Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for February, 2016

Tập Cận Bình chủ trương độc chiếm Biển Đông

Posted by Webmaster on February 27, 2016

tapcanbinh-biendong12-danlambao
Trần Trung Đạo (Danlambao)…Tập Cận Bình thúc đẩy ‘status quo’ mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những khai triển này bị Mỹ kết án là vi phạm ‘status quo’. Lãnh đạo Trung Cộng lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên ‘lãnh thổ’ Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác…
*
Người viết xin lỗi sẽ dùng chữ La Tinh ‘status quo’ nhiều lần trong bài viết chỉ vì mục đích chính là để bàn về khái niệm này trong chủ trương quân sự hóa Biển Đông của Tập Cận Bình. ‘Status quo’ chỉ tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi.
Vào thế kỷ thứ 14, danh từ này dùng để chỉ tình trạng hòa bình trước khi chiến tranh bùng nổ giữa hai nước nhưng dần dần được áp dụng trong hầu hết các lãnh vực. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một ‘status quo’ và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc. Khi hai bên đồng ý duy trì ‘status quo’ có nghĩa là hai bên chấp nhận tình trạng hiện đang là của một điều kiện về quân sự, địa lý, xã hội hay chính trị.
‘status quo’ về lãnh thổ trong hai cuộc chiến tranh thế giới
Việc chấp nhận ‘status quo’ thường diễn ra trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Lý do, các bên tranh chấp đều muốn phần lợi về mình nhưng đều không đủ bằng chứng thuyết phục bên kia hay quốc tế và cuối cùng chấp nhận tình trạng thực tế và chỉ thảo luận vào các điểm mới thôi.
Trong thế kỷ hai mươi, trải dài suốt hai thế chiến, ‘status quo’ được sử dụng nhiều nhất trong tranh chấp lãnh thổ tại Châu Âu. Sau thế chiến thứ nhất, các quốc gia bại trận trong đó có Đức mất phần lớn lãnh thổ chiếm được trong các cuộc chiến tranh trước đó, bao gồm chiến tranh Pháp Phổ. Sau khi lên nắm quyền, mục đích đầu tiên của Hitler là phục hồi lãnh thổ mà ông ta cho rằng vốn thuộc Đức.
Các nước mạnh, tự mình hay qua hình thức liên minh, đều nhắm tới việc hủy bỏ các ‘status quo’ và thiết lập các ‘status quo’ mới có lợi cho họ. Đức chiếm Tiệp Khắc. Ý chiếm Albany. Liên Xô tìm cơ hội mở rộng vùng ảnh hưởng phía Tây. Hiệp ước bí mật Bất Tương Xâm (German-USSR Non-Aggression Pact) giữa Đức Quốc Xã và Liên Xô năm 1939 âm mưu chấm dứt ‘status quo’ lãnh thổ và xẻ châu Âu làm hai, mỗi bên chiếm một phần. Đức chiếm Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô chiếm một phần Ba Lan và các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Lithuania). Sau Thế chiến Thứ hai, Stalin lẽ ra phải bị xử như một tội phạm chiến tranh, tuy nhiên, kẻ thắng trận bao giờ cũng đóng vai quan tòa và tội ác của quan tòa thường bị bỏ qua hay che lấp.
Anh và Pháp muốn bảo vệ ‘status quo’ của Châu Âu nên đã nhiều lần lên tiếng phản đối hành động của Đức, Ý khi vi phạm một cách trắng trợn chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia nhỏ yếu bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh và Pháp, ngoài những lời tuyên bố và biểu dương lực lượng qua vài cuộc tập trận nhỏ, không có một hành động quân sự cụ thể nào chứng tỏ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng lãnh thổ Châu Âu như đã phân định trong hiệp ước Versaille.
Chính sách của các lãnh đạo CSTQ trước Tập Cận Bình
Mặc dù bộ máy tuyên truyền Trung Cộng luôn rêu rao chủ quyền Biển Đông không thể tranh cãi của Trung Cộng và đã chứng minh qua hai ngàn năm lịch sử, giới lãnh đạo CSTQ cũng biết những lý luận đó chỉ để đun nồi nước sôi dân tộc cực đoan Đại Hán chứ không thể dùng để thuyết phục các quan tòa một khi cuộc tranh chấp được đưa ra trước một tòa án quốc tế.
Bằng chứng, tháng 1 năm 2013, chính phủ Philippines chính thức đệ trình hồ sơ kiện Trung Cộng trước Tòa Án Quốc Tế. Hồ sơ của Philippines nộp lên gồm mười bộ với gần bốn ngàn trang tài liệu chứng minh chủ quyền của Philippines và phản bác các luận cứ cũng như quan điểm đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Cộng. Trung Cộng từ chối tranh tụng trước tòa.
Chính sách truyền thống của Trung Cộng là gặm nhắm từng phần của Biển Đông. Sau Hoàng Sa, tháng 8 năm 1988 lần đầu tiên Trung Cộng đặt chân lên quần đảo Trường Sa sau trận Gạc Ma. Từ năm 1989 đến năm 1992 Trung Cộng chiếm một số đảo nhỏ khác của Trường Sa. Tháng 2 năm 1995 Trung Cộng chiếm đảo Vành Khăn (Mischief Reef) và một đảo khác do quân đội Philippines đóng.
Tập Cận Bình chủ trương độc chiếm Biển Đông
– Tập trung quyền lực 
Nhà bình luận Doug Bandow của Newsweek đưa ra câu hỏi liệu Tập Cận Bình sẽ trở thành một Mao thứ hai không phải là không có lý do. Khác với các lãnh tụ CSTQ sau Mao, Tập Cận Bình là nhà độc tài đầy tham vọng quyền lực. Nạn sùng bái cá nhân tại Trung Cộng tạm lắng trong ba chục năm qua đã bắt đầu tái phát. Bộ máy tuyên truyền CSTQ đang đánh bóng họ Tập như một lãnh tụ có quyền hạn tối thượng và tuyệt đối trong tập thể lãnh đạo Trung Cộng. Báo chi bắt đầu gọi y là ‘Lãnh tụ Trung tâm’ (The CORE), một danh hiệu chỉ dành để chỉ Đặng Tiểu Bình.
Trong một bài bình luận đầu tháng Hai năm 2016 trên New York Times, nhà bình luận Chris Buckley nhắc đến sự kiện ngày càng đông các lãnh đạo địa phương tuyên bố trung thành với họ Tập. Vai trò lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị và Ban Thường trực Bộ Chính trị bị đặt qua bên. Lãnh đạo mới được hiểu theo hình tháp và trên đỉnh là duy nhất Tập Cận Bình giống như trước đây chỉ có Mao.
Quách Kim Long (Guo Jinlong) tân bí thư thành ủy Bắc Kinh vừa tuyên bố một câu đầy đe dọa trên Bắc Kinh Nhật Báo “Trật tự thế giới mà chúng ta sống đang tiến hành một sự điều chỉnh và về đối nội, đây là giai đoạn quan trọng của những thay đổi sâu sắc. Hơn bao giờ hết, chúng tôi cần một lãnh đạo tối cao”. Cho đến nay, ít nhất 14 trong số các lãnh đạo cao cấp của đảng tuyên thệ trung thành trước họ Tập.
Việc các viên chức cao cấp Trung Cộng tuyên thệ trung thành, thoạt nhìn chỉ là chuyện nội bộ của Trung Cộng, tuy nhiên, điều này cũng nhắc lại sự kiện các viên chức cao cấp và tướng lãnh Đức phải tuyên thệ trung thành với Hitler khi ông ta vừa nhậm chức Quốc Trưởng Đức và sau đó phát động chiến tranh thế giới. Không phải nhân dân Trung Hoa mà nhân dân các nước nhỏ láng giềng như Việt Nam, Philippines sẽ là những nạn nhân đầu tiên của ‘Lãnh tụ Trung tâm’ này.
Giống như ý định của Mao khi gởi một triệu quân sang Triều Tiên năm 1950 hay của Đặng Tiểu Bình khi xua gần nửa triệu sang xâm lăng Việt Nam năm 1979, Tập Cận Bình cũng đang cố tình tạo một không khí chiến tranh chống kẻ thù của Trung Cộng để củng cố quyền lực nội địa.
– Quân sự hóa Biển Đông
Việc Trung Cộng quân sự hóa những vùng chiếm được trên Biển Đông đã quá rõ ràng. Đô Đốc Harry Harris, Tư Lệnh Bộ Tư Lịnh Thái Bình Dương của Mỹ xác nhận ‘Điều đó quá rõ, trừ phi bạn nghĩ rằng trái đất nầy là một mặt bằng, bạn mới nói là là không’. Đô Đốc Harry Harris cũng tin rằng Trung Cộng đã đặt các giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Woody (Phú Lâm). Sau hỏa tiễn, Trung Cộng phối trí các phi cơ chiến đấu cũng trên đảo Phú Lâm. Khác với những lần trước, lần này có vẻ các chiến đấu cơ này sẽ là phần của căn cứ không quân thường trực.
Sự hiện diện quân sự của Trung Cộng hiện nay trên Biển Đông chưa phải là một đe dọa trực tiếp đối với an ninh và quyền tự do hàng hải của Mỹ. Với sự chênh lệch còn quá xa về kỹ thuật và phương tiện chiến tranh nghiêng về phía Mỹ, nếu một xung đột quân sự xảy ra, những giàn hỏa tiễn và vài chiến đấu cơ đó sẽ nằm trong đáy biển trong vòng vài phút.
Tuy nhiên, với các quốc gia nhỏ trong vùng sự hiện diện của chúng là những đe dọa trực tiếp. Sự ràng buộc và phụ thuộc vào nhau trong quan hệ kinh tế thương mại vô cùng sâu sắc và phức tạp giữa các cường quốc trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, khả năng rất thấp để Mỹ có thể can thiệp vào các xung đột giữa hai nước.
Biết điều đó nên lập trường giải quyết xung đột của Trung Cộng từ trước đến nay vẫn là giải quyết song phương thay vì đa phương để nếu có leo thang cũng chỉ leo thang giữa hai nước. Không có liên minh quân sự, Việt Nam hay Philippines đều không phải là đối thủ của Trung Cộng.
– Thiết lập một ‘status quo’ mới trên Biển Đông
Theo Andrew Chubb trong một phân tích khá chi tiết trên The Diplomat, The South China Sea: Defining the ‘Status Quo’, trước 2013, khái niệm ‘status quo’ rất ít được sử dụng. Phía Trung Cộng chẳng những không dùng mà còn kết án.
Lý do? Trong tình trạng hiện nay của quần đảo Trường Sa, số lượng đơn vị đảo do Trung Cộng chiếm (5 đơn vị) vẫn còn ít hơn số đảo Việt Nam đang giữ (21 đơn vị). Đơn vị được xác định theo tiêu chuẩn đảo, vùng đá nổi hay vùng đá chìm. Nếu một ‘status quo’ chỉ dựa trong tình trạng hiện nay, chắc chắn không phải là một hiện trạng mà Trung Cộng muốn.
Trung Cộng có ý định phá vỡ ‘status quo’ đang có để thiết lập một ‘status quo’ mới phù hợp với quan điểm bành trướng đã phác họa trong’đường lưỡi bò 9 đoạn’ và sau đó vào tháng 6 năm 2014 lại tự ý bổ sung thêm một đoạn nữa. Trung Cộng tuyên bố khoảng 90% Biển Đông thuộc về Trung Cộng và đó cũng là ‘status quo’ mới mà Tập Cận Bình đang nhắm tới.
Để thiết lập được ‘status quo’ mới đó, Tập Cận Bình đưa ra chủ trương gồm hai mặt. Mặt đối ngoại, Tập Cận Bình kêu gọi các bên tranh chấp tự chế các hành động quân sự và giải quyết mọi xung đột bằng các phương tiện hòa bình; mặt đối nội, họ Tập chỉ thị cấp tốc quân sự hóa các vùng đã chiếm được.
Thoạt nghe, hai mặt, vừa thảo luận hòa bình mà vừa lại quân sự hóa, dường như mâu thuẫn. Không, với họ Tập chủ trương hai mặt lại hổ trợ cho nhau một cách hữu hiệu. Các cường quốc cũng như các nước đang tranh chấp khó có một phản ứng thích hợp trước các hành động bành trướng ngang ngược của Trung Cộng.
Tập Cận Bình thúc đẩy ‘status quo’ mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những khai triển này bị Mỹ kết án là vi phạm ‘status quo’. Lãnh đạo Trung Cộng lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên ‘lãnh thổ’ Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác.
Kết luận
Đáp lai những phê bình của Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry, Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị mới đây nói rằng việc Trung Quốc phối trí quân sự trên Biển Đông cũng không khác gì Mỹ phối trí quân sự trong khu vực Hawaii. Câu nói ngang ngược và ngu xuẩn vì không có nước nào tranh chấp chủ quyền với một tiểu bang của Mỹ, nhưng phản ảnh chủ trương của Tập Cận Bình không chỉ lấn chiếm mà còn dân sự hóa, quân sự hóa lâu dài, nói rõ hơn để thiết lập một ‘status quo’ mới trên Biển Đông và đặt không chỉ riêng Mỹ mà cả thế giới trước một tình trạng đã rồi.
Rất tiếc, như lịch sử thế giới đã chứng minh, các thay đổi ‘status quo’ về lãnh thổ đều dẫn đến chiến tranh. Con đường thoát duy nhất mà một nước nhỏ, trong trường hợp này là Việt Nam, phải chọn là thực hiện cho bằng được các điểm mà Trung Cộng né tránh và khai thác tối đa các điểm yếu của Trung Cộng, trong đó có (1) dân chủ và hiện đại hóa đất nước, (2) tập trung sức mạnh đoàn kết dân tộc, (3) nhanh chóng chiến lược hóa vị trí Việt Nam, (4) liên kết với các nước bất đồng quyền lợi với Trung Cộng, và (5) chuẩn bị chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
27.02.2016

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

Hàng ngàn công nhân Pouchen VN đình công

Posted by Webmaster on February 27, 2016

BBC Tiếng Việt.

160227091152_pouchen_640x360_facebook_nocredit

Hàng ngàn công nhân công ty Pouchen-Đồng Nai đình công đòi thay đổi ‘quy chế mà họ cho là bất công. Ảnh do công nhân gửi trang Facebook Tin mừng cho người nghèo

Cuộc đình công của hàng ngàn công nhân công ty Pouchen Việt Nam, tỉnh Đồng Nai bước sang ngày thứ ba trong lúc một nhà hoạt động phong trào nghiệp đoàn cáo buộc người của họ bị công an câu lưu.

Công ty Pouchen Việt Nam, đóng tại xã Hóa An, TP. Biên Hòa, Đồng Nai, là doanh nghiệp 100% vốn Đài Loan, chuyên gia công giày.

Báo trong nước tường thuật sáng 27/2, quốc lộ 1K tại Đồng Nai bị kẹt cứng do hàng ngàn công nhân công ty Pouchen Việt Nam đình công tràn ra đường.

“Công nhân đình công nhằm phản đối chính sách đánh giá hiệu quả công việc, từ đó xếp loại lao động A-B-C để tính ra mức lương, thưởng mà theo công nhân là quá khắt khe.

Cách thức trừ của công ty theo những người đình công là chưa hợp lý. Công nhân cho hay họ nghỉ không phép hay có phép đều bị trừ, phép bệnh cũng không thoát khỏi bị tính.

heo chính sách mới này, công nhân chỉ cần nghỉ một ngày không phép là bị xếp loại C, cuối tháng hay cuối năm đều bị cắt hết các khoản trợ cấp và tiền thưởng. Vì thế, từ trưa 25/2, khoảng 16.000 công nhân đã ngừng làm việc tập thể”, báo Thanh Niênhôm 27/2 tường thuật.

Cùng ngày, trao đổi với BBC qua điện thoại từ TP. Hồ Chí Minh, nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh cho hay, một thành viên của Phong trào Lao Động Việt đã bị công an mặc thường phục câu lưu tại Đồng Nai.

“Từ cuối năm 2015 đến nay, bản thân tôi thì bị canh giữ tại nhà ở TP. Hồ Chí Minh, trong lúc đồng sự của tôi bị ngăn cản khi tiếp xúc với công nhân tại Đồng Nai. Phía công an còn hăm dọa người của phong trào là “gặp đâu đánh đó”, bà nói.

Nhà hoạt động dự báo: “Cuộc đình công của công nhân công ty Pouchen có khả năng kéo dài, do họ bức xúc về tiền trả cho họ bị chèn ép. Cuộc đình công này cho thấy công nhân chưa có quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của họ, ngoài những nghiệp đoàn giả hiệu do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam công bố”.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , | Leave a Comment »

Thư trả lời của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về chương trình bảo trợ các thương phế binh VNCH sang Hoa Kỳ

Posted by Webmaster on February 23, 2016

 

Thư trả lời của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về chương trình bảo trợ các thương phế binh VNCH sang Hoa Kỳ

Vào lúc 3:00 trưa ngày Thứ Bảy 20/02/2016, Dân Biểu Alan Lowenthal đã ghé thăm Đài Truyền Hình SBTN, để thông báo về bức thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

alan_1

02/20/2016 – 22:31
Vào lúc 3:00 trưa ngày Thứ Bảy 20/02/2016, Dân Biểu Alan Lowenthal đã ghé thăm Đài Truyền Hình SBTN, để thông báo về bức thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, trả lời về yêu cầu tái khởi động lại ODP, giúp đỡ hơn 500 sĩ quan thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa sang định cư tại Hoa Kỳ.
Dân Biểu Alan Lowenthal trình bày lá thư trả lời từ Bộ Ngoại Giao.
Buổi họp tại văn phòng SBTN với Dân Biểu Alan Lowenthal có đại diện Ban Giám Đốc SBTN và đại diện của Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH.
Dân Biểu Lowenthal đã đưa cho mọi người xem lá thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ký ngày 20/01/2016 gởi cho ông, một trong 5 dân biểu Hoa Kỳ đã đề nghị xem xét lại việc mở lại chương trình ODP, để đưa hơn 500 cựu sĩ quan thương phế binh VNCH sang Hoa Kỳ định cư.
Nội dung của lá thư cho biết, Bộ Ngoại Giao hiện nay chưa có kế hoạch làm theo yêu cầu này. Một trong những lý do mà họ đưa ra là cả Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội lẫn Tòa Lãnh Sự tại Sài Gòn đều xác nhận là họ không ghi nhận có sự ngược đãi nào đối với những thương phế binh VNCH hiện đang sinh sống tại Việt Nam.
Bức thư còn cho biết chính phủ Hoa Kỳ có quan tâm đến những người tàn tật tại Việt Nam. Cụ thể là từ năm 1989, chính phủ Hoa Kỳ đã trợ giúp hơn 70 triệu USD cho những chương trình trợ giúp người tàn tật tại Việt Nam.
Dân biểu Alan Lowenthal cho biết thư trả lời này của Bộ Ngoại Giao có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Cả Tòa Đại Sứ lẫn Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ đều không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với những người thương phế binh VNCH tại Việt Nam, cho nên không thể kết luận rằng họ có bị ngược đãi hay không.
Nhạc Sĩ Trúc Hồ -Tổng Giám Đốc SBTN – cũng chỉ ra rằng trong khi đề cập đến “70 triệu USD của chính phủ Hoa Kỳ dùng để trợ giúp người tàn tật ở Việt Nam”, lá thư không hề đề cập gì đến việc bao nhiêu trong số tiền này đã được sử dụng cho những người thương phế binh VNCH.
Dân Biểu Alan Lowenthal đã để nghị SBTN và Hội Cứu Trơ Thương Phế Binh một số hành động cụ thể, để chuẩn bị trả lời thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Đầu tiên, theo ông là phải thu thập những bằng chứng về sự đối xử phân biệt, những điều kiện sống vô cùng khó khăn của các thương phế binh VNCH tại quê nhà. Cần phải có những tài liệu, dữ kiện cho thấy đây là những người đã bị bỏ quên trong suốt hơn 40 năm qua. Mặc dù có thể sự phân biệt đối xử này đã giảm dần hiện nay, nhưng nó vẫn đang ảnh hưởng nặng nề đến đời sống và tinh thần của những người thương phế binh VNCH.
Thứ hai, theo Dân Biểu Lowenthal là phải làm sao vận động để có nhiều tiếng nói hơn nữa từ cộng đồng, từ các hội đoàn người Việt khắp nơi ở Hoa Kỳ cho vấn đề này. Tiếng nói của cử tri càng nhiều sẽ tác động càng mạnh đến các dân biểu, chính phủ.
Thứ ba là cộng đồng người Việt có thể chứng tỏ với chính phủ Hoa Kỳ rằng chúng ta sẵn sàng cưu mang những người thương phế binh này, nếu họ  được cho phép sang Hoa Kỳ định cư. Cộng đồng người Việt sẵn sàng nhận trách nhiệm cung cấp nơi ăn, chốn ở cho họ, để làm giảm gánh nặng ngân sách cho chính phủ Hoa Kỳ.
Dân Biểu Lowenthal cũng không quên nhắc nhở rằng ở thời điểm này, di dân là một vấn đề nhạy cảm chung của chính phủ Hoa Kỳ, chứ không riêng gì đối với cộng đồng người Việt chúng ta.
Có người đề nghị sắp xếp để cho Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn gặp gỡ các thương phế binh tại Dòng Chúa Cứu Thế, nơi mà người thương binh VNCH nhận được sự trợ giúp từ những các cha, các thiện nguyện viên, các lòng hảo tâm, chứ không phải từ chính phủ CSVN.
Còn rất nhiều việc cần phải làm để tiếp tục thúc đẩy chương trình này. Dân Biểu Lowenthal cho biết Đại Sứ Hoa Kỳ Tại Việt Nam -Ted Osius – sẽ trở về Mỹ vào tháng 3 tới, và có kế hoạch ghé thăm Little Saigon. Ông Lowenthal nói ông sẽ nêu vấn đề này khi gặp gỡ ông Đại Sứ, và nhắc cộng đồng chúng ta cũng làm tương tự khi có dịp tiếp xúc với ông Ted Osius.
Cuối cuộc họp, mọi người đều đồng ý sẽ tiếp tục làm tất cả những gì có thể làm được, để hoàn thành sứ mạng mà ai cũng biết sẽ gặp nhiều khó khăn này. Bởi vì giúp đỡ người thương phế binh VNCH là trách nhiệm của cộng đồng chúng ta. Đây là những người đã hy sinh thân thể vả cả cuộc đời để bảo vệ sự tự do cho người dân miền Nam, và cũng là những người tị nạn CS tại hải ngoại hiện nay. Những người thương binh VNCH xứng đáng được tri ân như vậy.
img_3399
Ban Giám Đốc SBTN và đại diện Hội HO cùng Dân Biểu Alan Lowenthal 
Đoàn Hưng / SBTN

 

Read the rest of this entry »

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Một nếp văn minh mớI

Posted by Webmaster on February 22, 2016

pobrane8

Nguyễn Thị Cỏ May – Đàn Chim Việt.

Trong những ngày cận Tết, báo chí ở Việt Nam đã phải lên tiếng “Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề những thảm án liên tục xảy ra, con người cư xử với nhau ngày càng tàn bạo có một phần nguyên nhân từ việc uống nhiều bia rượu và thiếu đọc sách “ .
Nhưng không biết «thiếu đọc sách» là nguyên nhân của mải mê bia rượu hay vì «bia rượu » mà thiếu đọc sách ? Hay còn nguyên nhơn nào nữa khác hơn ? Nhưng tình trạng  «mải mê bia rượu» ngày nay ở Việt nam trở thành nghiêm trọng đến mức nào ?

Sự chọn lựa đã rõ

Theo báo chí ở Hà Nội, năm vừa qua, ngành văn hóa của Nhà Nước thu được 2000 tỷ đồng từ các hoạt động xuất bản với 24.000 cuốn sách, 375 loại ấn phẩm . Trong lúc đó, Nhà Nước thu vào được 66.000 tỷ động từ sự tiêu thụ 3 tỷ lít bia rượu của dân chúng . Sự thu nhập nhờ những hoạt động đối nghịch với chữ nghĩa, sách vở lại cao hơn 33 lần thu nhập nhờ chữ nghĩa !

Ngoài ra, theo điều tra của Google thì người Việt Nam, nhứt là lớp thanh niên, vào internet xem những loại phim đồi trụy tinh thần nhiều nhứt so với nhiều nước khác . Phải chăng ý muốn nói đại bộ phận dân Việt nam ngày nay, tinh thần đồi trụy, hiểu biết thoái hóa, cơ thể suy nhược ?

Mỗi năm, người dân ở Việt Nam chi ra 3 tỷ đô-la để uống bia rượu . Nếu đem khối lượng bia rượu tiêu thụ đó chia cho dân số Việt nam, từ tuổi biết uống nưóc cho tới tuổi sắp bỏ uống nước, thì mỗi người sẽ nhận đươc hơn 33 lít bia rượu / năm .

Thật ra số tiêu thụ ấy chưa thấm vào đâu nếu so với dân Tiệp và Đức . Dân Tiệp uống 135 lít bia / năm / người, Đức kém hơn, 107 lít / năm / người . Tây bét nhứt  : 30 lít / năm / người . Nhưng Tây lại uống rượu chát (vin) nhiều hơn (44 lít / người / năm) . Có lẽ nhờ đó mà Tây ăn nhiều bơ, fromage, thịt nguội, …mà lại ít bị bịnh tim mạch hơn người Huê kỳ . Một mẫu người Pháp tay chơi là «tay cầm ly vin, tay kia đỡ mâm thịt nguôi và fromage» .

Nhưng, ở Việt Nam, bất kỳ ở đâu, trước nhà, ngoài ngõ, trong quán nhậu, vào bất kỳ giờ nào, sáng, trưa, chiếu, tối, đầu tuần, cuối tháng, cứ đưa mắt nhìn là thấy ngay có đầy người ngồi nhậu, với thái độ ung dung tự tại vô cùng thoải mái . Đa số là tuổi trẻ .

Phong cách nhậu của người Việt Nam không giống như người Âu châu . Theo kết quả điều tra, năm 2015, riêng dân Pháp, lớp tuổi trẻ từ 15 – 24 tuổi, có 12% uống bia rượu . Lớp lớn hơn có 32% uồng bia rượu . Còn lại 55% là những người không uống . Và họ chỉ uống vào ngày nghỉ hay dịp lễ lộc . Những người đi làm việc, chiều về, tạt vào Bar, đứng bên Comptoir ( Quầy), uông 1, 2 ballon rượu chát ( 1 chai vin 75 cl rót được 6 ballons 12, 5 cl – Champagne, được 6, 7 coupes) hoặc 1, 2 đờ-mi như khai vị để về nhà ăn cơm ngon . Ở Pháp tuy là xứ sản xuất hàng đầu bia rượu, nhưng không thấy dân chúng đông nghẹt suốt ngày trong tiệm lớn nhỏ như ở Việt Nam . Ngoài ra, còn có luật cấm vị thành niên mua rượu ở chợ hay tìệm và uống rượu ở quán.

Ở Việt Nam, người dân uống rượu như vì «không biết làm gì, nghĩ gì» khác hơn . Uống để mà uống . Như một sanh hoạt hằng ngày phải có để nhắc nhở «ta còn đây » . Khi ta uống là ta thật sự «hiện hữu»!

Bạn bè lâu ngày gặp nhau tay bắt mặt mừng: nhậu ; ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp: nhậu ; có chuyện vui: nhậu; gặp chuyện buồn: nhậu; hết giờ làm việc, đồng nghiệp cùng nhau thư giãn: nhậu; đi công tác phải biết “giao lưu ”, “kết nghĩa”: nhậu ; có khách đến nhà: nhậu…bình thường không làm gì, cũng…nhậu. Có tiền, nhậu theo có tiền . Hết tiền, nhậu nhiều hơn …

Người Việt nam ít đọc sách

Quả thật đây là điều đáng buồn khi thấy người dân không bỏ tiền ra mua sách đọc mà trái lại, có bao nhiêu tiền cũng sẵn sàng chi ra cho ăn nhậu.

Họ không cần đoc nhiều phải chăng vì chỉ cần đọc một cuốn hay xem một tờ báo cũng có thể biết 24 000 cuốn kia hay 375 ấn phẩm kia nói gì, viết gì rồi ? Tất cả báo chí, sách vở, Phát thanh, TV đều nằm gọn trong tay nhà thầu khổng lồ là đảng cộng sản. Mà chính đảng viên cấp lãnh đạo, lại chẳng có mấy người đọc sách. Bởi nhờ không đọc sách, họ mới lên được TW đảng !

Nói tới chuyện sách vở ở Việt Nam, Cỏ May nhớ lại năm 1977, vào khu phố lặc-xon của Ba tàu bán ve chai ở chợ lớn tìm mua phụ tùng máy tàu, tu bổ cho chiếc tàu chuẩn bị vượt biên, thấy con xẩm trẻ, con gái chủ tiệm, đang cầm quyển tiểu thuyết của Quỳnh Dao đoc, bèn hỏi nó đang học lớp mấy và tại sao không đoc sách của chương trình Quốc văn mà đoc Quỳnh Dao?
Nó cho biết học lớp 11 . Đọc Quỳnh Dao vì đọc sách kia thì – nó vừa trả lời vừa lật quyển sách như để thuyết minh thêm cho rõ ý – ở đầu sách : «ổng » (Hồ Chí Minh), giữa sách  : «ổng», ở cuối sách cũng «ổng» . Đọc cái gì  ? Chỉ có liệng đi, vừa làm cử chỉ bằng cách như vứt quyển Quỳnh Dao nó đang cầm trên tay .

Việt Nam ngày nay có gần 30 triệu người dân chưa bao giờ biết sách là gì, 44% dân số thỉnh thoảng đọc, thì coi đó như không đọc sách vì đọc sách không thể nào «đọc cơ hội » được .

Theo kết quả điều tra phổ biến gần đây thì người Việt Nam một năm chưa đọc hết 1 cuốn sách (chỉ đọc 0,8 cuốn sách/năm), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực . Ở nhà quê, gần như không có người đọc sách báo . Nhưng nều tính theo cách tính số người tìêu thụ bia rượu thì ở Việt Nam, ngày nay, có 90 triệu người, đem số sách bán được năm 2014 là 24.000 cuốn chia cho 90.000.000 thì kết quả sẽ là một người, trong một năm, đọc được 0,00027 cuốn sách!

Thế mà Việt Nam lại có 480 trường đại học, hàng trăm viện nghiên cứu, hơn 20  000 tiến sĩ đủ loại, cả thứ «tiến sĩ xây dựng đảng cộng sản», tỷ lệ sinh viên trên dân số cao ngất ngưỡng?

Thực tế này đã giải thích rõ vì sao sinh viên Việt Nam sau khi học xong vẫn thiếu kiến thức, vì sao những bằng cấp Cao Đẳng, Đại Học của chế độ cộng sản chưa bao giờ có giá trị và vì sao bạo lực ngày càng gia tăng, đạo đức luân thường xuống cấp nghiêm trọng…Người dân thường ỷ lại ở sức mạnh của đồng tiền trong việc đối xử với nhau .

Đất nước đã tụt hậu nhiều mặt so với Lào, Campuchia, Myanmar, đó là sự thật chứ không còn là nguy cơ như báo động trong những năm trước đây. Giảm rượu bia khó . Phát động phong trào đọc sách ngay hôm nay lại càng khó hơn vì làm điều này, trước hết phải đem lại cho sách báo có nội dung bằng những điều thiết thực, khai hóa dân trí theo tinh thần khoa học toàn câu, … Mà khi phục hồi những giá trị đạo đức nhơn bản thì chủ nghĩa cộng sản đem bỏ đi đâu ? Người cộng sản phải không nói dối, không lật lộng, không ngang ngược thì làm sao họ còn cộng sản nữa ? Đây quả là thứ nghịch lý sanh tử với người cộng sản. Vả lại sách vở, báo chí là sản phẩn của chế độ mà bản chất của chế độ là cộng sản. Người dân đang công khai chối bỏ cộng sản thì không thèm đọc sách báo là tự nhiên.

Rượu bia là những thứ cay nồng, độc hại mà còn dễ chịu hơn nếu phải tiếp xúc với thứ chữ nghĩa theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Vì thứ này, nó còn ghê tởm hơn, còn độc hại hơn bia rượu !

Kể ra nếu lấy bia rượu thay thế sách vở, biết đó là một thứ chọn lựa liều mạng, tự sát, nhưng về chìu sâu, nó có lý ở một cách ứng xử nào đó để hiểu thực tế của đất nước Việt Nam ngày nay.

Hay làm «ruồi đực tìm rượu giải sầu »

Câu chuyện «Ruồi đực tìm rượu giải sầu» là câu chuyện khoa học do University of California ở San Francisco, thực hiện với hằng trăm con ruồi và công bố kết quả nghiên cứu trên tờ báo chuyên đề The American Journal of Science (trên internet) .
«Họ bắt một con ruồi cái vừa mới làm tình xong, nhốt vào một cái lọ. Sau đó họ bắt một con ruồi đực bỏ chung vào với con ruồi cái, rồi theo dõi hành động của hai con ruồi . Con ruồi đực muốn ân ái nhưng con ruồi cái, vì vừa mới làm tình xong, mệt mỏi nên không hứng thú tí nào nữa, nó bay chỗ khác. Nếu nó bị con ruồi đực bay đuổi theo và bắt được, thì nó quyết liệt chống cự, hoặc chìa bộ phận đẻ trứng của nó cho con ruồi đực kinh hoàng, không đến gần nữa .

Họ làm thí nghiệm này với những con ruồi đực trong bốn ngày liên tiếp, mỗi ngày ba tiếng đồng hồ, và con ruồi đực luôn bị con ruồi cái không cho sơ múi gì cả.

Sau ngày thứ tư, họ cho con ruồi đực vào một cái lọ riêng, cho nó được lựa chọn hai thứ thức ăn, một là thức ăn thường và thức ăn có tẩm rượu, thì con ruồi đực, bị con ruồi cái không cho âu yếm, lúc nào cũng chọn thức ăn có rượu. Nhiều con “nhậu” cho đến xỉn luôn .

Họ tiếp tục cuộc thử nghiệm, lần này cho những con ruồi không được làm tình trong bốn ngày trước vào chai có ruồi cái ưng làm tình . Sau khi được ân ái, những con ruồi đực này chọn thức ăn không có rượu .

Nghiên cứu thêm nữa, các nhà nghiên cứu khám phá trong óc của con ruồi có một chất gọi là NPF. Họ suy luận là, khi được làm tình, óc con ruồi đực bị kích động và tăng trưởng chất NPF, nên làm nó cảm thấy sung sướng, thoải mái . Ngược lại, nếu nó không được làm tình, bị thiếu chất NPF, nên nó phải tìm những thức ăn có rượu, để kích động chất NPF trong não bộ .

Ông Ulrike Heberlein, người hướng dẫn cuộc nghiên cứu, tuyên bố là, phản ứng của đàn ông cũng không khác gì những con ruồi đực: Nếu bị vợ hay bồ không cho làm tình thì đàn ông sẽ tìm giải sầu trong ly rượu” .

Vậy phải chăng dân Việt Nam chọn ăn nhậu sáng, trưa, chiều, tối vì sách báo không thể đọc nổi, mà hú hí với vợ hay bồ cũng không được đãi ngộ, thì còn cách nào thú vị hơn là “ làm ruồi đực” mà tìm rượu giải sầu trong ly bia rượu ?

© Nguyễn Thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Những Chuyện Trong Ngày, Tác giả hải ngoại, Z đến A, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

Lễ Chào Quốc Kỳ VNCH Đầu Năm 1/1/2016 tại Boston Massachusetts

Posted by Webmaster on February 13, 2016

Posted in HPNCV/NE, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Sinh hoạt | Tagged: | Leave a Comment »

Từ Canada: Thơ Chúc Tết Bính Thân 2016 của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh HảI

Posted by Webmaster on February 6, 2016

 

Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải

Nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Thân 2016, Tôi, Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải,

thành viên ban Điều Hướng (Steering Committee) của Ủy Ban An Ninh, Đối Ngoại, và Nhân Quyền của Thượng Nghị Viện Canada, xin thân ái kính chúc toàn thể đồng bào một năm mới an khang, hạnh phúc, may mắn và được hưởng quyền làm người như mọi người trên địa cầu.

Đồng bào cùng chúng tôi nhìn lại một số sự kiện xảy ra trong năm 2015, chúng ta rất đau lòng nhìn thấy quê hương càng ngày càng bị uy hiếp bởi Trung Cộng.  Ngư dân bị đâm tàu, cướp đoạt ngư cụ; có người bị thiệt mạng ngay trong ngư trường thuộc chủ quyền Việt Nam.  Dân Oan ngày càng đông, dân bị chết trong đồn công an gia tăng, dân chúng càng lúc càng nghèo.  Ngược lại những cán bộ cao cấp của đảng cộng sản sống trong những dinh thự xa hoa ở Hà Nội làm ngạc nhiên cả thế giới, trị giá nhiều tỷ USD ở phía tây bắc Hà Nội, trải rộng trên 300 mẫu, phủ đầy những biệt thự nguy nga, sang trọng, trường học tư nhân, có cả câu lạc bộ và cửa hàng siêu thị.  Một tầng lớp cầm quyền thượng lưu đang gia tăng nhanh chóng tỷ lệ thuận với tầng lớp nghèo.

Nhưng nổi bật và gây chú ý quốc tế là tình trạng nhân quyền càng lúc càng tồi tệ tại Việt Nam, gây xúc động lương tri con người.

Chẳng những vi phạm thô bạo về nhân quyền, nhà cầm quyền Hà Nội coi mạng sống công dân nhẹ hơn cỏ rác.  Tính tới thời điểm nầy có đến 24 người bị tra tấn đến chết trong các đồn công an.

Nhà cầm quyền CSVN bắt những nhà tranh đấu, những người bất đồng chính kiến một cách tùy tiện, tùy nhu cầu chính trị để thương thảo phe nhóm, để thương thảo quốc tế.  Coi dân chúng như món hàng trao đổi cho lợi ích chính trị của họ.

Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ bị quản chế kể từ ngày họ chiếm được Miền Nam đến nay, mặc dù vô số tổ chức quốc tế, những cá nhân ưu tú của thế giới yêu cầu trả tự do cho Ngài.  Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn làm ngơ.

Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước toà án, dưới ống kính của truyền thông quốc tế.  Họ không cảm thấy nỗi nhục của chế độ và vị Linh Mục nầy hiện vẫn tiếp tục ở trong nhà tù với tội danh bịa đặt vu vơ mà ai cũng biết.

Tuy chân thành cầu mong cho đồng bào được an khang trong năm 2016, nhưng tôi vẫn biết an khang thế nào được khi người tu hành không được quyền tự do tín ngưỡng.  Tín đồ các tôn giáo vẫn liên tục bị áp chế, tài sản của các tôn giáo vẫn bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chiếm đoạt, tín đồ  bị ngăn cản, đánh đập  khi cử hành tôn giáo của họ.

Không thể có hạnh phúc với những gia đình mà những người con gái phải chấp nhận lấy chồng ở nơi nào mình không hề biết để cứu gia đình trong cơn quẩn bách.  Cả nước hiện có khoảng 600 ngàn phụ nữ lấy chồng ở Đài loan, Đại Hàn, Trung Cộng (theo Tin Tức Pháp Luật do Ngọc Hà và Nguyễn Xoài) mà trong những ngày Tết thiêng liêng không về được để xum họp với cha mẹ gìa cùng bầy em thơ đang mỏi mắt mong chờ.

Hạnh phúc nào đến với người dân oan mà trong ba ngày Tết vẫn lang thang trên công viên, trước cổng dinh thự nguy nga, lộng lẫy của tham quan, cường quyền để đòi lại nhà đất bị họ cướp đoạt.

Làm sao vui xuân khi những bà mẹ có con đang trong nhà tù vì tranh đấu cho quyền công dân, quyền làm người, tranh đấu chống bọn bành trướng Trung Cộng đang từng bước lấn chiếm quê hương mà tiền nhân đã đổ xương máu tạo ra, gìn giữ bao đời.  Con cái đang trong vòng lao tù thì cha mẹ nào có thể vui xuân!

Tết là ngày tang chung cho hầu hết gia đình nạn nhân của Tết Mậu Thân mà người cộng sản vung tay giết gần 6000 người dân vô tội.  Ngày Tết là ngày Giỗ Tập Thể cho những người con xứ Huế.  Và cũng là ngày tang của toàn dân Việt.

Dân Miền Bắc cũng chung niềm đau khi hầu như không có gia đình nào ở miền Bắc không có chồng, con là liệt sĩ.  Những gia đình liệt sĩ nầy đã hy sinh để được gì, ngoài nỗi bất hạnh của nghèo nàn, bất công mà chế độ cộng sản đã đền đáp cho họ. Những biệt thự nguy nga, xe cộ sang trọng của cán bộ cao cấp đảng tạo ra bằng những nắm xương vô định của chồng, con của những người công dân nầy.

Đảng đang tận hưởng sang giàu trên nỗi đau, những mất mát không gì có thể đền bù được của cha mẹ, vợ/chồng, con nạn nhân đã gục chết để làm ra giàu sang cho họ hưởng và họ không buồn đoái hoài tới bà Mẹ Liệt Sĩ đang đói rách đâu đó ở xó hẻm, ven đường hoặc trong những căn nhà tồi tàn ngồi nhìn mảnh bằng Liệt Sĩ với vô vàn đau thương, hối tiếc.

Tôi thương xót những bà Mẹ Việt Nam, những hiền phụ Việt Nam, trong những ngày Tết mà phải tay xách, nách mang vào nhà tù để nuôi đứa con thân yêu, nuôi chồng mình trong tù  chỉ vì họ dám tranh đấu cho quê hương, cho dân tộc nầy.

Tôi thương người Cha Việt Nam, tôi thấu hiểu nỗi đau xót trước sự bất lực của quí vị, khi ngăn giọt lệ tiễn đưa con mình về quê chồng mà nơi nào quí vị không hề biết.

Đồng bào xứ Huế thân yêu, tôi biết những giọt nước mắt rơi âm thầm trong những ngày Tết để đau xót cho cái chết tức tưởi, oan khiêng của thân nhân mình.

Mùa xuân chan hoà nước mắt, nỗi đau của đồng bào nhưng là thời gian đem lại niềm vui, hoan lạc tràn trề, bất tận cho những cán bộ, đảng viên cộng sản đang chia nhau quyền lực để tiếp tục thống trị, bóc lột, chà đạp dân lành.  Mùa xuân là dịp họ tung bạc tỉ ra để ăn nhậu, đãi đằng, với những đêm vui suốt sáng trong nỗi đau của những bà mẹ xa con, vợ xa chồng, cha xa con và của những bà mẹ liệt sĩ rách rưới, nghèo nàn.

Trong lá thư nầy tôi cũng xin chúc đồng bào hải ngoại một năm mới được an khang, thịnh vượng để góp phần vào cuộc tranh đấu cho đồng bào ruột thịt đang bị áp bức nơi quê nhà.  Đừng quên nổi bất hạnh của họ.  Triết gia Karl Marx đã nói: “Chỉ có loài cầm thú mới chỉ lo chăm sóc bộ lông mượt mà của mình, mà quên đi nổi đau của đồng loại”.  Không, chúng ta tuyệt đối không phải loài đó.  Chúng ta thương xót đồng bào bất hạnh nơi quê nhà.  Chúng ta đang tranh đấu và tiếp tục cuộc tranh đấu cho đến khi thành công.

Cùng nỗi đau của đồng bào ba miền Nam, Trung, Bắc, tôi sẽ dùng vị trí thuận lợi ở Thượng Viện Canada để tố cáo và lên án những đàn áp, những bất công, những oan ức của bà con nơi quê nhà và để kêu gọi cộng đồng quốc tế tích cực hơn nữa trong việc tranh đấu đòi lại tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý cho đồng bào.

Trân trọng kính chào đồng bào.P:\Senator Ngo digital signature_black.jpg

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: | Leave a Comment »

Ngày Hội Xuân Bính Thân 2016 tại Boston, 31/1/2016

Posted by Webmaster on February 5, 2016

Mời xem tường thuật và youTube video trên Người Việt Boston

《》DNH_4355-1DNH_4335

 

 

 

《》IMG_6590

《》IMG_6580《》

Ngày Hội Xuân Bính Thân 2016 tại Boston, 31/1/2016 có thể nói là ngày Tết được tham dự đông đảo nhất từ trước đến nay tại Boston với nhiều ngàn lượt đồng hương tham dự. Dưới đây là phóng sự chương trình lễ khai mạc do NguoiVietBoston và Đạt Nguyễn Bridal Video Photography thực hiện.

《》

Video Lễ Cúng Tổ Tiên Ngày Hội Xuân Bính Thân 2016 tại Boston, 31/1/2016 do NguoiVietBoston và Đạt Nguyễn Bridal Video Photography thực hiện.

《》

Video Tiết mục Thi Hoa Hậu trong Ngày Hội Xuân Bính Thân 2016 tại Boston do NguoiVietBoston và Đạt Nguyễn Bridal Video Photography thực hiện.

 

 

Posted in HPNCV/NE, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Sinh hoạt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

40 năm Quốc Hận và Con Đường Tương Lai

Posted by Webmaster on February 4, 2016

 

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh : 

40 năm Quốc Hận và Con Đường Tương Lai.

 

Khoa Hoc Gia Dương Nguỵet Ánh

Ánh xin trân trọng kính chào tất cả quý vị.

Trước hết, Ánh xin chân thành cảm tạ ông Lê Văn Trang, BS Chủ Tịch Đào Bá Ngọc và Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Montreal đã có nhã ý mời Ánh đến đây để gặp gỡ và thưa chuyện với quý vị.  Và quan trọng hơn hết, Ánh xin cảm ơn sự hiện diện của tất cả quý vị hôm nay, nhất là những quý vị ở xa đã phải lái xe nhiều giờ để đến đây.  Chưa sang đến Montreal mà từ mấy tuần trước Ánh đã nhận được nhiều điện thư chào đón ân cần, Ánh xin nhân dịp nầy trân trọng ghi nhận và tri ân những thịnh tình này, và biết là Ánh sẽ còn phải cố gắng thật nhiều nữa thì mới xứng đáng.

Kính thưa quý vị,

Đây là lần đầu tiên mà Ánh tham dự lễ Giỗ Tổ và Quốc Hận được tổ chức chung vào cùng một ngày, và cái buồn lần này cũng vì thế mà thấm thía hơn so với mọi năm.  Vì Ngày Giỗ Tổ là để nhớ ơn dựng nước và mở mang bờ cõi của tiền nhân, mà ngày nay nước thì đang mất dần vào tay Trung Cộng, tài nguyên VN thì đang bị cho không hay sang nhượng với giá rẻ mạt.  Thế hệ hậu sinh như chúng ta thì ngậm ngùi với lễ Quốc Hận, còn những đứa con bất hiếu như Đảng CSVN thì đang mặc sức phung phí và làm băng hoại hết gia tài của mẹ VN.

Bốn mươi năm trước, khi ngồi trên chiếc phi cơ trực thăng bay ra biển Đông trong buổi sáng cuối cùng, dù chưa đủ lớn để hiểu thấu hết cái tai họa to lớn sắp đổ xuống đầu người dân miền Nam nói riêng và cả tổ quốc VN nói chung, nhưng Ánh cũng đã đủ lớn để biết lần ra đi này sẽ là vĩnh biệt.  Vĩnh biệt 15 năm tuổi thơ tự do và bình yên của Ánh trong vòng tay bao bọc của chiến sĩ VNCH,  và vĩnh biệt VNCH.  Cái cảm giác đau đớn nhất lần đầu tiên trong đời là khi đứng nhìn tầu Hải Quân của mình hạ lá cờ của VNCH xuống và thay thế bằng cờ Hoa Kỳ để được phép cặp bến Phi Luật Tân, rồi khóc vì biết mình từ đây là một người vô tổ quốc, rồi lo sợ cho những người còn ở lại, những người đang cố thoát mà không thoát được, thương nhất là những chiến sĩ của mình còn đang cố chiến đấu đến viên đạn sau cùng và thương binh của mình đang còn trong các Quân Y Viện.  Ánh tự hỏi số phận của họ rồi ra sao, ai lo cho họ, và cho vợ con họ.

Bây giờ thì tất cả chúng ta đều biết chuyện gì đã xảy ra cho những người ở lại.  Quân dân miền Nam đã phải chịu đựng một cuộc trả thù tàn bạo nhất, man rợ nhất trong lịch sử dân tộc bởi chính những người đồng chủng, những người từng rêu rao với cả thế giới là họ chiến đấu để giải phóng cho miền Nam. Còn nhớ những ngày sau 30/4/75 Đảng đã tuyên bố là   “Chỉ Có Đế Quốc Mỹ là kẻ chiến bại. Toàn thể nhân dân VN, kể cả những viên chức, binh sĩ miền Nam, đều là những người chiến thắng…” , và “nhân dân miền Bắc chúng tôi, và đồng bào ruột thịt miền Nam sẽ cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam hùng mạnh..”  Đã có nhiều người tưởng rằng Đảng muốn thật tâm “Hòa Hợp Hòa Giải” mà không hiểu rằng đấy chỉ là thủ đoạn của Đảng để lừa cho các nạn nhân ngoan ngoãn hợp tác và không kháng cự nữa. Sau đó trong số “ những đồng bào ruột thịt miền Nam” đã có cả trăm ngàn người bị xử tử ngay lập tức. Mấy triệu người đi tù và trong số đó hơn trăm ngàn người đã chết trong những nhà tù khổ sai được mệnh danh là trại cải tạo.  Lớp không phải đi tù thì bị bóc lột vơ vét đến tận cùng xương tuỷ qua hàng loạt chiến dịch đổi tiền và những trò gian manh khác của chính quyền để cướp tài sản của dân, rồi nhà tan cửa nát, gia đình ly tán, rồi bị đầy đi cái gọi là vùng kinh tế mới, cũng là nơi vùi thây của hàng trăm ngàn người dân vô tội khác.

Còn quân dân miền Bắc thì sao?  Ban đầu họ ngỡ ngàng trước sự trù phú của miền Nam, trước những dấu vết rất hiển nhiên của một nền tự do dân chủ dù chỉ mới được xây dựng trong 20 năm. Một thí dụ là cái tài sản đáng kể về văn chương, thi ca, âm nhạc, nghệ thuật của miền Nam.  Từ ngỡ ngàng họ đi đến tức giận vì nhận ra mình bị lừa, vì đã tin lời Đảng hy sinh xương máu để giải phóng một miền Nam không cần và không muốn giải phóng chút nào.  Tệ hại hơn nữa là khi họ hiểu ra rằng họ đã hy sinh xương máu để ăn cướp miền Nam cho Đảng thì đúng hơn.  Và sau khi ăn cướp được rồi, Đảng chia nhau hết và trở thành giai cấp tư bản Đỏ để phung phí tài nguyên quốc gia và hưởng thụ. Còn những con người ngày trước còng lưng hy sinh cho Đảng đi ăn cướp thì nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, rồi vẫn chung số phận Dân Oan bị cướp đất cướp ruộng y như dân miền Nam.  Bẽ bàng nhất là những kẻ phản bội VNCH, đã từng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản hoặc hăng hái đi theo cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.  Họ tưởng rằng sẽ được Đảng đền ơn trọng hậu, nhưng không ngờ bị Đảng trở mặt phản bội, quyền không được chia mà lợi cũng hụt.  Những tấm bằng ban khen, tuyên dương liệt sĩ gì gì chỉ là mớ giấy lộn.  Khi họ sáng mắt ra thì đã muộn.

Trong khi các quốc gia Á Châu khác như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Mã Lai, v.v.,  dồn mọi nỗ lực xây dựng đất nước, đã đưa đất nước họ lên hàng phú cường chỉ vỏn vẹn trong vài thập niên, thì ngay sau khi chiếm được miền Nam đảng CS đã đưa toàn cõi VN đi thụt lùi lại cả hằng 50 năm.  Còn nhớ sau 30/4/75 những tiện nghi cuả một xã hội tân tiến ở miền Nam như TV, tủ lạnh, điện thoại v.v…biến mất hết. VN là một nước nông nghiệp mà cả nước phải ăn bo bo, khoai sắn độn cơm.  Rồi đảng CSVN lại tiếp tục làm tay sai cho CS Liên Xô gây ra thêm hai cuộc chiến tranh với Campuchia và Trung Cộng, phung phí thêm mấy trăm ngàn sinh mạng thanh niên Việt, tiêu diệt thêm tiềm năng dân tộc. Cũng vì cái chế đó độc ác, man rợ đó mà cả triệu người bỏ nước ra đi bằng cách vượt biên, vượt biển. Theo thống kê cuả Liên Hiệp Quốc thì có khoảng 900 000 thuyền nhân VN đã đến được bến bờ tự do và họ ước tính rằng cứ mỗi một người thoát được thì có 2 người khác đã bỏ mình trên đường tìm tự do, tức là đã có khoảng gần 2 triệu người thiệt mạng.

Đói nghèo và thất học thường dẫn đến suy đồi đạo đức, khi con người tìm mọi cách để thoát ra cái đói nghèo và sẵn sàng trả bằng những giá đắt nhất, nhất là khi cái giàu sang xa xỉ và vô đạo đức của giai cấp lãnh đạo diễn ra nhan nhản trước mặt. Và cái thành phần phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất bao giờ cũng là thành phần ở vào thế yếu nhất, đó là phụ nữ và trẻ em.  Trong lịch sử hơn 4000 năm văn hiến của chúng ta, chưa bao giờ có sự kiện hàng lớp phụ nữ và trẻ em VN bị bán ra nước ngoài để làm nô lệ tình dục, hoặc những cảnh nhục nhã ê chề cuả các thiếu nữ VN khoả thân sắp hàng để cho ngoại kiều lựa như lựa một món hàng.  Đó là chuyện của những người dân VN nghèo khổ.  Chuyện của giai cấp lãnh đạo giàu có thì sao?  Đạo đức của họ còn suy đồi tệ hại hơn. Không có gì xấu hổ, nhục nhã bằng những tấm bảng viết bằng tiếng VN để cảnh cáo không được ăn cắp ở những nước Á Châu có nhiều khách du lịch từ VN.  Nếu đã đủ tiền để đi du lịch thì chắc chắn là không đến nỗi đói nghèo mà phải làm liều.

Vì sao mà ra nông nỗi này?  VN chúng ta đã bao lần bị ngoại bang đô hộ và bóc lột, cả ngàn năm Bắc thuộc tăm tối, cả 80 năm đọa đày dưới tay thực dân Pháp, cả triệu người chết đói vì phát xít Nhật, mà giấy rách vẫn giữ được lề, không bao giờ đi đến sự nhục nhã tột cùng như bây giờ.  VN ngày nay là một quốc gia có chủ quyền, với đảng cầm quyền là người VN, mà tại sao VN lại thụt lùi thảm hại về cả vật chất lẫn tinh thần như thế, tại sao phụ nữ VN và trẻ em VN lại bị đẩy vào bước đường cùng như thế, tại sao tình trạng VN lại tồi tệ hơn cả khi bị ngoại bang đô hộ và một trời một vực so với thời VN từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông?

Câu trả lời là vì trong suốt 40 năm qua chính quyền CS không hề có một nỗ lực nào để xây dựng đất nước, không hề có một quan tâm nào đến phúc lợi của người dân nên mới ra nông nỗi này. Họ có thật sự là người VN không mà sao hành xử y như thực dân ngoại bang, chỉ lo vơ vét thật nhiều và thật nhanh mọi tài nguyên quốc gia, bất chấp những mối đại họa đường dài như tàn phá môi sinh, đốn rừng, chặt gỗ quý, tàn phá di tích lịch sử, v.v… Không chăm lo cho dân thì chớ, họ tán tận lương tâm đến nỗi công nhân VN xuất cảnh lao động bị chủ ngoại quốc đánh đập chạy đến cầu cứu mà tòa đại sứ làm ngơ không can thiệp, ngư dân VN bi tầu Trung Cộng hà hiếp ngay trong hải phận VN mà họ không phản ứng.

Và cái tội tầy đình nhất của Đảng CSVN ngày nay là vì tham vì hèn mà dâng đất dâng biển cho Trung Cộng để dựa vào Trung Cộng mà củng cố quyền lực.  Ít nhất 720 cây số vuông biên giới VN, kể cả Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc và 10000 cây số vuông biển VN gồm cả quyền khai thác hải sản đã nằm gọn trong tay Trung Cộng mà chúng không hề phải tốn một viên đạn.  Chưa kể đến việc cho Trung Cộng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên và cho Trung Cộng thuê 300,000 mẫu rừng ở 6 tỉnh miền Bắc 50 năm.  Trung Cộng tha hồ di dân và đem quân đội của chúng vào những vùng này đóng chốt sẵn. Sau này nếu có xẩy ra chiến tranh Trung-Việt thì địch đã ở sẵn ngay trong lòng ta rồi, lại càng khó mà đánh bật được chúng.

Bán nước, phá hoại tài nguyên quốc gia, dập tắt tinh thần ái quốc và niềm tự hào dân tộc, bóc lột, đàn áp, khủng bố dân. Một chính quyền thực dân đỏ, một đảng lãnh đạo bất nhân bất nghĩa như thế là đại hoạ cho tổ quốc Việt Nam thì người Việt quốc gia hải ngoại không thể nào hợp tác hay hòa hợp hòa giải gì với họ được. Nhân đây, xin một lần nữa nhắc nhở những ai đã, đang hoặc có ý định hợp tác với chính quyền CS, về cái bản chất phản bội, dối trá và lừa lọc của Đảng CSVN. Cả miền Bắc đã bị lừa, đã không thiếu gì những bài viết chửi Đảng của những cựu đảng viên hay cựu cán bộ vì uất ức. Cả miền Nam đã bị lừa khi Đảng giả vờ hòa hợp hòa giải chỉ để dễ bề thẳng tay tàn sát trả thù và dễ dàng lùa cả triệu quân cán chính miền Nam vào nhà tù mà ai cũng tưởng chỉ là đi học tập vài ngày rồi về.  Cả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị lừa.  Đây là những kẻ nai lưng hy sinh xương máu cho Đảng rồi bị Đảng trở mặt phản bội sau khi xong việc. Vậy thì huống gì là người Việt hải ngoại, thành phần đã từng bị Đảng nhục mạ vu khống là một lũ ma cô đĩ điếm tội phạm nên mới bỏ nước ra đi.  Ngày nay Đảng đổi giọng quỷ quyệt gọi chúng ta là những khúc ruột ngàn dặm vì muốn biến chúng ta thành những con bò ngây thơ để cho Đảng vắt sữa. Đảng hô hào hòa hợp hòa giải để chúng ta tự nguyện làm tay sai không công giúp Đảng thi hành nghị quyết 36. Đảng dựng lên những lãnh tụ đối lập ma để sau nầy diễn kịch “VN có đa đảng” hầu che mắt thế giới, để mượn tay những kẻ nhẹ dạ thi hành âm mưu của đảng.  Sau khi Đảng xong việc, đạt được mục đích, thì cái bản chất phản bội lừa lọc mới lộ ra và quý vị đó cũng sẽ là những cái vỏ chanh tội nghiệp mà Đảng sẽ không ngần ngại vứt bỏ sau khi vắt hết nước.

Vừa rồi chúng ta đã ôn lại câu chuyện tang thương của những người ở lại và quê hương bỏ lại.  Còn chuyện của những người ra đi?

Trước hết, xin thành kính đốt nén hương lòng cho những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do, những người đã chọn thà chết còn hơn sống mà như chết. Còn chúng ta, từ những người tị nạn thất thểu không nhà và vô tổ quốc năm xưa chúng ta đã trở thành công dân đầy tự tin của những quốc gia tự do dân chủ bậc nhất trên thế giới. Chúng ta đã nhanh chóng khắc phục được những khó khăn kinh tế ban đầu và dựng lên những cộng đồng vững mạnh, những khu thương mại trù phú, các công ty lớn nhỏ đầy dẫy, do người Việt làm chủ. Chúng ta thành công trong mọi ngành, từ quân sự đến khoa học kỹ thuật, văn chương nghệ thuật, từ Luật Nha Y Dược đến Thẩm Mỹ, Thời trang.  Con em chúng ta đang sắp hạng đầu ở mọi cấp lớp, từ mẫu giáo đến đại học. Trong lúc người VN trong nước đi ra ngoại quốc thì tủi hổ vì bị cảnh cáo không được ăn cắp, thì chúng ta, những người Gia Nã Đại gốc Việt, người Úc gốc Việt, người Mỹ gốc Việt, v.v… đi đến đâu cũng được khen phục vì những thành quả và đóng góp không nhỏ cho quê hương mới. Sự kiện này chúng minh hùng hồn rằng nếu những người Việt trong nước có điều kiện và cơ hội như người Việt hải ngoại thì họ cũng sẽ xây dựng được một đời sống no ấm và một quốc gia phú cường. Do đó, chính Đảng CS và bè lũ thực dân Đỏ đang cai trị VN là cái lý do ngăn chặn điều kiện phát triển đất nước và hạnh phúc cho dân tộc VN.

Suốt 40 năm qua người Việt hải ngoại không chỉ lo làm lại cuộc đời trên quê hương mới.  Song song với việc đó chúng ta vẫn nêu cao chính nghĩa quốc gia, vẫn tranh đấu không ngừng nghỉ cho 80 triệu đồng bào trong nước, đồng thời gắt gao lên án những tội tày trời của CSVN đối với quốc gia dân tộc. Ánh xin được liệt kê một vài thí dụ.

Chẳng hạn như cuối thập niên 70, đa số người tị nạn còn đang chân ướt chân ráo cố hội nhập vào đời sống mới, người thì làm 2,3 jobs một lúc để dành dụm gửi tiền về VN, người thì học ngày học đêm để bắt kịp bạn đồng lớp, nhưng chúng ta vẫn bỏ giờ làm giờ học để  di biểu tình tranh đấu cho thuyền nhân VN không bị đẩy trở ra biển, tổ cáo hải tặc đang giết người cướp của trên biển Đông, và kêu cứu với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.  Ánh nhớ hồi đó bố mẹ Ánh rất khó, muốn xin đi đâu không phải dễ. Vậy mà Ánh xin đi tuyệt thực trước tòa Đại Sứ Mã Lai hay vắng nhà cả đêm 30 tháng 4 để làm Đêm Không Ngủ Tưởng Nhớ Quê Hương thì hai cụ cho con gái đi ngay mà không hề thắc mắc.

Một thí dụ nữa là việc tranh đấu cho những cựu tù cộng sản  được đến Hoa Kỳ trong chiến dịch nhân đạo mà bên Mỹ vẫn gọi tắt là HO. Người có sáng kiến và có công đầu là bà Khúc Minh Thơ.  Nếu không có chiến dịch HO thì con số những người tù chết trong vòng vài năm sau khi được thả sẽ còn cao hơn nữa, vì ở trong tù bị hành hạ đánh đập, bị bắt làm việc khổ sai và đói ăn triền miên thì thể lực hao mòn, nhiều khi lê về được với gia đình nhưng trong người mang cả trăm thứ bệnh.

Một thí dụ nữa là chuyện treo cờ vàng.  40 năm trước đã có nhiều hội đoàn không treo và chào cờ vàng trong các buổi sinh hoạt của người Việt ở hải ngoại, vì họ chủ trương phi chính trị. Chúng ta đã phải mất rất nhiều tâm huyết  mới thuyết phục được họ treo và chào cờ vàng. Rồi so với hôm nay không những mình đã thuyết phục được mình mà còn thuyết phục được người.  Ánh muốn nói đến sự kiện những thành phố và Tiểu Bang Hoa Kỳ có đông người Việt cư ngụ đã lần lượt công nhận cờ vàng là biểu tượng của người Mỹ gốc Việt. Nhờ vậy lá cờ thân yêu của chúng ta đang được tung bay hiên ngang ở khắp hải ngoại mà tòa các tòa Đại Sứ CS không làm gì được. Quả là cộng đồng người Việt quốc gia chúng ta đã tiến được một bước rất dài. Và một trong những người có công đầu trong cuộc vận động kiên quyết này là chị Lữ Anh Thư, một người bạn thân và đồng chí của Ánh. Một lát nữa, chị Anh Thư sẽ giúp bổ túc thêm về những thành quả của người trẻ hải ngoại trong 40 năm qua.

Một thành quả quan trọng khác là công tác trả ơn chiến sĩ.  Không đâu là không có những nỗ lực gây quỹ giúp thương phế binh và cô nhi quả phụ của tử sĩ VNCH. Cộng đồng nhỏ thì làm nhỏ, cộng đồng lớn thì làm lớn. Ở những nơi đông người Việt sinh sống như California bên Mỹ thì hàng năm vẫn có đại nhạc hội Cám Ơn Anh quy tụ hàng trăm nghệ sĩ trình diễn ngoài trời suốt từ trưa đến tối bán được cả trên 10 ngàn vé và số tiền đóng góp bao giờ cũng lên trên nửa triệu đô la.

Nãy giờ chúng ta đã ôn lại hai câu chuyện, câu chuyện tang thương của những người ở lại và câu chuyện đầy tự hào của những người ra đi.  Trong bối cảnh này, câu hỏi lớn nhất là người Việt hải ngoại cần phải làm gì cho tương lai dân tộc.  Mà tương lai của một dân tộc thì luôn luôn nằm trong tay những người trẻ.  Vậy câu hỏi chính xác hơn là chúng ta cần làm gì để khuyến khích tuổi trẻ hải ngoại tiếp tay với những người trẻ trong nước bảo vệ quê hương và tiếp tục tranh đấu cho tự do nhân quyền. Thật vậy, ngoài việc giúp con em chuẩn bị cho tương lai cá nhân, phụ huynh chúng ta còn cần giúp đào tạo một thế hệ mới cho tương lai dân tộc Việt Nam.

Việc làm này có viển vông không, khi mà VN đang sắp sửa mất nước vào tay Trung Cộng đến nơi rồi.  Thưa câu trả lời là không viển vông. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, VN đã từng bị Tàu đô hộ cả ngàn năm mà hàng mấy mươi thế hệ người VN từ đời này sang đời khác vẫn nuôi dưỡng được lòng ái quốc bền bỉ và ý chí quật cường đề cuối cùng dành lại độc lập. Đó là vì cha ông ta đã nỗ lực gìn giữ cái tinh thần dân tộc cho con cháu.  Nhờ đó, ta luôn ý thức được mình là người Việt và tự hào mình là người Việt, dù nền văn minh của ta có bị kẻ thống trị cướp nhận là của họ, dù lịch sử của ta có bị bôi xoá hay xuyên tạc, và văn hoá của ta bị pha loãng đi để tiêu diệt niềm tự hào dân tộc của ta và đồng hoá ta thành người Tàu. Soi tấm gương này của cha ông, ngày nào chúng ta còn nỗ lực hun đúc tinh thần dân tộc cho con cháu thì nhất định ta không sợ mất nước, và dẫu có mất thì cũng sẽ dành lại được khi thời cơ thuận tiện.

Nếu câu hỏi là đối với tuổi trẻ VN ở hải ngoại, nỗ lực hun đúc tinh thần dân tộc này có thực tế không khi con em chúng ta sinh ra và lớn lên ở đây, thì xin thưa câu trả lời là khó nhưng không phải không làm được.  Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta đã phải hàng hàng lớp lớp bỏ quê hương ra đi vì không chấp nhận cộng sản.  Nhưng chúng ta không phải là dân tộc duy nhất đang trải rộng trong thế giới tự do.  Hãy lấy một thí dụ là người Do Thái.  Họ đã tha phương đi khắp nơi mà vẫn không mất hồn Do Thái, và cuối cùng đã làm được cái chuyện không tưởng là vận động cả thế giới cho họ lập quốc.  Ngày nay, họ đang lợi dụng vị thế chính trị và kinh tế của họ ở những nước bên ngoài để hỗ trợ đắc lực cho người dân bên trong nước Do Thái được tự do và trường tồn.  Nếu người Do Thái làm được thì sao ta không làm được.  Nếu thế hệ con em chúng ta trở thành những nhà chính trị kinh tế thương gia chuyên viên lỗi lạc, nắm những cơ phận then chốt trong guồng máy các quốc gia lớn trên thế giới, nhưng luôn giữ được tinh thần VN thì dù sinh ra và lớn lên ở bất cứ đâu, họ vẫn sẽ có những quan tâm tự nhiên cho đất nước và dân tộc VN.

Nhân dịp này Ánh cũng xin bày tỏ mối lo ngại rất lớn không phải của riêng Ánh mà của tất cả chúng ta trước sự phá sản tinh thần VN đang diễn ra trong nước.  Chúng ta là một dân tộc với cả một lịch sử kiêu hùng và một nền văn minh phong phú, từ trống đồng cho đến phong tục thờ cúng tổ tiên và những sinh hoạt tự trị nơi làng xã ngay cả dưới thời phong kiến.  Ngày nay vì muốn lấy lòng Trung Cộng, nhà nước CS đang lặng lẽ bôi xóa đi những trang sử chống Bắc xâm lẫm liệt của ta.  Mới năm ngoái, chúng ra chỉ thị bãi bỏ những ngày kỷ niệm quan trọng như kỷ niệm Trưng Vương ở cấp quốc gia mà chỉ cho làm ở địa phương nơi có đền thờ hai bà thôi.  Nguy hiểm hơn là luận điệu văn hóa của ta là toàn vay mượn từ Trung Hoa, và tinh thần vọng ngoại, ưa chuộng tất cả những gì của người và chê bai của mình.  Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước khi chúng ta tự đánh mất đi hồn nước.  Còn đất còn biển mà mất văn hóa, mất lịch sử, mất đi từ hào dân tộc, rồi thay vào là tinh thần nô lệ, Hán hoá thì có khác gì đã mất nước rồi.  Nếu ta không giữ được quê hương ở trong chúng ta thì làm sao giữ được quê hương bên ngoài?

Trong tình huống này, nhu cầu giáo dục tuổi trẻ VN để huy động niềm tự hào dân tộc trở thành cấp thiết. Bước đầu tiên là dậy cho con em một hiểu biết tường tận và chính xác về lịch sử VN, và những anh hùng, anh thư của dân tộc.  Điều khó khăn là phụ huynh chúng ta không có tài liệu sẵn sàng cho mục đích này.  Hơn nữa, nếu muốn nhắm vào giới trẻ hải ngoại, chúng ta cần phải soạn thảo những tài liệu này bằng anh ngữ, pháp ngữ v.vv…  Muốn gây được phong trào học sử trong giới trẻ, chúng ta cần có những bài viết ngắn, gọn để tóm lược những mốc lịch sử quan trọng đồng thời xoáy vào những giai đoạn lịch sử oai hùng nhất và đề cập thật nhiều đến những người trẻ hào hùng VN qua bao thời đại. Khi nói về họ, ta cần nhấn mạnh đến tuổi tác và thân thế của họ, thí dụ như Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản mới 16 tuổi đã tự điều khiển một đạo quân chống giặc Mông Cổ và lập bao chiến công lừng lẫy, Lý Đông A mới 15 tuổi đã theo nhà cách mạng Phan Bội Châu và 22 tuổi đã thành lập và làm tổng thư ký Đại Việt Duy Dân Cách Mệnh Đảng để đấu tranh chống Pháp. Trương Tử Anh thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng lúc chỉ mới 25 tuổi.  Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng ở tuổi 25.

Song song với việc dạy sử, chúng ta cần trang bị cho con em những hiểu biết căn bản về văn hóa của người VN, nhất là những văn hóa cổ, đặc thù của ta.  Mình phải biết rõ cái gì của mình, nhất là những cái hay, cái đẹp của mình trước khi để ý học hỏi và so sánh với những cái hay cái đẹp của người.  Có như vậy mình sẽ có những chọn lựa khôn ngoan để cầu tiến nhưng vẫn giữ được bản sắc và niềm tự hào dân tộc.  Có như vậy thì không sợ Hán hoá, sợ mất đi hồn VN. Có như vậy thì mới giữ vững được cái VN bên trong chúng ta để bảo vệ cái VN bên ngoài.

Thế hệ tị nạn và di dân đầu tiên bao giờ cũng phải lo chuyện cơm áo và ổn định đời sống.  Nay chúng ta đã xong bước đầu và đã thiết lập được những cộng đồng Việt trù phú ở nhiều quốc gia tân tiến.  Con em chúng ta đang sắp hạng đầu ở học đường và đang thăng tiến rất nhanh trong nghề nghiệp.  Đây là lúc chúng ta cần thực hiện bước kế tiếp là đẩy mạnh tuổi trẻ VN vào tiến trình khôi phục và phát huy tinh thần dân tộc.  Nói một cách khác là sau khi phải bỏ quê hương ra đi nay ta đã hoàn hồn, bây giờ thì ta cần lo đến bước kế tiếp là giữ hồn, nhất là trước tình huống VN hiện nay.  Ánh xin trân trọng kêu gọi sự chung sức của những vị học giả, sử gia trong và ngoài nước cho vấn để cấp thiết nầy.  Chúng ta có rất nhiều hội đoàn đa số cho mục đích ái hữu, tương tế, và từ thiện.  Đây là lúc chúng ta cần cho mọc lên như nấm những hội nghiên cứu về sử, về nguồn gốc, văn hóa, và phong tục VN.

Những lời nói sau cùng xin được dành cho những người trẻ VN và xin mượn tựa đề của một tác phẩm của cố văn sĩ Duyên Anh có tên là “Mơ Thành Người Quang Trung”, một trong những anh hùng chống Bắc xâm vĩ đại nhất của lịch sử VN.  Vâng, tất cả chúng ta xin hãy mơ thành người Quang Trung, và xin hãy là người Quang Trung.

Dương Nguyệt Ánh – 5/2015

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Thư Nhà Cuối Năm

Posted by Webmaster on February 4, 2016

 

Thu nha cuoi nam

Nhận được thư nhà ngày giáp tết
Nhắc lại mùa xuân của thuở nào
Tiếng pháo đì đùng vang cuối xóm
Mẹ ngồi gói bánh bếp reo vui

Đèn dầu thắp sáng tràn ra ngõ
Có tiếng cười vui rộn góc nhà
Con mực vẫy đuôi mừng lũ trẻ
Thơm mùi long nảo áo quần khoe

Cha ngồi chăm chút mâm ngũ quả
Bên chậu mai vàng nức nở hoa
Đất trời ngây ngất say hương tết
Nghe thoảng bên tai tiếng chúc mừng

Chị bên bếp lửa hồng đôi má
Canh nồi bánh tét đón mừng xuân
Biết anh chinh chiến chưa về được
Đành nén vào lòng những ước mơ..

Giao thừa pháo nổ vang trời đất
Bến Hải nhìn ra Bắc ngậm ngùi
Cà Mau say khước men nồng ấm
Thanh bình trẩy hội rộn muôn nơi

Chỉ bấy nhiêu thôi… đủ ấm lòng
Miền Nam ngày ấy của tôi đâu?
Chủ nghĩa vô thần hang Pắc bó
Dìm cả non sông dưới háng Tàu!

Ba Bụi – Dân Làm Báo.

 

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Thơ | Tagged: , | Leave a Comment »

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

Posted by Webmaster on February 1, 2016

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Vương Trí Nhàn

Tác giả:  Tưởng Năng Tiến

Thi sĩ Dương Tường vừa viết thư (“Gửi Bạn Ở Cõi-Bên-Kia”) nhân ngày giỗ đầu – ngày 18 tháng 12 năm 2015 – của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

Đường Văn CaoThế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây…

 

Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán? Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước …

Đại lộ Phạm Hùng. Ảnh:TOITHICHDOC.BLOGSPOTBức thư thượng dẫn làm tôi nhớ đến những mẩu đối thoại (tưởng tượng) khác, cũng của người ở cõi dương với bạn bè ở bên kia thế giới:

Tôi thỉnh thoảng dạo phố vẫn hay dừng lại nhìn lên một tên phố mà chuyện trò lặng lẽ với con người ngồi ở trên cái bảng sắt tây dó. Để nghe anh ta giãi bày. Và cũng để anh ta đừng tưởng bở.

Thí dụ Văn Cao, ngày hai lượt ra trung tâm thành phố và về Cầu Giấy, tôi từng có lần hỏi anh: Cậu khỏe không? … Bây giờ ở trên cao này có thấy sao không?” Thì Văn Cao bảo tôi:“Tao làm nhạc, làm thơ, vẽ, ai hay nay làm diễn viên lên sân khấu đóng vai kịch ca ngợi đảng trọng hiền tài. Mày với tao sống trong cái chăn toàn rận này, mày lạ đ. gì nữa.

Hôm nọ thằng Dương Bích Liên nó lui lủi đi dưới kia, đầu chúi chúi, hai tay đút túi quần. Tự nhiên nó nhìn lên hỏi, mày lại cam ra làm bù nhìn bịp cho cái chính sách yêu vớt trí thức ư?Thế là tao rơi đánh xoáng một cái xuống. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh: triviet24h

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh: triviet24h

Tôi thì trộm nghĩ rằng những con phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu (e) chả phải là vở kịch “đảng trọng hiền tài” hay “chính sách yêu vớt trí thức” – như cách dụng ngữ của nhà văn Trần Đĩnh đâu. Những người cộng sản Việt Nam có đời nào mà tử tế dữ vậy. Họ cũng chưa bao giờ qúi trọng hay yêu thương gì giới trí thức cả, “giả trọng” hay “yêu vớt” cũng không luôn.

Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt, và nói theo lối thường dân (Nam Bộ) thì đây chẳng qua chỉ là “chính sách ăn theo” hoặc “chiến thuật dựa hơi” của Đảng mà thôi.

Kiểu chơi láu cá chó này ai cũng biết, đâu có xa lạ và mới mẻ gì. Tạp chí Khởi Hành số phát hành tháng 8 năm 99 – từ California – đã có bài viết (“Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”) của Thạc Sĩ Trần Anh Tuấn, về mấy cái mánh (lặt vặt) như thế tự lâu rồi.

Một phần của bài viết, Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một – do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập – nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ghi nhận và phân tích như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.

Nhạc sĩ Tô Hải mô tả đây là “cái trò nhố nhăng định khoanh vùng lịch sử chỉ còn ở cái ‘thời rực rỡ nhất’ là do Đảng họ lãnh đạo thôi,” chứ CS chả có lòng “yêu vội” hay “yêu vớt” gì Trần Ðức Thảo, Ðào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… cả. Họ chỉ “dựa hơi” những nhân vật trí thức này để mở đường cho cái đám thất phu (cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh …) được dịp “quá giang” hay “đi ké” vào lịch sử – như những gương mặt trí thức – Việt Nam.

Tương tự, những con đường mang tên Nguyễn Chí Thanh,Xuân Thủy, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn … sẽ bớt dơ dáng và dị hợm (phần nào) khi được đặt cùng với mấy tên phố tử tế và đàng đàng hoàng khác: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Làm thế coi cho đỡ chướng, và ngó cũng dễ “nuốt” hơn. Trông cũng giống như mấy lát mì cõng cơm (ăn độn) vậy mà!

Tôi còn sợ rằng giấc mơ của Dương Tường (dám) lại là ác mộng của Bùi Ngọc Tấn nữa chớ. Thưở sinh thời, đã biết bao lần nhà văn của chúng tatừng phải sống qua những ngày tháng hốt hoảng và tuyệt vọng:

… bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’…. Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. …Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa… có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

“Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Ðã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Ðời này sang đời khác.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương. Fallchurch, VA: 2014).

Cho mãi đến khi từ giã cõi đời, Bùi Ngọc Tấn mới hết bị “theo dõi” và mới hoàn toàn thoát khỏi “cái cảm giác như một con thú bị nhốt trong chuồng.” Thế mà cái “con thú” này bất ngờ lại được lên tên đường, và cận kề với toàn danh nhân (của ngành công an) những nhân vật “toàn quyền làm những việc họ thích” và có thể “huy động cả guồng máy khổng lồ để hại” người cỡ như Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng … thì rõ ràng là một chuyện rất … hãi hùng – một cơn ác mộng – chớ còn gì nữa? Không khéo Bùi Ngọc Tấn lại “rơi đánh xoáng một cái” như không!

Tương tự, tôi e rằng Văn Cao cũng không cảm thấy vinh dự hay hạnh phúc gì cho lắm (sau một kiếp “sống trong mộtcái chăn toàn rận”) khi ông bị đặt nằm giữa những con phố đầy rẫy bất trắc và tệ đoan xã hội:

– “Quét Gái Mãi Dâm Trên Đường Nguyễn Chí Thanh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Đột Nhập Động Mãi Dâm Trên Đường Phạm Văn Đồng” – báo Người Đưa Tin

– “Bắt Kẻ Giao Hàng Trắng Dọc Đường Trường Chinh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Trộm Vàng Táo Tợn Trên Đường Xuân Thuỷ” – báo VietNamNet

– “Phóng Viên Truy Đuổi Đối Tượng Trộm Cắp Trên Đường Phạm Hùng” – báo An Ninh Thủ Đô

-“Dàn Cảnh Cướp Xe Trên Đường Hồ Chí Minh” – báo Dân Trí

-“Xe Buýt Lại Tông Người Trên Đường Lê Duẩn” – báo Người Lao Động

– “Xuất Hiện Hố Tử Thần Trên Đường Trần Quốc Hoàn” – báo Lao Động

-“Tảng Đá Chục Tấn Rơi Trên Đại Lộ Nguyễn Tất Thành” –Báo Mới

– “Ôtô Điên Trên Đường Tôn Đức Thắng” – Báo Mới

-“Đột Kích Hàng Loạt Tụ Điểm Mát Xa Kích Dục Trên Đường Nguyễn Duy Trinh” – Báo Vnexpress.

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài những tội ác vô phương chối cãi – người Pháp cũng đã để lại cho xứ sở này những thành quả hiển nhiên, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, kiến trúc… Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng là “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.”

Sau đó, dân Việt bị còng tay (chặt hơn) bởi những người cộng sản rồi buộc phải… đi lùi! Đó là lý do tại sao trước khi được “vinh hạnh” mang tên “những vị anh hùng cách mạng,” phố phường Hà Nội (nói riêng) và của cả nước (nói chung) sạch sẽ và an lành hơn hiện cảnh rất nhiều.

Điều phiền phức và rắc rối hiện nay là dân Việt không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Họ đã bị đẩy đến tận chân tường rồi. Bởi thế, những người cộng sản khó mà có thể tiếp tục giữ được quyền bính trong những ngày tháng tới.

Khác với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản khi sụp đổ không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và vô số những con đường (cũng như những ngôi trường, những cơ quan, dinh thự …) buộc phải thay tên!

Đến lúc đó, có lẽ, vẫn chưa muộn để “Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán … Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn” – như giấc mơ của Dương Tường.

© Đàn Chim Việt

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Năng Tiến, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »