò mà con cháu đồng chí của Bác không làm theo thì có một điều cháu mong là các đồng chí ấy cứ tiếp tục… mất dạy với Bác, đếch nghe lời Bác. Đó là:
tmp-danlambao
sao ? 
 
Đi “hỏa táng” hay “điện toán” thì thủ tiêu cha nó mọi bằng chứng Bác thật sự là… đứa nào !? (mà hỏi thiệt, hỏi nhỏ nhỏ nghe Bác: phải chăng vì vậy mà Bác dặn chúng nhớ đốt Bác không thì lộ hàng cuốn sách một Tập nhưng nhiều Chương của bác Mao thì chết cha !)
Vũ Đông Hà

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chúng tôi muốn biết!

Posted by Webmaster on September 1, 2014

chungtoimuonbiet-NguyenPhuongUyen-danlambao

Nguyễn Phương Uyên: Chúng tôi muốn biết!

chungtoimuonbiet-PhamThanhNghien-danlambao

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: , , , | Leave a Comment »

We Want To Know

Posted by Webmaster on September 1, 2014

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/09/we-want-to-know

We Want To Know

Freedom of speech is closely related to free access to information. Every citizen has the right to access information from the State such as national policies, activities of politicians, and/or the operation of the ruling party in all fields: education, environment, health, and social security to national sovereignty. It is one of the most basic rights of the people.

To provide accurate information, transparency and accountability is the duty of the State.
On the other hand, the right to access information from the State helps the people to assimilate, evaluate, voice criticism or support. This is the fundamental element of democracy. Ignoring that basic right only exists in anti-democratic and dictatorial regimes.
Have you ever asked the question: do the people have the right to know the terms, the signing of treaties that involve national sovereignty or not?
In May 2014, when the Chinese Communists brought its HD-981 rig to encroach the waters of Vietnam, it was for the first time that the 1958 diplomatic note signed by the former Prime Minister, Pham Van Dong, relating to the sovereignty of Paracel and Spratly islands, was publicly mentioned on national media. And it astounded the people of Vietnam because of its extremely damaging content.
It doesn’t matter how the State now tries to justify its action, this 1958 diplomatic note, which was signed with the sole purpose to approve the claim made by the government of the People’s Republic of China on its territorial sovereignty, (including that of the Paracels and Spratlys that belong to Vietnam), has made any citizen concerned about his/her fatherland, must raise the question: why the terms and signed treaty affecting Vietnam’s sovereignty have been kept secret for more than half a century? And this information was only released reluctantly by the Vietnamese government when China had announced it as “evidence” of its so-called jurisdictional right to “own” Vietnam’s Paracels and Spratlys.
The right to be informed is the basis for the people to exercise their right to govern their country. In this case, every title-holder of Vietnam must be informed in order for them to effectively join forces to protect their own legitimate rights, as well as the rights of the whole nation.
In fact, the inter-related interests of the top two groups in the Communist Party of Vietnam and China always compel them to cover information relating to sovereignty, human rights, and economic, social, and cultural issues in Vietnam.
What are the consequences of this “keeping-them-in-the dark” strategy, of this “black hole”?
The people of Vietnam often are caught unprepared by China’s aggressive moves, and confounded by information released by the Chinese government. Meanwhile, the Vietnamese regime represses anyone who wishes transparency, and tries to shed light upon this existing “black hole” and seeks the truth of what has happened and is happening.
One of the agreements that impacts national interests is the “secret” Chengdu treaty in September 1990. Until now, nearly a quarter of a century has passed, and still there is no official information regarding this signed agreement from the Vietnamese government.
Based on the information leak, every citizen is concerned about the prospect of Vietnam turning into a part of China.
There have been individuals, and groups collectively requesting the Vietnamese government to disclose the information. In response, there is only the same strategy “wool hat covering the ears”; ignoring, patronizing, irresponsible behaviour from the State.
The country is in peril. It requires the people to be informed, and the right to know the agreements that have been signed behind their back, and on their backs, 24 years ago, between the two Parties and governments, that detrimentally affect Vietnam’s independence since then and in the future.
We have the right to know, and we want to know what has and is happening.
You – the people of Vietnam whose hearts are heavy with patriotism, with responsibility towards his forefathers and future generations: let us fight resolutely and persistently and demand the right to know based on the basis of our right to know.
Let us start with the Chengdu Treaty’s content in Sept. 1990.
WE WANT TO KNOW!

chungtoimuonbiet-bon-1-MLBVN

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả trong nước | Tagged: | 1 Comment »

Ngày độc lập nào?

Posted by Webmaster on September 1, 2014

Lê Công Định

Vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập"Từ lâu tôi luôn tự hỏi phải chăng ngày 2 tháng 9 năm 1945 thật sự là ngày độc lập của nước Việt Nam mới sau gần một thế kỷ làm thuộc địa của Pháp? Trước khi trả lời câu hỏi nghiêm túc này, cần lần giở lại các trang sử hiện đại của nước nhà, để ghi nhận một số sự kiện quan trọng sau đây:

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngay sau đó, vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Đây là thời điểm đáng lưu ý.
Ngày 7/4/1945, vua Bảo Đại chuẩn y thành phần nội các mới, trong đó học giả Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập. Tháng 6/1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Đến khi Nhật đầu hàng phe Đồng minh, Thủ tướng Trần Trọng Kim vào ngày 16/8/1945 khẳng định bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Sau đó, vào ngày 18/8/1945, vua Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam đã công bố vào ngày 11/3/1945.
 ψ
Cần lưu ý, tuy là một chính quyền thực tế và chính danh từ tháng 3/1945, nhưng Đế quốc Việt Nam không đủ lực lượng quân sự để kiểm soát tình hình. Đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn về chính trị. Nhiều tổ chức và đảng phái hình thành trước đó đã tranh thủ thế đứng chính trị riêng trước vận hội mới của Việt Nam, trong đó Việt Minh dường như là lực lượng được tổ chức hoàn bị nhất, khả dĩ tranh giành quyền lực vượt trội.
 ψ
Từ ngày 19/8/1945 tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”. Trước tình thế đó, vua Bảo Đại quyết định thoái vị và giải tán chính phủ Trần Trọng Kim. Dù tồn tại không bao lâu và phải dung hòa ảnh hưởng của các thế lực quốc tế cùng chủ thuyết Đại Đông Á của Nhật, nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế chính trị độc lập và mang đến niềm hy vọng về nền tự chủ đầu tiên cho Việt Nam sau ngần ấy năm lệ thuộc Pháp.
 ψ
Ngày 2/9/1945, chớp thời cơ về một khoảng trống quyền lực và sự yếu kém của các đảng phái chính trị khác tại Việt Nam khi ấy, đại diện Việt Minh là ông Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trong một buổi lễ long trọng tại Hà Nội, và sau đó tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
 ψ
Sơ lược lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động như trên để thấy rằng nhiều điều bấy lâu nay bộ máy tuyên truyền và giới sử nô mặc định là đương nhiên đúng rất cần xem xét lại một cách công tâm, chẳng hạn nội các Trần Trọng Kim có thật là “bù nhìn” không, và ngày 2/9/1945 phải chăng là ngày độc lập trên phương diện thực tế và pháp lý?
 ψ
Như đã nói trên, sau khi bị quân đội Nhật đảo chính tại Đông Dương, nước Pháp trên thực tế đã đánh mất quyền kiểm soát về chính trị và quân sự ở các nước này, dù họ chưa bao giờ muốn từ bỏ thuộc địa béo bở như thế. Với tư cách là một đại diện chính danh và hợp pháp của một chính quyền đã và đang cai trị đất nước liên tục từ năm 1802, vua Bảo Đại ngay lập tức tuyên cáo Việt Nam độc lập. Ông đã thủ giữ vai trò đại diện đương nhiên của quốc dân và quốc gia trong sự chuyển tiếp từ thể chế chính trị cũ sang thể chế mới, mà không một nhân vật chính trị nào đương thời hội đủ tư cách thay thế được. Do đó, xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11/3/1945.
 ψ
Vậy không lý gì đến ngày 2/9/1945 người ta lại cần tuyên bố độc lập một lần nữa, mà người tuyên bố đơn thuần chỉ là thủ lĩnh của một phong trào chính trị, dù là mạnh nhất trong số nhiều tổ chức và đảng phái khác nhau cùng tồn tại khi ấy, và người đó cũng chưa bao giờ được quốc dân lựa chọn hoặc công nhận, dù mặc nhiên hay bằng một thủ tục hợp pháp, là đại diện chính danh của quốc gia tính đến thời điểm ấy.
 ψ
Cần lưu ý, trước thời điểm 2/9/1945 danh tính Hồ Chí Minh chưa từng được biết đến rộng rãi như một nhân vật chính trị có uy tín, còn Nguyễn Ái Quốc chỉ nổi danh như một trong các nhà cách mạng đương thời tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam mà thôi. Hai tên ấy của một con người vốn luôn thích bí ẩn, dù về sau rất nổi tiếng, vẫn chưa đủ mang đến cho ông tư cách chính danh và hợp pháp vào lúc đó để có thể đứng ra đại diện tuyên bố độc lập cho quốc gia.
  ψ
Tất nhiên, chân lý thuộc về kẻ mạnh, nên khi thắng cuộc người ta có thể diễn giải mọi sự kiện lịch sử theo ý riêng của mình, rằng ngày 2/9/1945, chứ không phải ngày 11/3/1945, trở thành ngày độc lập của nước Việt Nam mới. Tuy nhiên, với cách đọc sử không lệ thuộc vào ý thức hệ, từ lâu tôi đã bác bỏ lối tường thuật và nhận định lịch sử theo hướng bóp méo vì mục đích chính trị như vậy. Cho nên, nếu gọi đó là ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn có thể đồng ý, nhưng nếu áp đặt đấy là ngày độc lập thì dứt khoát không đúng, bởi với tôi chỉ có thể là ngày 11/3/1945 khi vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam độc lập mà thôi.
  ψ
Lê Công Định

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả trong nước | Tagged: | Leave a Comment »