Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for February, 2015

Thành Kính Phân Ưu

Posted by Webmaster on February 26, 2015

 

hoa-funeral

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England đau buồn được tin
Thân Mẫu của Hôị Viên HPNCV/NE Bà Nguyễn Kim Anh:

Cụ Bà Nguyễn Thi ̣Em

Sinh năm Kỷ Mão.

Vừa từ trần ngày 21 tháng 2 năm 2015, nhằm ngày mùng 3 tháng Giêng
năm Ất Mùi, tại Hóc Môn thuộc ngoại thành Sài Gòn, hưởng thọ 77 tuổi.

Toàn thể thành viên Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England xin được chia buồn cùng Ông Bà Nguyễn Minh-Thi & Nguyễn Kim Anh,  cùng tang quyến.

Nguyện cầu Hương Linh Cụ Bà Nguyễn Thị Em bình an  nơi Cõi Phật.

Thành Kính Phân Ưu

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Posted in HPNCV/NE, Phân Ưu | Leave a Comment »

Thạnh Hóa, Long An: Dân Oan Mất Đất Biểu Tình

Posted by Webmaster on February 12, 2015

Công an huyện Thạnh Hóa Long An đàn áp dân cướp đất vào 22 tháng chạp năm Giáp Ngọ tức ngày 10/02/2015 vừa hôm qua.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , , | Leave a Comment »

Giọt Máu Rơi Của Người Lính Chết Trẻ

Posted by Webmaster on February 12, 2015

Thứ Tư, 14 tháng Giêng năm 2015 19:12
Tác Giả: Phùng Annie Kim

truc_thangVới 14 bài viết trong năm, trong đó có bài “Chú Lính Mỹ” tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà là một nhà giáo, định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1991, hiện là cư dân Westminster, California. Bài viết mới nhất của Phùng Annie Kim là câu chuyện hơn 40 năm sau của chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi trong cuộc hành quân Hạ Lào năm 1971. Sự việc, khung cảnh  chuyện kể là có thật nhưng danh tính nhân vật trong truyện do tác giả hư cấu.

1.
Bà Tư nằm trăn trở hoài trên chiếc giường nệm thấp. Chăn êm nệm ấm, thân thể mát mẻ, thoải mái mà bà vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Với cái tuổi tám mươi này, đôi khi bà hay quên những chuyện lặt vặt vừa mới xảy ra như ăn rồi mà nhất định bảo chưa ăn, chưa uống thuốc mà quyết liệt không chịu uống nữa, chưa đi tắm mà bảo vừa tắm xong.Thế mà sáng nay, có một chuyện bà không quên. Quyền, con trai bà cho biết Sơn, thằng cháu nội bên Minnesota gọi phone về báo tin sẽ về Cali thăm bà vào dịp lễ Giáng sinh.

Cả ngày nay, bà nôn nóng, cứ đi ra rồi lại đi vào. Bà cầm quyển lịch trong tay đếm từng ngày. Còn hơn một tháng nữa. Sao mà lâu quá! Bà bảo Quyền và Quyên phải dọn cái này, dẹp cái kia, sửa soạn nhà cửa để đón thằng nhỏ. Đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Dự Luật “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” tại Hạ Viện Canada

Posted by Webmaster on February 11, 2015

Posted on February 9 2015 Trà Mi dịch – Đàn Chim Việt.
OTTAWA (05/02/2015) | Sau khi được Thượng viện Canada thông qua ngày 8 tháng 12, Dự luật S-219 “Ngày Hành trình tìm thuyennhan-100x100Tự do” đã được đưa ra trước Hạ viện lần thứ nhất vào ngày 10 tháng 12, 2014. Chiều thứ Năm, 5 tháng Hai, 2015 lần thứ nhì dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do” được đưa ra thảo luận ở Hạ Viện Quốc hội Canada.
Trong buổi thảo luận và tranh luận dài 60 phút này, 6 dân biểu của ba đảng Bảo thủ Cấp tiến (CPC), đảng Tân Dân chủ (NDP), và đảng Tự do (Lib.) đã lần lượt phát biểu. Sau đây là một số trích đoạn của cuộc thảo luận về dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do”.
Một cuộc sống không có tự do thì không còn gì là cuộc sống nữa
Dân biểu Mark Adler. Nguôn: TheStar.com
Dân biểu Mark Adler. Nguôn: TheStar.com
Mở đầu cuộc thảo luận dân biểu Mark Adler (CPC, York Center), người cùng đỡ đầu Dự luật S-219 tại Hạ viện, ngược dòng lịch lịch sử, sơ lược lại nguyên nhân của sự kiện thuyền nhân, cùng sự đồng loạt của toàn dân và chính phủ Canada lúc đó cùng đứng lên đối phó với cuộc khủng hoảng nhân đạo, mở rộng vòng tay đón nhận nhữn người tị nạn cộng sản đang đi tìm tự do, ông nói
“… ngày 30 tháng Tư năm 1975, chiến tranh Việt Nam kết thúc. Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam, rơi vào tay đoàn quân xâm lược Cộng sản phía bắc, nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đó. 30 Tháng 4 năm 1975 là ngày bắt đầu một chương mới trong đời sống của người dân miền Nam Việt Nam.”
[…]
“Dự luật này là biểu tượng của một truyền thống lâu đời của Canada như một ngọn hải đăng của tự do và dân chủ, một quốc gia đã hào hiệp đón nhận những người tị nạn, những người vô tội buộc lòng phải phải rời bỏ quê hương.”
[…]
“ Dự luật này cũng sẽ cho chúng ta một cơ hội tuyệt vời để suy nghĩ về những ưu điểm và sự đa dạng mà cộng đồng người Việt Nam đã mang lại cho đất nước và để cảm ơn họ đã góp phần vào nền văn hóa đa nguyên của chúng ta. Tất cả chúng ta có thể học được đôi điều từ những người tị nạn, những người sẵn sàng mạo hiểm hy sinh tất cả để được sống trong tự do, vì một cuộc sống không có tự do thì không còn gì là cuộc sống nữa.
Tôi là một người Canada thế hệ thứ nhất, và dự luật này đã khiến tôi suy tư về kinh nghiệm của riêng mình, là con của một người sống sót sau Holocaust; cha tôi đến Canada không có gì hơn một mảnh áo trên lưng, với một hàng số xăm trên cánh tay, nhưng quan trọng nhất là niềm hy vọng trong trái tim mình. Đối với rất nhiều người tị nạn đến Canada, giống như những người sống sót sau Holocaust, những thuyền nhân Việt Nam, các Kitô hữu bị bách hại và người Yazidis ở miền bắc Iraq và Syria, và rất nhiều người khác, mỗi người trong số họ đã có quyền quay lưng lại với nhân loại, nhưng họ không làm như vậy. Họ đã đến Canada để tìm hy vọng, hy vọng cho chính họ, đúng thế, nhưng quan trọng hơn, hy vọng cho con cái của họ để chúng không bị buộc phải sống dưới ách áp bức, khủng bố. Họ đã đến Canada vì Canada là một mốc hiệu ánh sáng của thế giới, một quốc gia đứng trong thế mạnh, hãnh diện, tôn trọng những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, và chế độ pháp trị.”
Đối thoại và hàn gắn trước, sau cùng mới có thể nhìn về tương lai
Dân biểu Anne_Minh-Thu_Quach Beauharnois-Salaberry). Nguồn: INFOSuroit
Dân biểu NDP Anne Minh-Thu Quach Beauharnois-Salaberry). Nguồn: INFOSuroit.com
Sau đó là phát biểu của dân biểu đảng Tân Dân chủ Anne Minh-Thu Quach (Beauharnois—Salaberry, NDP), bà nói,
[…]
“Đôi khi chúng ta quên mất ý nghĩa thực sự của cuộc sống ở đây trong một xã hội dân chủ nơi mà người công dân có thể lựa chọn đại biểu Quốc hội của họ, và cả hai, người dân và người được dân cử, đều có thể an toàn thực thi quyền tự do ngôn luận. Hầu hết dân số trên thế giới không thể thực thi được cái quyền cơ bản đó.
Nếu hôm nay tôi có thể đứng đây là một dân biểu Quốc hội và nói chuyện tại Hạ viện là nhờ bố mẹ tôi đã chạy trốn khỏi Việt Nam và đã tìm được nơi nương náu ở đây, tại Canada, để bắt đầu xây dựng gia đình, sống trong thanh bình, và làm việc nuôi thân.
Bản thân tôi, Anne Minh-Thu Quach, sinh ra ở và lớn lên ở Canada, và cũng nhờ sự dũng cảm của cha mẹ tôi và sự đón nhận của Canada nên hôm nay tôi mới có thể tham gia vào đời sống dân chủ của đất nước này.”
[…]
“Tôi may mắn đã được đi Việt Nam để thăm hỏi gia đình của tôi và tìm hiểu vùng đất của tổ tiên tôi. Đó là một đất nước tuyệt vời, nơi của những con người rất đặc biệt và cởi mở. Tôi vẫn còn có nhiều bà con họ hàng sống ở đó, và tôi muốn họ và tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam có cơ hội như tôi đang có, để họ có thể sống trong hòa bình, an ninh và hưởng đời sống dân chủ và các quyền con người cơ bản và phổ quát như tôi đang có.
Thật không may, đó chưa phải là thực tế cho tất cả mọi người ở Việt Nam. Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia vào bảy công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Quyền con người cũng được xác định trong bản Hiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, luật sư, nhà báo, người viết blog và các công dân bình thường vẫn tiếp tục bị bắt giữ, xét xử và bỏ tù chỉ vì bày tỏ ý kiến riêng của họ.
Hôm nay, chúng ta không phải sợ hãi khi nói sự thật. Mỗi con người có quyền được sống, quyền tự do và có cơ hội bình đẳng. Vì vậy, tôi xin với tay đến tất cả người Việt Nam, và tất cả những người Canada, những người muốn thực hiện cuộc đối thoại này với tôi và với các dân biểu.
Dự luật S-219 cho chúng ta một cơ hội để trao đổi, vì các vết thương đã thưc sự chưa lành. Chúng ta phải nắm lấy cơ hội này để cùng ngồi lại quanh bàn, như tôi đã nói, là người Việt Nam từ tất cả các tầng lớp xã hội, cho tiến trình đối thoại và hàn gắn có thể bắt đầu và sau cùng thì chúng ta mới có thể nhìn về tương lai.”
Sau đó đến dân biểu đảng Tự do Kevin Lamoureux (Winnipeg North, Lib.) phát biểu, ông nói
Dân biểu Kevin Lamoureux. Nguồn: Politwitter.ca
Dân biểu Lib. Kevin Lamoureux. Nguồn: Politwitter.ca
“Công nhận Ngày Hành trình tìm Tự do, với chúng ta là việc quan trọng, nó đánh dấu một ngày trọng đại đối với lịch sử chung của cộng đồng người Việt Nam trên khắp thế giới. Nó ghi nhận sự kiện Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sự chiếm lãnh miền Nam Việt Nam của bắc quân, và việc thành lập chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, đồng thời là điểm bắt đầu của cuộc di cư hàng loạt của hàng triệu người dân Việt Nam rời bỏ quê hương của họ.
Đại đa số những người Việt Nam đến Canada vào ngày 1 tháng Giêng năm 1975 là người tị nạn; Canada lúc đó đã có khoảng 1.500 người gốc Việt sinh sống, phần lớn ở Quebec. Sau cuộc khủng hoảng thuyền nhân giữa năm những 1979 và 1982, có khỏang 69.000 người đã đến tị nạn tại Canada. Nhóm người tuyệt vời này cuối cùng đã định cư ở tất cả mọi miền đất nước và họ đã làm phong phú thêm cho đời sống của tất cả người dân Canada. Tôi mong muốn được thấy dự luật này cuối cùng sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban.”
Không phải là một ngày hạnh phúc nhưng  đó là một ngày  phải nhớ
Dân biểu Bob Dechert (Thư ký Quốc hội cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp, CPC) là người phát biểu tiếp theo. Ông nói,
Dân biểu Bob Dechert. Nguồn: The Star.
Dân biểu CPC Bob Dechert. Nguồn: The Star.
“Tôi rất cảm kích có được cơ hội để lên tiếng ủng hộ dự luật quan trọng này. Như tôi đã đề cập, nó công nhận có những người đã thiệt mạng và những đau khổ mà họ đã phải đã trải qua trong cuộc di cư của người Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào ngày 30 Tháng 4 năm 1975, ngày mà Sài Gòn rơi vào tay Cộng sản. Đó là một cuộc chiến, như chúng ta đều biết, hoành hành trong hơn 10 năm. Một cuộc chiến đẫm máu và bạo lực, và cuộc sống của người dân đã bị xé nát. Nó đã làm mất đi quá nhiều sinh linh vô tội.
Đó không phải là một ngày kỷ niệm hạnh phúc, nhưng đó là một ngày mà chúng ta phải nhớ. Chúng ta phải nhớ những sự kiện lịch sử và cần biết những sự kiện đó đã ảnh hưởng thế nào đến mọi người trên khắp thế giới, đặc biệt là những người ở Canada.
Canada đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ hàng chục ngàn người tị nạn sau khi Sài Gòn sụp đổ, theo Ủy ban Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, có hơn 1,5 triệu người Việt Nam bị buộc phải trốn khỏi quê hương của họ dưới sự đe dọa của một cuộc sống bi đát, và một điều cần được lưu ý  là sự vi phạm nhân quyền tràn lan ở đó.”
[…]
“Đó là một ví dụ chưa từng có về lòng bác ái của người dân Canada đối với vô số những người đang cần được giúp đỡ. Hơn một phần tư của một triệu người tị nạn Việt Nam đã thiệt mạng trong lòng biển trong cuộc đi tị nạn từ Việt Nam. Trên hành trình đó, 250.000 linh hồn đã mất. Tình hình tại quê hương đã phải là rất tuyệt vọng thì họ mới chấp nhận rủi ro rất lớn, liều mạng lên đường tìm đến tự do. Một số người đã ngã bệnh, trong khi những người khác đã chết đuối hoặc là nạn nhân của bạo lực của quân cướp biển, bị bắt cóc, và đã phải nhận chịu những hình thức bạo lực khác.”
[…]
“Tôi cũng muốn đề cập đến “Tribute to Liberty”, tổ chức đang xây dựng đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Nó ở rất gần trong khu vực Quốc hội, gần Tối cao Pháp viện. Chính phủ đã tặng 1,5 triệu đô-la góp phần vào dự án đó. Tôi khuyến khích tất cả mọi người dân Canada truy cập vào trang web, www.tributetoliberty.ca, và đóng góp. Người dân Canada gốc Việt sẽ là một phần rất quan trọng của những người được vinh danh trên di tích đó. Họ là một ví dụ trong số hàng trăm ngàn người dân Canada là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, những người đã đấu tranh để đến được Canada.”
Tribute to Liberty
“Với tất cả những lý do này, để làm rạng danh hơn 300.000 người Canada gốc Việt, những người đóng góp cho sự thịnh vượng và phát triển của Canada là những công dân tích cực làm việc trong xã hội chúng ta, tôi muốn cổ vũ tất cả quý đồng viện của tôi ở đây ủng hộ việc thông qua Dự luật S-219.”
Sau dân biểu Bob Dechert, dân biểu Tân Dân chủ Lysane Blanchette-Lamothe (Pierrefonds-Dollard, NDP) nói,
Dân biểu Lysane Blanchette-Lamothe. Nguồn: lysaneblanchette-lamothenpd.ca
Dân biểu NDP Lysane Blanchette-Lamothe. Nguồn: lysaneblanchette-lamothenpd.ca
“Đầu tiên, dù không muốn nhắc lại những gì đã nói trong cuộc tranh luận này cho đến nay, nhưng tôi vẫn muốn nói rằng tôi tự hào hôm nay chúng ta có thể nói chuyện về sự đóng góp của người Canada gốc Việt. Dự luật này một lần nữa cho chúng ta một cơ hội để cảm ơn họ vì những đóng góp của họ cho cộng đồng của chúng ta trên khắp Canada.”
[…]
“Tôi cũng nhân cơ hội này để nói rằng ngày lễ kỷ niệm là có thể có vì tại một thời điểm nào đó trong lịch sử của Canada, chúng ta đã mở cửa và chúng ta quyết định, như là một quốc gia và một xã hội, để đón nhận những người đang tìm nơi nương náu sau một cơn khủng hoảng lớn. Khi cuộc chiến gây ra nhiều bi kịch của con người kết thúc, Canada đã mở cửa và nhận người vào, và nay họ là một phần không thể tách rời của cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị của Canada.”
Dự luật S-219 không phải là một bản án đối với chính phủ Việt Nam
Người phát biểu sau cùng trong buổi thảo luận ngày 5 tháng 2, 2015 về Dự luật S-219 là Quý ông Peter Kent, cựu bộ trưởng phụ trách Môi trường, dân biểu (Thornhill, CPC); ông nói,
Cựu Bộ trưởng Môi trường, dân biểu CPC Peter Kent . Nguồn
Cựu Bộ trưởng Môi trường, dân biểu CPC Peter Kent . Nguồn” Macleans.ca
“Thưa Chủ tịch Hạ viện, trong vài phút còn lại của buổi tranh luận, tôi xin được nhiệt tình ủng hộ Dự luật S-219, Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do.
Tôi đã làm việc tại Việt Nam trong một thời gian khá dài khi còn là nhà báo trong những thập niên 1960, 1970, 1980, và ngay cả vào những năm 1990. Tôi được đặc ân đáng ngờ là đã có mặt ở Sài Gòn vào ngày đen tối đó, 30 tháng Tư năm 1975, khi tôi được di tản khỏi căn cứ của Hoa Kỳ cùng với những người Mỹ sau cùng, những công dân của các nước thứ ba khác, và hơn 7.000 công dân Việt Nam có mặt ở đó. Tôi đã theo dõi với mối quan tâm lớn trong những năm đen tối của những trại cải tạo suốt những năm còn lại của thập niên 1970 và sau đó, và tiếp tục với một mối quan tâm lớn tới hoàn cảnh của những người buộc lòng phải để rời khỏi đất nước của họ để tìm một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác.
Tôi có thể cam đoan với những đồng viện đã bày tỏ quan tâm, quý vị dân biểu vùng Beauharnois-Salaberry và Winnipeg North, rằng dự luật này sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban. Ủy ban sẽ nghe điều trần của nhân chứng thuộc mọi quan điểm, và tôi mong được gặp Đại sứ Việt Nam trong thời gian nghiên cứu của ủy ban sắp đến.
Tôi sẽ nói với ông Đại sứ rằng dự luật này không phải là một sự lên án đối với chính phủ [CHXHCNVN] hiện nay. Chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ và tốt với chính phủ hiện tại. Dự luật này mô tả lại một thời điểm đặc biệt tối tăm và hành trình tìm tự do của hàng trăm ngàn người. Trong số này, 60.000 người tị nạn đã đến Canada. Trên thực tế, Việt Nam có tự do hơn không phải nhờ chiến tranh nhưng vì những áp lực của tư bản, vì một nền kinh lế tự do, và vì ý chí của nhân dân muốn có một cuộc sống tốt hơn ở Việt Nam.
Để kết luận, ý nghĩa của việc tưởng niệm Ngày Hành hành trình tìm Tự do thực sự là ở ba phương diện. Nó sẽ đánh dấu những sự kiện bi thảm sau khi Sài Gòn sụp đổ và sự di cư của những người tị nạn Việt Nam. Nó cũng sẽ vinh danh tất cả những người Canada, những người đã vượt qua mọi thách thức để chào đón những người tị nạn đang bị chấn thương tinh thần, và giúp họ thích nghi với cuộc sống mới và tốt hơn trong một vùng đất mới và xa lạ. Sau cùng, nó sẽ tán dương những đóng góp lạ thường mà những người tị nạn Việt Nam đã thực hiện để xây dựng đất nước tuyệt vời của chúng ta.
Điều này vừa mới được chứng minh trong cuối tuần qua nhân dịp lễ Tết ở Toronto, nơi mà quý đồng viện đều biết rằng Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu trước một đám đông hơn 10.000 người Canada gốc Việt Nam.
Tất cả người dân Canada nên biết đến những câu chuyện của những người tị nạn Việt Nam bị buộc phải rời bỏ quê hương, những nỗ lực nhân đạo lớn của người Canada đã thể hiện trên khắp mọi miền từ bờ Bắc Thái Bình Dương đến bờ biển Bắc Cực qua bờ Bắc Đại Tây Dương, và đã thắng nghịch cảnh mà hiện thân là cộng đồng năng động của người Việt Nam tại Canada ngày nay.”
Sau đó, quyền Chủ tịch Hạ viện, ông Barry Devolin, đã tuyên bố tạm ngưng buổi thảo luận về dự luật Ngày Hành tình tìm Tự do vào lúc 18g15 cùng ngày.
Đón đọc toàn bộ phụ đính về buổi thảo luận Dự luật S-219 nagfy 5 tháng 2, 2015.

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: , | Leave a Comment »

Lời Mẹ Dạy

Posted by Webmaster on February 11, 2015

Nguyên Thạch.

image

Có những lúc biển hiền hoà phẳng lặng
Nhưng đáy sâu chứa triệu đợt sóng ngầm
Đàn con hỡi ,hãy nhớ lời Mẹ dạy
Con sinh ra,há dễ bị giam cầm
φ
Trong khốn khó?
Đừng bao giờ nản chí
Trí không nung thì trí sẽ mòn
φ
Ngọc bất trác?
Thì Ngọc kia nào quí
Mất niềm tin ?
Thì cuộc sống không còn.
φ
Dẫu chế độ hôm nay nhiều bạo lực
Nhưng ngày mai cục diện sẽ đổi thay
Nếu tất cả đều chung lòng quyết sức
Cùng đứng lên đạp đổ chế độ này.
φ
Con đường tưởng hung tàn là sức mạnh
Đấy chỉ là hạ sách,kẻ thất thời
Như con tạo,mùa đông trong giá lạnh
Rồi Xuân sang Xuân sưởi ấm cho đời
φ
Lũ Cộng đảng
Hạ nhân phi chính nghĩa
Sẽ không còn tồn tại với thời gian
Khi đảng phái,mục tiêu đầy phi nghĩa
Thì dĩ nhiên sẽ phải có ngày tàn
Trong vạn vật có chi là Vĩnh viễn?
Sự đổi thay, chuyển biến…lẽ bình thường
φ
Hãy là sóng, triệu sóng ngầm của biển
Sóng cuốn trôi cả bè lũ bạo cường.
Hãy nhớ lấy khuôn vàng, câu khuyên bảo
Đừng nhụt tâm
Nuôi dòng máu kiên cường
Không là người, nếu ta mất quê hương
Dân tộc giương chí khí…đó là đường tất thắng
Nhớ ghi khắc mấy lời Mẹ dặn.

Nguyên Thạch.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Thơ, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Nổi Lửa Lên Em

Posted by Webmaster on February 8, 2015

Nguyễn Thạch (quanlambáo)

image

Hãy khơi lên ngọn lửa thù đốt giặc…
Đốt lửa lên em,thiêu tặc Bắc tham tàn
Tuổi trẻ ơi, hãy đứng dậy hiên ngang
Toàn dân hỡi, gọi đàn đi cứu quốc
Đã đủ lắm rồi !
80 năm vờ vật
Giờ sự thật tỏ tường
80 năm, đảng về đây với mưu thâm bán đứng Quê Hương
Dựng thành băng nhóm ,một phường khốn nạn
Họ là chư hầu !
Là tay sai cho đại hán !
Bọn cướp trá hình… buôn bán non sông!
Mụ mị rêu rao “Thế giới đại đồng”
Dựng nên bởi lũ cuồng ngông mộng ảo
Mạo danh chiến đấu cho lý tưởng Độc lập, Tự do,Hoà Bình cơm áo
Để che giấu mưu thâm gian xảo đê hèn
Cướp bóc dân lành, biến xã hội thành trâu ngựa dần quen
Bần hàn khốn khó hầu dễ chèn dễ trị
Đốt đuốc lên em
Soi đường chân lý
Nổi lửa lên em
Thiêu ác quỷ gian tà
Dậy cả núi sông,cứu lấy quê cha
Lửa hun đúc cho sơn hà rực sáng
Lửa thiêu phản Quốc,
Lửa đốt sạch quân cuồng ngông giặc Hán
Ngọn lửa thiêng của dân tộc sẽ thiêu rụi bọn dã tâm vong bản

Sẽ biến thành tro, mộng cuồng Hán xâm lăng
Lửa sẽ dâng cao ,sẽ đốt sạch sẽ san bằng
Sẽ hủy diệt tất cả những thế lực cản ngăn bước tiến
Lửa sẽ lan khắp từ nội thành, từ thôn quê ra sông biển
Lửa từ lòng dân dựng cuộc chiến diệt thù
Lửa sẽ đốt tan mụ mị “Đại thắng mùa Xuân” hay “Cách mạng mùa Thu”
Lửa sẽ hừng hực căm thù quân bán nước.
Lửa Trí thức,từ dân oan,từ học sinh,sinh viên,từ khối mảnh đời suôi ngược
Từ công ,nông dân khốn khó kiếm miếng ăn,bữa được bữa không!!!
Lửa của 4.000 năm Văn Hiến Lạc Hồng
Lửa sẽ thiêu sạch nhà tù,trại giam,cùm gông ,roi đạn…
Giống giòng Rồng tiên quyết thề sẽ không là Tân cương,Nội Mông và Tây Tạng.

Posted in Thơ | Tagged: | Leave a Comment »

Thương Một Vầng Trăng

Posted by Webmaster on February 7, 2015

.
Nguyên Thạch

Trong đêm tối, trăng tỏa đường soi lối
Mây đen ơi
Đành phủ tối vầng trăng?
Tôi vẫn mơ đêm tối có cung Hằng
Trong mò mẫm có ánh trăng soi ngõ
Đời gian khó … thêm nhọc nhằn gian khó
Hận cho ai dìm trăng tỏ,để lối ngõ ngập đêm đen

Quê hương ơi, màn đêm phủ không đèn
Ma chơi,quỷ ám,chúng là những tên hèn bán nước

Dân tôi ơi,khối mảnh đời xuôi ngược
40 năm!
Đầy lệ đổ !
Đầy thù hằn !
Kiếp trâu ngựa !
Vạn khó khăn tiếp nối
Vầng trăng ôi
Đừng chìm sâu khất vội
Anh em tôi vẫn cần lối tiến lên
Vọng ngàn xa,trống Quang Trung,tiếng giục vang dền
Biển Đông khóc… mênh mông lời mẹ gọi…
Vầng trăng yêu, hãy đưa tôi về một cõi
Xuân nở hoa,tiếng cười nói xôn xao
Có tiếng chim ca líu lo…tình thôn nữ dạt dào
Nền nhân bản,tình trao nồng ấm
Trăng ơi trăng
Đường còn xa vạn dặm
Đầy gian lao bởi còn lắm hung tàn
Lã đổ mùa thu!
Nhưng rừng vẫn ươm nụ xuân sang
Ai đành cắt ánh trăng ngàn dấu ái
Quê hương ơi !
Cõi hồn tê tái
Mây mùa thu vẫn mãi đi hoang
Nên tình quê chưa kết mối vẹn tròn
Đau lòng mẹ,những đứa con lạc lối
Vầng trăng ơi!
Dẫu đêm đen,nhưng xin đừng khuất vội
Biển mênh mông lạc lối trùng xa
Chờ dân tôi quét sạch bóng gian tà
Chào Xuân thắm ,có Hằng Nga hoà nhịp

IMG_3409

Posted in Người Việt - Nước Việt, Thơ, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Toàn bộ cuốn DVD -THẢM HỌA ĐỎ – BỘ MẶT THẬT ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Posted by Webmaster on February 6, 2015

|

Vi Anh: Thảm hoạ đỏ – Bộ mặt thật ĐCS Việt nam

Lại thêm một tác phẩm vạch ra bộ mặt của CSVN. Đó là bộ phim tài liệu “Thảm Họa Đỏ – Bộ Mặt Thật Đảng CSVN”. Đây là một tác phẩm, một phương tiện vô cùng quí giá, hữu hiệu cho cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tức giải trừ CS độc tài đảng trị toàn diện đang thống trị trên nước nhà VN đau khổ của người dân Việt.

Trên phương diện truyền thông đại chúng, một tấm hình bằng một nghìn chữ. Trên phương diện chánh trị xã hội, kiến thức là sức mạnh. Dưới ánh sáng của hai chân lý đó, phim tài liệu “Thảm Họa Đỏ – Bộ Mặt Thật Đảng CSVN” là một tác phẩm vô cùng quí giá.

Về hình thức đây là một bộ phim tài liệu đầu tiên, tổng hợp, súc tích về quá trình giết dân, hại nước của Đảng CSVN.

Về nội dung, đây là một sưu khảo bằng hình. Với những hình ảnh bằng cớ không thể tranh cãi. Về cả một hệ thống tội ác, một chuỗi tội ác quán hành, kéo dài gần hai phần ba thế kỷ ở miền Bắc và 40 năm ở Miền Nam của quốc gia dân tộc VN. CSVN đã du nhập chủ nghĩa CS đệ tam quốc tế ngoại lai về để cướp chánh quyền, giết dân, hại nước VN, tội Trời không dung Đất không tha, Nhân dân nguyền rủa.

Phim tài liệu “Thảm Họa Đỏ – Bộ Mặt Thật Đảng CSVN” đã khéo léo đưa ra ánh sáng chân lý, mô tả bằng hình ảnh thật những hành động gian ác Đảng CSVN đã ám hại các đảng phái quốc gia thế nào để cướp chánh quyền. Đảng CSVN toàn những tay sai của CS Quốc tế phục vụ cho quyền lợi CS quốc tế. CSVN đã giết hàng hàng lớp lớn nông dân VN trong Cải cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc,Tết Mậu Thân ở Huế, cào bằng vô số di tich văn hóa, lịch sử khắp nước VN. Đảng CS cướp tài sản của dân, biến dân VN thành dân oan. Đảng CSVN bán nước để cầu an, cầu vinh, với công hàm của Phạm văn Đồng và với thái độ bất động thông đồng để cho TC xâm lấn biển đảo.

CS đã biến VN thành một quốc gia chậm tiến về kinh tế và lạc hậu về chánh trị sống trong chế độ độc tài nghiệt ngã và tồi tệ hơn thời Trung Cổ đen tối ở Âu châu.

Phim tài liệu “Thảm Họa Đỏ – Bộ Mặt Thật Đảng CSVN” cũng đưa ra những sự kiện và thời sự, dân chúng VN vùng lên trong phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Nào Đảng viên bỏ đảng, nào Dân chúng đấu tranh thành phong trào, thành qui trình bất khả đảo ngược nữa. Nào người Việt hải ngoại quốc tế vận, đưa vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền VN vào Quốc Hội, ngoại giao của nhiều siêu cường trên thế giới.

Phim tài liệu là một trong những thành tựu của truyền thông đại chúng của Lực Lượng Cứu Quốc. Phim tài liệu này là bước tiến thứ ba trên phương diện truyền thông đại chúng nằng hình. Một là Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn. Hai là “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”. Ba là “Thảm Họa Đỏ – Bộ Mặt Thật Đảng CSVN”.

Bên cạnh đó còn có một bước tiến dài, liên tục là tiếng nói của Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI, phát thanh thẳng về và vô VNCS, qua tầng số mà đài BBC đã ngưng vì lý do ngân sách. Đài này là một phương tiện đấu tranh bằng truyền thông. Phát trên tần số 1503 K của BBC sau khi BBC ngưng phát chương trình tiếng Việt. Lực Lượng thuê làn sóng đó để phát. Đối tượng là người Việt trong nước. Mục tiêu: phá vỡ thông tin một chiều của “báo đài” CS, nỗ lực trình bày sự thật về VN để người Việt thấy rõ tiền đồ của đất nước đang nguy hiểm như thế nào, để người dân biết rõ quyền lợi của mình, chẳng hạn như là quyền công nhân, và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc. Thời lượng, mỗi lần phát thanh 30 phút, từ 9 giờ 30 cho đến 10 giờ tối hàng ngày, mỗi ngày, nghe được ở VN. Chương trình có tin tức và những chuyên mục.

Dư luận từ trong nước, do những tin tức riêng ghi nhận được, xin phép dấu tên để an ninh cho các nguồn tin cho biết, ba phim tài liệu trên disc “Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn” “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” và tiếng nói “Đáp Lời Sông Núi” rất được đồng bào trong nước mến mộ, tuy lén nghe, lén xem, âm thầm, rỉ tai cho nhau nhưng chia xẻ cho nhau trong vòng kín đáo nhưng rất nhiều và rất sâu rộng.

Công tác truyền thông đại chúng trung thực này giup cho đồng bào trong nước thấy sự thật, biết CSVN từ lâu tuyên truyền nhồi sọ, bưng bít thông tin. Nó cũng giúp rất nhiều cho lớp trẻ VN ở hải ngoại sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, không có điều kiện tìm hiểu tình hình VN bằng tiếng Việt. Và giúp cho các cơ quan, định chế, các cá nhân người ngoại quốc muốn tìm hiểu thực trạng Việt Nam.

Người Việt Hải ngoại bây giờ nhờ truyền thông đại chúng, trên thực tế cảm thấy thuộc về nhau như một Việt Nam Hải Ngoại, như Pháp Quốc Hải Ngoại thời chống Đức Quốc Xã chiếm cứ mẫu quốc. Nên khi làm phim, có kết hợp với những nhà dân chủ, những nhà ly khai khỏi CS công tác.

Và khi ra mắt, tổ chức tại ba nước. Ra mắt đầu tiên đồng loạt ngày Chủ Nhật, ngày 11 tháng 1 năm 2015 tại 4 địa điểm Little Saigon (Nam Cali, Hoa Kỳ)Toronto (Canada), Paris (Pháp), Sydney (Australia).

Sẽ giới thiệu phim các thành phố các quốc gia có đông người Việt cư ngụ tiếp ngay sau đó. Ví dụ: Thứ Bẩy, 17 tháng 1, 2015 ở Melbourne, VIC, Australia; Brisbane, Queensland, Australia; Mưnchengladbach, Đức Quốc * Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015, San Jose, Bắc Cali, Hoa Kỳ; Denver, Colorado; Perth, West Australia.

Sau cùng, Anh chị em trong tổ chức làm phim, ra mắt đã làm những gì có thể làm được để đưa thông tin, nghị luận, sự kiện, và sự thật về Đảng CSVN – quá gian ác, tồi tệ, độc địa hơn Mafia nữa — cho đồng bào trong ngoài nước biết và nhận định.

Việc còn lại là của chúng ta, người Việt tỵ nạn CS, người Việt yêu nước thương nòi, muốn đem tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào. Giúp đỡ tài chánh ít nhiều, phổ biến rộng ra, đông hơn, để tạo sức mạnh cho sự thật là quyền lực hầu vứt bỏ Đảng CS gian ác cho rồi.

bo-mat-that-DCS-VN

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , | 1 Comment »

40 Năm Người Việt Tại Canada Và Dự Luật S-219

Posted by Webmaster on February 6, 2015

 

Mặc Lâm – RFA  – 2015-02-06

TNS Ngô Thanh Hải, CanadaMặc Lâm: Thưa TNS Ngô Thanh Hải, xin ông cho biết mục đích mà ông soạn thảo Dự luật S-219 ban đầu có tên là Tháng Tư đen, sau đổi lại là “Ngày hành trình tới tự do” nhằm nói lên điểu gì thưa ông?

TNS Ngô Thanh Hải: Đó là dự luật để tưởng nhớ tới hơn hai triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi với tư cách là tị nạn, là thuyền nhân. Thứ hai là để tưởng nhớ 250 ngàn người Việt Nam đã bỏ mình trên biển cả hoặc là bị cướp, bị bão hay điều gì đó. Thứ ba nữa dự luật này nhằm cám ơn chính phủ Canada đã nhận một trăm hai chục ngàn người Việt Nam tỵ nạn vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 rồi sau này lên tới 300 ngàn người. Đồng thời cũng là cám ơn chính phủ Canada đã mở rộng vòng tay để đón nhận thuyền nhân tỵ nạn của chúng ta tại đây. Thứ tư nữa là cám ơn chính phủ, nhân dân Canada đã sponsor từ cá nhân, nhà thờ đến các cơ quan thiện nguyện đã bảo trợ giúp đỡ cho chúng ta. Thứ năm là Canada là một quốc gia mà trong thập niên đó, cuối 70 đầu 80 thì Canada là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã nhận người tỵ nạn do đó mà Cao Ủy Tỵ Nạn (UNHCR) Canada đã trao giải Nansen cho Canada. Đạo luật này dựa trên 5 điều đó thôi.

Mặc Lâm: Thưa, ông là một dân cử gốc Việt tại Canada với chức vụ Thượng Nghị Sĩ liên bang, đời sống của người Việt nam hôm nay vừa đúng 40 năm kỷ niệm ngày ra đi của họ thì ông thấy có sự thành tựu nào đáng kể nơi xứ tạm dung mà bây giờ đã trở thành quê hương thứ hai của họ hay không?

TNS Ngô Thanh Hải: Thưa bây giờ thì mình thấy rằng cộng đồngViệt Nam mình tại Canada sau 40 năm thì phát triển rất mạnh. Tôi thấy Việt Nam mình đóng góp cho xứ sở, xã hội Canada rất nhiều, chính phủ Canada cũng đã công nhận sự đóng góp của người Việt tại đây và họ đã để ý rất nhiều chẳng hạn như cách đây ba năm chính phủ Canada của Đảng Bảo thủ đã nhận hết những người tỵ nạn tại Phi Luật Tân còn lại, khoảng hai trăm mấy chục người đã nhận rồi và đồng thời mới đây cũng hai năm rồi chính phủ đã chính thức chấp nhận tất cả người Việt tỵ nạn còn lại tại Thái Lan và Cao Miên (Campuchia). Trong tháng vừa rối bốn mươi mấy gần năm chục người tỵ nạn tại Thái đã qua tới Canada. Hy vọng cuối năm nay hết một trăm mấy chục người đó sẽ đến Canada để chấm dứt giai đoạn chót của người tỵ nạn chúng ta đã ra đi hơn mấy chục năm nay.

Mặc Lâm: Thưa ông nhìn chung vấn đề người Việt tỵ nạn khắp nơi được chính phủ Canada mở rộng vòng tay để đón họ và ông là người đại diện cho người Việt ở đó ông có cảm thấy sự thành tựu của họ trên lĩnh vực kinh tế, kiến thức hay khoa học thì lĩnh vực nào thành công nhất thưa ông?

TNS Ngô Thanh Hải: Cộng đồng của mình thì anh thấy chẳng hạn như tại Montreal thì đa số người Việt mình là bác sĩ, dược sĩ ở Montreal. Tại vùng Ontario thì bác sĩ, kỹ sư đủ hết mọi ngành chuyên môn, luật sư bây giờ cũng đông lắm. Vùng Calgary thì kỹ sư rất nhiều vì tỉnh bang đó có rất nhiều dầu mỏ thành ra Việt Nam mình ở trên xứ Cadana này thành công rất nhiều. Không những như thế mà cộng đồng người Việt mình cũng đã đứng ra để nhận lãnh nếu kể ra thì hai trăm mười mấy người bên Phi Luật Tân và một trăm mấy chục người bên Thái và Cao Miên. Chính cộng đồng bỏ tiền ra đóng góp mua vé máy bay, bảo hiểm sức khỏe cho khoảng 400 người tỵ nạn cuối cùng của cái lớp đã bỏ đi từ 75 tới giờ.

Không những như thế mà cộng đồng còn đứng ra bảo lãnh những người đó qua để mà tiếp tay với chính phủ đã từng làm cho chúng ta nên bây giờ phải đáp lại bằng cách yễm trợ và bảo trợ người Việt Nam tỵ nạn còn lại của chúng ta. Đa số những người này bị kẹt từ hai tới ba mươi năm ở Phi và Thái Lan.

Mặc Lâm: Vâng, thưa ông bên cạnh những thành tựu nhất định đó thì chắc chắn bất cứ một cộng đồng nào cũng đều có những trở ngại khó khăn. Ông có thể cho biết cộng đồng Việt Nam tại Canada thì những trở ngại khó khăn ấy cụ thể là gì?

TNS Ngô Thanh Hải: Tôi thấy thì những trở ngại của cộng đồng không có gì lắm bởi vì đa số thế hệ thứ nhất cũng đã thành công rồi còn thế hệ thứ hai, thứ ba thế hệ con cháu chúng ta đã hội nhập vào xã hội Canada từ nhỏ cho tới lớn. Thành ra theo tôi nghĩ, tôi không biết chỗ nào khác nhưng riêng Canada này thì những trở ngại của cộng đồng nếu mà có thì cũng nho nhỏ thôi, chẳng hạn như con cái của chúng ta lớn lên thì vấn đề tiếng Việt của mình nó hơi khó khăn. Trường học dù có mở lớp tiếng Việt dạy cho con em của chúng ta nhưng chắc con em mình nó đã thấm nhuần xã hội Canada nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt thành ra đó là cái mà tôi lo ngại nhất. Tôi hy vọng văn hóa Việt Nam mình sẽ tồn tại tới thế hệ thứ ba, thứ tư và ngay cả về sau này nữa. Đó là điểu mà tôi lo ngại thôi chứ ngoài ra thì tôi thấy cộng đồng người Việt riêng tại Canada thành công rất nhiều. Trở ngại thì văn hóa và tiếng mẹ đẻ của con em chúng ta lớn lên ở đây thì nó hơi khó khăn trong vấn để đó

Mặc Lâm: Xin cám ơn TNS Ngô Thanh Hải.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , , | Leave a Comment »

40 năm cuộc sống người thương phế binh VNCH

Posted by Webmaster on February 5, 2015

IMG_3408-0Gia Minh – RFA Tiếng Việt – 2015/02/05

Một thành phần dường như bị gạt ra bên lề xã hội Việt Nam sau năm 1975 là những thương phế binh dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Dù không bị học tập cải tạo như những sĩ quan, công chức cao cấp… của chế độ cũ; nhưng họ bị phân biệt đối xử, thậm chí không được hưởng một chế độ nào dành cho người thương tật từ chính quyền mới.

Suốt 40 năm qua, các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, còn lại trên quê hương Việt Nam phải sinh sống ra sao?

Ngược đãi

Khác với những thương bệnh binh của Nhà nước Cộng hòa Xã hội cthủ nghĩa Việt nam, các thương phế binh- những người phải hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến tranh Việt Nam trước đây, ngay sau năm 1975 cũng bị liệt vào thành phần ‘ngụy quân, ngụy quyền’. Dù rằng thân thể không toàn vẹn, là người tật nguyền, nhưng mọi chính sách đối với những người như họ đều không được hưởng.

Một thương phế binh hiện sinh sống tại Sài Gòn trình bày lại hoàn cảnh của bản thân:

Tôi thuộc Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, tôi bị thương ở Đồi Charlie ngày 9 tháng 4 năm 1972. Chân tôi bị gãy ba khúc, bây giờ một hai ngón trên tay phải tôi bị co rút, trên đầu và dưới bụng còn mấy miếng miểng nữa.

Lúc vào quân đội tôi là con mồ côi, không có cha mẹ, anh em, dòng họ. Tôi tình nguyện vào nhảy dù năm 1970. Đến năm 72 bị thương, tôi về (Viện) Mồ côi tôi sống. Về tôi cũng cưới một người vợ trong mồ côi ra. Bà Phước và ông Cha đồng ý cho tôi cưới, rồi tôi được Bộ Tổng Tham mưu cấp cho một căn nhà ở làng phế binh Thủ Đức, Phước Bình.

Sau năm 75, Sài Gòn bị sụp đổ, ‘họ’ vào đuổi chúng tôi ra- không phải riêng mình tôi mà rất nhiều người như tôi bị ra khỏi nhà. Hiện nay cuộc sống của tôi rất khổ. Tôi phải bươn chải đi bán vé số mà sống, con cháu tôi không có tờ giấy nào lận lưng

Hiện tôi cũng không có tờ giấy chứng minh nhân dân lận lưng vì tôi không có nhà, không có hộ khẩu làm sao có chứng minh. Tôi không có nơi nương tựa, nhà thuê- cửa mướn. Đôi lúc không đủ tiền họ đuổi ra khỏi nhà. Đó là sự thật.

Lâu lâu tôi có nhờ anh Trung Hiếu Phạm giúp đỡ tôi rất nhiều từ tiền bạc, quần áo, cơm gạo; rồi chiếc xe tôi đi hư vỏ, hư bánh, hư niềng anh đều cho tiền để sửa chữa.

Tôi hỏi ông, một ngày tôi bán được 100 tờ vè số chỉ có được 100 ngàn đồng; nhưng phải đóng tiền nhà 50 ngàn, còn 50 ngàn cho gia đình sinh sống. Không đủ nhưng phải gói ghém.

Một thương binh khác hiện đang sống tại Quảng Ngãi cũng cho biết tình cảnh của bản thân trong suốt mấy chục năm qua như sau:

Tôi bị thương ngày 20 tháng 10 năm 1974 tại Nghĩa Hành. Tôi ở Trinh Sát 6 ở Chu Lai. Chuẩn tướng Nhật điều vào đánh ở Định Cương, Nghĩa Hành. Trong lúc hai bên đánh nhau, tôi bị trúng claymore gãy hai chân.

Từ 75 đến giờ đâu có gì đâu, cũng sống khổ cực. Tôi bị gãy hai chân và một tay thì đâu làm gì được. Tôi cũng ‘lần quần’ rồi có vợ, có con và giờ cũng ‘cơm nhà, áo vợ’ chứ có làm gì được đâu

Tự bươn cải kiếm sống

Dù bị ngược đãi, nhưng những thương phế binh Việt Nam Cộng hòa cũng là con người cần phải ăn, phải sống và còn cả gia đình cha mẹ, vợ con; nên họ cũng phải tìm cách mưu sinh như bao người làn lặn khác. Ngoại trừ một vài trường hợp, may mắn, đa số đều rơi vào cảnh túng thiếu.

Trong những năm đầu sau 1975, cuộc sống đối với những người lành lặn đã khó, huống gì đối với những con người tàn phế không có được hổ trợ nào từ phía cơ quan chức năng và xã hội.

Nếu không nương nhờ được vào ai, nhiều thương phế binh tại các thành phố phải kiếm sống bằng những nghề mà người khuyết tật ở Việt Nam thường theo bao đời nay như đi hát dạo, bán vé số…

Sự hỗ trợ muộn màng

Trong cuộc mưu sinh, bôn ba lê lết trên vạn nẻo đường đất nước, một số thương phế binh may mắn gặp lại những đồng đội xưa từ nước ngoài trở về. Những người con Việt bỏ xứ ra đi sau năm 75, khi trở lại thăm thân nhân, quê hương có mang theo chút tiền để dành từ nước tạm dung, đã bớt ra chút ít để giúp đỡ cho những người chiến binh xưa chịu cảnh tật nguyền.

Dần dần số người trở về ngày càng nhiều thêm, và sự hổ trợ dành cho các thương phế binh Việt Nam Cộng hòa từ những hội đoàn nước ngoài cũng thêm phần lan rộng.

Có những lần tri ân, những lần phát quà những chú thương phế binh rất vui mừng vì họ được Dòng Chúa Cứu Thế nhìn đến vì bốn chục năm nay bị bỏ quên. Các chương trình khám bệnh, cho xe (lăn)., tri ân khiến các chú thương phế binh cảm động

Một người thiện nguyện tại DCCT

Còn tại Việt Nam, hòa thượng Thích Không Tánh, một người khởi xướng hoạt động từ thiện giúp cho các thương phế binh Việt Nam Cộng hòa ngay ở Sài Gòn cho biết lại tiến trình xúc tiến hoạt động đó:

Chương trình này đã có cả chục năm rồi. Bà con ở nước ngoài có ủng hộ tiền về để giúp cho người nghèo khổ, cứu trợ bão lụt, tôi mới trình lên Giáo hội là số thương phế binh Việt Nam Cộng hòa thiếu thốn, tật nguyền, không có ai đoái hoài đến nên tôi làm chương trình đó: mời về Chùa Liên Trì ăn cơm, phát quà. Rồi tôi ra ngoài Quảng Trị phát quà cho thương phế binh ngoài đó. Chương trình này làm cách đây cả chục năm rồi. Sau này có nhờ bác sĩ Hiển bên Pháp, ân nhân các nơi và hòa thượng Thích Viên Lý bên Mỹ ủng hộ về để làm. Thời gian sau này họ (Nhà nước) thấy anh em thương phế binh đông bất lợi nên họ cho công an canh gác và gây khó khăn. Sau đó, cách đây hai năm tôi gửi tiền đó qua bên Dòng Chúa Cứu Thế để tổ chức giúp chứ bên này ‘họ’ hay dòm ngó, chụp hình, gây khó khăn. Khi Dòng Chúa Cứu Thế tổ chức cách đây hai năm có chừng 200-300 anh em thương phế binh, sau đó bà con biết nên bây giờ quí linh mục ở Dòng Chúa Cứu Thế tiếp tục kêu gọi anh em thương phế binh đăng ký. Vừa rồi được sự giúp đỡ rộng rãi nên Dòng Chúa Cứu Thế đã phát cho trên 1000 thương phế binh. Họ về đó ăn uống, ca hát, nhận quà nên tôi rất mừng. Tôi cũng mừng khi họ tụ họp đông đảo như thế.

Chương trình chúng tôi dự định ra giêng này sẽ ra Quảng Trị, Thừa Thiên để phát quà cho anh em thương phế binh ngoài đó. Họ khổ lắm Ở ngoài đó xa quá đôi khi đâu thể vào Sài Gòn để nhận quà được.

Một người làm việc thiện nguyện tại Dòng Chúa Cứu Thế, nơi tiếp nhận chương trình giúp đỡ các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa từ vài năm qua, cho biết những cảm nhận bình thường của các phương phế binh được giúp đỡ cũng như một số hoạt động tiến hành hỗ trợ cho các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ở đó như sau:

Có những lần tri ân, những lần phát quà những chú thương phế binh rất vui mừng vì họ được Dòng Chúa Cứu Thế nhìn đến vì bốn chục năm nay bị bỏ quên. Các chương trình khám bệnh, cho xe (lăn)., tri ân khiến các chú thương phế binh cảm động, rất thích.

Như lời Hòa thượng Thích Không Tánh, nhiều thương phế binh sống tại các tỉnh thành miền Trung vẫn chưa nhận được giúp đỡ như những người sống tại các thành phố miền nam.

Người thương phế binh từ Quảng Ngãi bày tỏ mong ước:

Tôi nay đã 60-62 tuổi rồi, nên cũng mong muốn yêu cầu những người ‘(VN) Cộng hòa’ bên Mỹ cho tôi chút đỉnh gì đó để qua ngày qua tháng, ăn được chút đỉnh nào thôi chứ tôi đâu dám ‘há miệng, há mồm’ gì nữa đâu!

Sau 40 năm, hầu hết những thương phế binh phải hy sinh một phần thân thể khi còn tuổi thanh niên nay đều bước sang lớp lão niên. Thời gian nhuộm bạc tóc họ một phần, nhưng phần lớn nét khắc khổ, sự chai sạn hằn sâu trên khuôn mặt và thân thể của họ là chứng tích của bao nỗi gian truân đè nặng lên cuộc sống phế nhân mà suốt bao năm qua bị nhà cầm quyền ruồng rẫy.

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Niệm - Tri Ân, Z đến A | Tagged: | 6 Comments »

CSVN và tuyên truyền bịp bợm thô bỉ… muôn năm

Posted by Webmaster on February 4, 2015

Trần Trùng Dương (Danlambao) – “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước” (TBT /CSVN – Nguyễn Phú Trọng… Rất có uy tín? – Vì vậy chỉ có 6 nhà nước trên tổng số 193 quốc gia (chưa tới 0,5/%) thành viên trong Liên Hiệp Quốc tin là như vậy để gửi điện chào mừng “sinh nhật” 85 tuổi của đảng CSVN!?.(*)

image01 (2)Nhìn hình ảnh này người ta nghĩ: Chỉ có những con Robot mới không có tri thức để biết “xấu hổ” khi chỉ vỏn vẹn có 6 lãnh đạo quốc gia (chưa tới 0,5 %) thành viên trong Liên Hiệp Quốc gửi lời chào mừng sinh nhật “đảng ta” một đảng “vĩ đại” lấy máu xương và nước mắt 4 triệu đồng bào mình để độc quyền đảng CS trị 90 triệu dân nước Việt Nam!?

Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 180 nước – Chính thức có hàng trăm đại sứ quán và văn phòng ủy nhiệm quốc tế đại diện tại Việt Nam (Theo Wikipedia) tất cả họ thừa hiểu đảng CSVN đẻ ra điều 4 Hiến Pháp VN khẳng định “Đảng CS là lực lượng duy nhất độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam” cũng có nghĩa: đảng CSVN là một “siêu chính phủ” ngự trị chễm chệ phía trên nhà nước XHCN/VN vì vậy ngày “sinh nhật” 85 tuổi của CSVN vô hình trung “đảng ta” xem như là một ngày “đảng khánh” theo thuộc tính của đảng CSVN nó còn có ý nghĩa lớn hơn cả ngày quốc khánh vì trong tư duy họ (CSVN) không có đảng thì không có ngày quốc khánh 2 tháng 9.
Vậy thì tại sao kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2015) Trong ngoại giao đoàn hàng trăm đơn vị cơ quan sứ quán quốc tế tại VN thì chỉ có lãnh đạo 6 quốc gia: Campuchia, Lào, Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên và Nga, gửi lời chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng? Còn hàng trăm nguyên thủ các quốc gia khác khắp thế giới thì không!?.
Câu trả lời rất đơn giản mang tên: Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản (Victims of Communism Memorial).
image00 (2)
Công trình tưởng niệm này do quỹ Victims of Communism Memorial Foundation (VOCMF) được đóng góp bởi nhiều cá nhân, tổ chức, đoàn thể chính trị cùng nhiều quốc gia từng là nạn nhân của chế độ cộng sản bao gồm Ba Lan, Hungary, Cộng Hòa Sec, Slovakia, Bulgaria, Estonia, Gruzia, CuBa, Đài Loan và cộng đồng kiều bào Việt Nam… Theo đó công trình ghi nhận chế độ chủ nghĩa cộng sản đã giết hại nhiều triệu người, nhiều nạn nhân vô tội, vô danh đã bị giết khắp nơi như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Cuba… Họ đã bị giết trong những trại cải tạo, trong những ngục tù, trong những cuộc đại cách mạng, trong các cuộc cải cách ruộng đất… Tượng đài sẽ giúp cho giới trẻ hiểu một phần của lịch sử thế giới trong thế kỷ 20 vì họ cho rằng tội ác của chủ nghĩa phát xít đã được thế giới công nhận thì tội ác của chủ nghĩa CS phải được nhân loại biết tới.

Riêng với ngài tiến sĩ xây dựng đảng TBT/Nguyễn Phú Trọng khi ngài phát ngôn: “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước” thì liệu cái chất bầy nhầy như bã đậu trong não trạng của ngài có còn nhớ không? Lời ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng chí của ông mới đây khẳng định thêm một lần nữa trong một buổi lễ vinh danh LL công an và ra lệnh rằng: Công An phải ra sức ngăn cản “diễn biến hòa bình” và “kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập”… Vậy thì xin ngài TBT “đảng ta” cho biết ngài so sánh với “lực lượng chính trị nào” tồn tại đối lập với CSVN trong nước? Để ngài khẳng định rằng “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam”?.
Và có thể chính cái tư tưởng “lưu manh, bịp bợm” này là bản chất của CNCS nên vì vậy ngày “sinh nhật” 85 tuổi của đảng CSVN vừa qua tuyệt đại đa số có tới 187 quốc gia trên thế giới ngoảnh mặt im lặng chỉ vỏn vẻn có 6 nhà nước đang và từng là chế độ CS… Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào, Campuchia, Trung Quốc và Nga lên tiếng chúc mừng!
Hữu xạ tự nhiên hương… Không cần phải quảng cáo, có chất thơm thì tự nhiên có mùi thơm… Một cái Toilet thì dù có sơn phết lòe loẹt như thế nào bản chất của nó vẫn là cái toilet…

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Canada: Thủ Tướng Harper tham dự hội chợ Tết “40 năm viễn xứ”

Posted by Webmaster on February 4, 2015

Ψ

Mississauga, Ontario: Trong hôm chúa nhật ngày 1 tháng hai năm 2015, thủ tướng Canada, ông Stephen Harper, đã dẫn đầu một phái đoàn gồm nhiều các tổng bộ trưởng đến tham dự hội chợ tết “40 năm viễn xứ” do hội người Việt Toronto, phối hợp cùng các hội đoàn, tổ chức tại International Center ở thành phố Mississauga, tỉnh bang Ontario.

Trong số các quan khách tham dự, ngoài thủ tướng Harper, còn có ông Jason Kenney, tổng trưởng nhân lực và phát triển xã hội kiêm tổng trưởng đa văn hóa, và thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải.

Trong bài diễn văn , thủ tướng đã dùng ba ngôn ngữ, Anh, Pháp và Việt ( câu “chúc mừng năm mới”), để nói chuyện với khán giả. Ông cũng nhắc đến những nỗ lực của thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải và nội các đảng Bảo Thủ về việc đề cử ngày 30 tháng tư là ngày “hành trình đi tìm tự do”, ngày mà miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản, 0khiến hàng trăm ngàn người Việt phải bỏ nước ra đi tìm tự do.Ông cũng nói đến sự thành công và đóng góp của cộng đồng người Việt trên xứ “đất lạnh tình nồng”.

Thủ tướng Harper cũng đã từng đến tham dự hội chợ tết của cộng đồng người Việt ở Toronto vào năm 2013.

Theo những ước lượng có khoảng trên dưới 10 ngàn người tham dự hội chợ tết Toronto năm nay, đông hơn năm ngoái. Cũng theo những tin tức của hội người Việt Toronto thì năm nay số vé vào cửa đã bán hết.

Phần văn nghệ năm nay cũng rất đặc sắc với các ca sĩ Bằng Kiều, Tóc Tiên, Minh Tuyết, Đan Nguyên, ban nhạc Liberty và MC Việt Thảo. Ngoài ra còn có phần trình diễn của các ca sĩ và ban nhạc địa phương như Nhóm Hùng Sử Việt Michigan, đoàn lân Liên Thắng.. Có những phần trình diễn trang phục cổ truyền của những nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Số hàng quán thương mại và thực phẩm, cũng như các gian hàng của các hội đoàn từ thiện cũng thấy rất đông đảo người đến.

Người ta cũng thấy có rất đông những người trẻ tham dự hội chợ Tết năm nay, và đây là một niềm phấn khởi và hy vọng của cộng đồng, vì truyền thống Tết hàng năm chắc sẽ còn tiếp tục được duy trì.

http://thoibao.com/thu-tuong-harper-tham-du-hoi-cho-tet-40-nam-vien-xu/

TVQ chuyển Mississauga, Ontario.Canada

Posted in Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: , | Leave a Comment »

Cái Tên Đường Phố Đáng Ghét

Posted by Webmaster on February 3, 2015

Thái Bá Tân    Thái Bá Tân

Tự nhiên ghét tên phố –
Đường Mồng Ba tháng Hai.
Ghét cả phố bên cạnh
Là Nguyễn Thị Minh Khai.
Rồi Trường Chinh, Lê Duẩn,
Đại lộ Phạm Văn Đồng,
Ba mươi năm thủ tướng
Mà có cũng như không….

Công viên Lê Văn Tám,
Một ngọn đuốc sáng ngời,
Mà cả người lẫn đuốc
Được phịa để dạy đời.

Rồi nhiều con phố cũ,
Thân quen bao đời nay,
Những cái tên dung dị
Đã đồng loạt bị thay

Bằng tên các lãnh tụ
Của giai cấp vẻ vang.
Đủ các loại lãnh tụ,
Lớn nhỏ và nhàng nhàng.

Hơn nữa, còn nghe nói,
Lãnh tụ chết, cháu con
Chạy xin tên đường phố,
Để được mãi trường tồn.

Đại khái là như thế.
Toàn phố mang tên người.
Những người đáng nghi vấn,
Còn lâu mới “sáng ngời”.

Trong khi lại không có
Tên phố Ngụy Văn Thà,
Một chiến sĩ dũng cảm
Hy sinh vì Hoàng Sa.

Càng nghĩ càng thêm bực.
Uống cà phê mất ngon.
Vũng Tàu trời nắng đẹp.
Thôi, về với cháu con.
 
Thái Bá Tân – Facebook

Posted in Người Việt - Nước Việt, Thơ, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Giấc Mơ Đi Biển

Posted by Webmaster on February 3, 2015

Nguyễn Hùng Sơn

Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng

Tuâ

Tranh vẽ HQ.2 của Họa sĩ Nguyễn Hùng Sơn

Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng, tàu về nhận tiếp tế trong vài ngày, rồi tiếp tục lên đường… Chúng tôi đứng trên đài chỉ huy, dői mắt vào chiếc duyên tốc đỉnh PCF của Hải Đội III Duyên Phòng, đang loay hoay cặp vào chiến hạm. Trời tháng 10, biển có nhiều sóng, chiến hạm phải thả thêm 2 trái độn lớn để chiếc PCF được an toàn hơn. Từ con tàu nhỏ chòng chành, nghiêng ngả, các SQ, HSQ và nhân viên thuộc chi đội đi bờ, măn phép, lần lượt trở về chiến hạm. Trong nhóm những người ấy, tôi thấy có 2 tân thiếu úy. Họ trong tư thế thật nghiêm trang, đặt túi quân trang xuống sàn tàu, đứng nghiêm, thẳng người, quay mặt về hướng quốc kỳ phía sau lái, rôì đưa tay chào thật hùng dũng, đúng quân cách. Nhìn nét mặt rạng rỡ đầy hãnh diện của họ, giấc mơ của một thời tuổi trẻ, bất chợt bùng lên trong tôi.

Giấc mơ của tôi thật đơn giản, “được đi biển”! Hình ảnh của con tàu và biển cả luôn là ước vọng trong suốt khoảng đời mới lớn của tôi. Ngày ấy tôi mê say đóng những con tàu nhỏ xíu bằng cây, rồi xếp đám lính đồ chơi bằng nylon lên boong tàu. Chúng tôi chia 2 phe, mỗi phe một chiếc tàu và dùng dây thun bắn vào đám lính đồ chơi của nhau. Đám lính của phe nào ngă hết trước thì phe ấy thua. Cuộc chơi chỉ có chừng đó, nhưng chúng tôi chơi mãi không biết chán… Giấc mơ cứ thế lớn dần.

Xong Tú Tài II, tôi vội vã thi vào trường Hàng Hải Phú Thọ nhưng bị loại. Mức độ chiến tranh càng lúc càng tăng. Lệnh tổng động vięn lại được ban hành. Tôi không còn một chút hy vọng nào để bước chân vào trường Hàng Hải, đành phải nương náu hoãn dịch ở một đại học không thi tuyển. Mặc dù vậy, giấc mơ con tàu và biển cả vẫn còn đó trong tôi.

Các chuyến xe GMC âm thầm rời trường Bộ Binh Thủ Đức, đưa chúng tôi về lại BTL/HQ trước khi khóa 1/70 SQTB ra trường. Không có lễ măn khoá, không trống kèn, không đại lễ diễn hành, không cung kiếm. Cũng chẳng có một nghi thức gắn lon, trao bằng tốt nghiệp nào cả. Cởi ra bộ quân phục SVSQ Bộ Binh mà chúng tôi đã mặc trong suốt 9 tháng thụ huấn. Khoác vào bộ quân phục Hải Quân với cặp lon chuẩn úy mới tinh, tự gắn. Lòng tôi nghe nhen nhuốm cay đắng. Một cảm giác khó chịu dấy lên trong lòng. Nỗi bùi ngùi về thân phận, về cái xuất thân kỳ quái của mình… Tình nguyện vào khóa 20 SQHQ/Nha Trang, bị tái khám về sức khỏe, rồi được xếp vào tài nguyên của khoá 21. Nhưng rốt cuộc Hải Quân lại đưa chúng tôi đi thụ huấn K1/70 SQTB tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong hoàn cảnh phải chấp nhận và không được giải thích này, tôi đă mang một mặc cảm bị bỏ rơi! (Mãi đến sau này, tôi tự tìm hiểu và được biết, vì nhu cầu khẩn cấp gia tăng quân số, HQ không đủ cơ sở huấn luyện, phải gởi một số tân binh và SVSQ đi thụ huấn tại các quân trường hoặc TTHL khác, để đáp ứng với hoàn cảnh Việt Nam Hoá chiến tranh).

Đơn vị đầu tiên của tôi là Giang Đoàn 57 Tuần Thám, đồn trú tại Nhà Bè. Đây là một căn cứ quân sự của Hải Quân Hoa Kỳ, nằm trong lãnh thổ Đặc Khu Rừng Sát, thuộc tỉnh Gia Định, vùng III chiến thuật. Cấp bậc của tôi, bây giờ được kèm thêm hai chữ “Chiến Binh”. Tôi không thích danh xưng “Chiến Binh” ấy và tự hỏi, tại sao lại gọi là chiến binh? Để phân biệt chăng? Nhưng phân biệt để làm gì?! Khi tất cả đều cùng chung một lý tưởng phục vụ?! Cũng may, nỗi buồn rồi qua mau khi tôi gặp lại hai người bạn cùng khoá 1/70 đến trình diện trước đó một ngày. Không kể CHT và CHP, sĩ quan của đơn vị gồm mười hai người. Trong đó, có đến chín người là”Chiến Binh”, cấp bậc từ chuẩn úy đến thiếu úy. Xuất thân các khóa 3/69, 6/69, 1/70 TĐ. Ngoài ra, còn có hai chuẩn úy Đoàn Viên và một chuẩn úy OCS. Chúng tôi không gặp nhau thường xuyên vì được phân tán theo các toán công tác khác nhau. Hoạt động tuần tiểu, hành quân trong các trục và khu vực cũng khác nhau.

Lúc ấy, đơn vị còn đang trong giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện tại chỗ (OJT). Chúng tôi thực tập qua những chuyến công tác trên chiến đỉnh Mỹ. tất cả đều xa lạ. Mặc dù vậy chúng tôi cũng đă cố gắng để sớm hội nhập vào môi trường sống mới, quen dần các sinh hoạt, cũng như rất ngưỡng mộ tinh thần kỷ luật, thái độ lịch sự, tôn trọng cấp bực của mỗi một quân nhân Hoa Kỳ mà tôi gặp gỡ.

Địa danh Nhà Bè, không xa lạ gì đối với người dân thành phố. Nhà Bè, một quận lỵ nhỏ gắn liền với Rừng Sát. Vùng nước lợ, đất thấp ngập nước, sình lầy, sông rạch chằng chịt, rậm rạp dây leo và cây thấp. Nhiều muỗi, rắn rết và cá sấu. Trong quá khứ Rừng Sát đã được biết đến qua các cuộc hành quân tiểu trừ loạn quân Bình Xuyên, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Rừng Sát. trải rộng 405 dặm vuông. Từ ranh giới Cát Lái, dọc quốc lộ 15 đi Vũng Tàu, suốt chiều dài sông Thị Vải, vòng qua vịnh Gành Rái, Cần Giờ, Long Thạnh, cửa sông Đồng Tranh, rồi bọc vòng lại Nhà Bè với sông Soài Rạp. Đôi khi địa bàn hành quân mở rộng đến vùng cửa sông Vàm Cỏ, lãnh thổ của tỉnh Long An và Vàm Láng thuộc tỉnh Gò Công. Các đơn vị đồn trú và tham chiến Việt Mỹ, gồm đủ cả Hải Lục Không Quân. Nhưng nỗ lực chánh vẫn là các lực lượng trấn giữ của Đặc Khu Rừng Sát. Riêng về HQVN, ngoài giang đoàn 57 TT, còn có 27 Xung Phong, 93 Trục Lôi và đôi khi có thêm một hay hai phân đội của giang đoàn 52 TT từ Cát Lái đến tăng cường. Đặc biệt hơn là các đơn vị Tình Báo, Biệt Kích, Thám Sát, Người Nhái, vẫn thường xuyên, âm thầm hoạt động.

Những trận đánh rất thường xảy ra, nhưng không ở mức độ lớn. Đại quân của CS nếu có thể, chỉ ở phía bên kia núi Thị Vải, Bà Rịa. Địa thế Rừng Sát, cây thấp, nước ngập, sông rạch chằng chịt không phải là nơi tập trung quân tốt. Nhưng lại là một vị trí chiến lược quan trọng. Địa thế rất thuận lợi cho lối đánh du kích, giao liên, nơi ẩn náu của các toán đặc công phá hoại CS, nhằm xâm nhập, khủng bố quấy rối Saigon. Đây cũng là vị trí yết hầu mà CS luôn ước muốn bóp nghẽn, cắt đứt thủy lộ huyết mạch Lòng Tào để ngăn chận nguồn tiếp vận vào thủ đô.

HQ Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng giang đoàn là một người uy quyền, ông nói tiếng Anh khá thạo nên tạo được sự kính nể của ban cố vấn Hoa Kỳ, nhờ vậy vấn đề tiếp liệu, sửa chữa các chiến đỉnh được đầy đủ, chu đáo. Ở một cấp bậc thấp, tôi thật ngưỡng mộ kiến thức kỹ thuật, tài tháo vát điều hành của ông. Nhưng lối đối xử đôi khi thiếu tôn trọng nhân phẩm đối với thuộc cấp của ông, đã làm cho tôi rất khó chịu. Có lần tôi bạo dạn, yêu cầu ông đừng nói ĐM và mày tao với tôi vì Hải Quy không quy định như vậy. Thú thật khi yêu cầu như thế thì tôi rất lo lắng và chờ đợi một phản ứng trừng phạt của ông. Nhưng ông đã lắng nghe và sau gần một năm phục vụ, ông đă đưa tôi từ vị trí một SQ trưởng toán tuần tiểu lên trưởng khối giang đỉnh và rồi SQ hành quân.

Trong bối cảnh chiến tranh càng lúc càng gia tăng, phải đương đầu với vất vả, nguy hiểm hằng ngày. Sự căng thẳng sống chết đă biến những người lính trở nên lì lợm, bướng bỉnh. Họ là những chiến sĩ can trường, nhưng cũng là những con ngựa bất kham! Họ cũng như chúng tôi, mang một thân phận “bất phùng thời”. Có những người là thủy thủ tập sự hay cải tuyển đã hai, ba năm mà chưa được đi học chuyên nghiệp. Có những người đă tử trận mà vẫn chưa thành thủy thủ. Còn lại một số đã từng mặc hai ba sắc áo lính trong chiến trận. Những ngày đầu ra đơn vị đầy thử thách. SQ trưởng toán không có lính cơ hữu. chỉ mang trách nhiệm điều động 2 giang đỉnh trong một chuyến công tác mà thôi. Người có quyền hạn trực tiếp đối với các thủy thủ trên chiến đỉnh là HSQ thuyền trưởng. Đó là vấn đề rất tế nhị trong lănh vực chỉ huy. Các thuyền trưởng nhận lệnh từ SQ trưởng toán. Nhưng thủy thủ đoàn lại phục tùng thuyền trưởng hơn là SQ trưởng toán. Nếu không khéo, SQ trưởng toán có thể bị cô lập và ngược lại, nếu vì sợ bị cô lập, không dám chứng tỏ quyền hạn chỉ huy của mình để hoàn tất công tác, thì vị SQ trưởng toán ấy phải nhận trách nhiệm đối với CHT. Khi nhìn những vết xâm, vết thẹo chằn chịt trên ngực hay trên cánh tay của hầu hết các thủy thủ và một vài thuyền trưởng, tôi thật có nhiều ái ngại! Một gã học sinh, ngơ ngẩn vào lính. Cái lon chuẩn úy trên vai quả thật nhẹ bổng, non choẹt đối với những người lính dày dạn chiến trận. Điều tôi lo lắng không hẳn chỉ với quân thù mà chính là làm sao để điều động được những người lính này. Làm sao để khiến họ phục tùng khi giáp trận. Khó khăn rồi cũng qua đi. Khi những chiếc huy chương nhỏ được cài lên ngực áo, thì cũng chính là lúc mà tôi thông cảm và ngưỡng mộ sự hy sinh vô cùng lớn lao, xứng đáng của những người lính xâm mình lì lợm ấy.

Chiếc huy hiệu tam giác nền xanh lá cây ở giữa nổi bật hình chiếc giang tốc đỉnh PBR đang cắt sóng với hàng chữ Giang Đoàn 57 Tuần Thám. Đă bắt đầu cho tôi niềm hănh diện khi đeo nó trên ngực áo. Hai chữ “Chiến Binh” vẫn còn đó, nhưng dường như không ai màng đến. Trước các cuộc hành quân và tuần tiểu liên miên, trước cảnh sống chết mỗi ngày, chúng tôi chỉ còn rất ít thời gian để gặp gỡ. Và tình chiến hữu bỗng dưng trở nên gắn bó, sâu đậm như anh em. Cụm từ “huynh đệ chi binh” đă không còn là những khẩu hiệu, những nhắc nhớ trong âm nhạc mà chính là tinh thần sống của chúng tôi. Một giang đoàn tác chiến!

Cuối năm 1971, bất ngờ tôi được thuyên chuyển về BTL/HQ/KQH làm Trưởng Tiểu Ban Huấn Luyện Liên Quân thuộc Phòng Điều Huấn. Công việc của tôi là liên hệ, điều hành thủ tục các khóa huấn luyện bên ngoài HQ. Đặc biệt là lo thủ tục cho các SQHQ dự thi tuyển và vào học tại các trường Kỹ Sư Phú Thọ. Công việc tham mưu văn phòng, nhàn hạ, an toàn, có thể là một hấp dẫn của nhiều người. Nhưng với tôi, ngày càng thêm căng thẳng, bởi có quá nhiều đụng chạm. Tất cả những bước cứu xét tuyển chọn khóa sinh, đều phải dựa trên những điều kiện qui định bởi các văn thư của BTTM hay BTL/HQ. Thế nhưng sau khi báo cáo danh sách tuyển chọn, tôi thường xuyên phải đương đầu với những cú gọi đầy áp lực của một số SQ cao cấp trong hoặc ngoài BTL/HQ, gởi gấm, nhờ giúp đỡ cho thân nhân, đàn em của họ, những người không đủ điều kiện, nằm trong danh sách bị loại. Có khi đó là những lời “Toi, Moi” lịch sự nhả nhặn, có khi là hằn giọng hăm he. Tôi thất vọng, chán nản, xin trở lại giang đoàn tác chiến hay ra khỏi quân chủng. Đại Tá TMP/QH là một cấp chỉ huy mà tôi hằng kính trọng. Ông là người trí thức, bao dung nhân hậu. Trong tâm tình của người anh, ông an ủi và khuyên nhủ tôi nhẫn nại, chịu đựng, trở lại làm việc…

Bạn bè cho tôi là người hay lý tưởng hóa vấn đề, thiếu thực tế ! Điều đó đúng, tôi biết rő. Nhưng tôi không thể thoát ra được quan niệm công bằng trong tương quan cuộc sống. Phải chăng công bằng chỉ là một ước vọng?! Vừa định làm đơn xin trở lại giang đoàn tác chiến một lần nữa, thì được biết có khóa 1ĐB/SQHQ/NT dành cho các SQ Chiến Binh, tôi mừng quá ghi danh ngay

Tuần Dương Hạm HQ.2 Trần Quang Khải

HHTQK

Mãn khóa, tôi về tuần dương hạm HQ2 cùng với 3 người bạn. Đây là một chọn lựa mà chúng tôi đă hănh diện trước tràng pháo tay của các bạn đồng khóa.

HQ2 đă biến giấc mơ “Đi Biển” của tôi thŕnh sự thật. Tôi thích ứng ngay đời sống trên chiến hạm… Cho dů sóng to gió lớn, lạnh buốt sương mù hay những ngày êm ả nắng ấm… Biển cả luôn là một hấp lực, cuốn chặt tôi vào những say mê riêng tư. Tôi tha thiết với những ngày tháng trùng khơi sóng gió ấy, học hỏi rất nhiều trên đủ mọi lãnh vực. Từ chuyên môn đến chỉ huy. Tôi trân quý các kiến thức “Đi Biển” lượm lặt được từ những người đi trước, bạn bè và sách vở. Sóng và gió biển đă làm cho huy hiệu trên mũ và cặp lon trên vai của tôi đen xanh lại. Kinh nghiệm biển cả cũng nhờ đó lớn dần. Tôi dạ dẫm từ một SQ trưởng khẩu đại bác 127 ly, SQ hải pháo, cho đến Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Chiến Báo, rồi Trưởng Khối Hành Quân. Có lẽ vì đi biển là sở thích, nhưng cũng có lẽ từ một mặc cảm sâu thẳm nào đó của quá khứ, tôi luôn luôn buộc mình phải cố gắng. Tôi muốn thử nghiệm khả năng của một gã mang thân phận “Lưu Đày”.

Khác xa với không khí cởi mở, gần gũi “huynh đệ chi binh” như ở giang đoàn tác chiến, đời sống trên chiến hạm thật quy cũ, nguyên tắc và kỷ luật. Truyền thống ấy dựa trên quyền lực của Hạm Trưởng và các sĩ quan chỉ huy. Một kỷ cương có lẽ đã lâu đời trong lịch sử hàng hải Tây Phương, của những thời thuyền buồm. Mang dáng vẻ phong kiến mà ở đó SQHQ là giai cấp chỉ huy hoàng tộc và thủy thủ là giai cấp phục tùng bình dân. Trong khuôn khổ kỷ luật như vậy, quả thật đã trấn áp được nhiều cuộc nổi loạn của thủy thủ trong quá khứ. Đă chứng tỏ được sức mạnh của phục tůng tuyệt đối trong các cuộc hải chiến giữa các hạm đội hay với hải tặc xưa kia. Nhưng xem ra, nguyên tắc lănh đạo như thế quá khô khan, gò bó! Cả 4 gã “Lưu Đày” chúng tôi đều phải cố gắng gò mình trong cái khuôn khổ mới. Tuy vậy, đối với các SQHQ (truyền thống) dường như đó là điều tự nhiên.

“Lưu Đày” không có thói quen ấy, không đặt nặng ranh giới giữa SQ, HSQ và Đoàn Viên. Sự hoà mình trong quan niệm chỉ huy có lúc trở nên một vấn đề bị chỉ trích trên chiến hạm. Có lần tôi bị Hạm Trưởng than phiền rằng: “Anh làm đục nước Hải Quân” khi ông thấy tôi có mặt trong một quán nhậu chung với các thủy thủ. Hạm Trưởng rất đúng trong phương cách tạo sự cách biệt, důng uy quyền để chỉ huy. Nhưng chúng tôi không được huấn luyện như vậy. Trường Bộ Binh dạy chúng tôi lối chỉ huy của một SQ Bộ Binh, biết vận dụng sức lực của con người qua tâm lý “đồng tâm cộng khổ”, “huynh đệ chi binh”, cái nhìn chỉ huy mang tính cách liên đới “tình cảm” trong đó có trách nhiệm của người anh và bổn phận của đàn em. Cái nhìn gắn chặt “đội hình”, nghĩa là toàn đội và đồng bộ. Bởi vì rất dễ hiểu, khung cảnh sống của binh sĩ Bộ Binh không bị cô lập như các thủy thủ trên một con tàu giữa đại dương. Vã lại, “uy quyền” của một trung đội trưởng Bộ Binh tác chiến không đủ để áp lực, buộc các thuộc cấp xung phong thí thân xuyên thủng phòng tuyến địch nếu không có sự liên hệ tình cảm trước khi tuân phục. Muốn vậy, người SQ vừa là cấp chỉ huy nêu gương dũng cảm lại phải vừa là người anh được sự thương mến, gần gũi của đàn em.

Thời gian trước Hiệp Định Paris 1973. Chúng tôi rất bận bịu, hải pháo ngày đêm, tuần tiểu không thấy ngày về bến. Thường thì nhận tiếp tế ngoài biển. Nhưng đôi khi cũng có ghé vào một vài căn cứ vùng duyên hải. Rồi lại đi ngay, chẳng có chi đội nào được đi bờ. Những lúc ấy thật là thiếu vắng cái không khí sinh hoạt của đất liền. Tôi thèm lắm màu xanh lá cây, thèm lắm một chút xe cộ, bụi đất và cũng nhớ lắm hình ảnh xum họp gia đình. Biển cả đâu phải chỉ có những ngày rì rào nắng ấm, con tàu đâu phải chỉ êm đềm rẻ sóng trùng dương. Đã bao lần chiến hạm phải đặt trong tình trạng kín nước, đương đầu với sóng gió băo táp, sương mù. Mũi tàu như cắm vào biển cả và chân vịt như gầm gừ giữa khoảng không. Những cái lắc nghiêng ngả, xô đẩy, răn rắc của vỏ tàu… và những chàng Thủy thủ bơ phờ xiểng niểng, vài chàng mắt mũi lem nhem, tay bám thành tàu, tay xách thùng sô ói mửa… Chiến hạm trân mình xuyên qua từng đợt sóng dữ dội, hất té những con chuột say mèm sóng gió xuống sàn tàu, quay cuồng rồi lăn tòm xuống biển. Tôi mệt mỏi, bơ phờ, nhưng đầy thích thú.

Vào năm 1972. Một phái đoàn “Nghiên Cứu Phân Chim” của Bộ Quốc Phòng (?) gởi tháp tùng chiến hạm ra đảo Hoàng Sa. Trong buổi chiều, trước giờ hoàng hôn, biển bắt đầu động nhẹ, chúng tôi vài người còn nán lại ở sân mũi, chuyện trò. Bất ngờ, một vị Trung Tá Phòng 7 TTM thuộc phái đoàn, bước ra và nhập bọn với chúng tôi. Trong câu chuyện vui vẻ, ông nói : “HQ mấy anh sướng quá! Ăn cơm ngồi bàn, muỗng nỉa. Ngủ giường nệm trắng, tắm nước nóng. Chẳng bù với chúng tôi, muỗi mòng, vắt đỉa, sình lầy, gạo sấy, mưa nắng vất vả”! Đang nói, bất ngờ ông lợm giọng, ói một ngụm xuống biển (cho cá ăn!). Chúng tôi biết ngay là ông đang say sóng, nhưng không ai nói ra, chỉ đề nghị ông vào phňng nghỉ ngơi. Ông không chịu! Cho đến ngụm thứ 3 thì ông từ giả, “Có lẽ tôi bị trúng gió. Thôi chào các anh em nhé!”. Dáng ông nghiêng ngả theo nhịp lắc của con tàu . Chúng tôi nhìn theo cùng cười và thông cảm. Những ngày sau đó, chúng tôi không hề thấy ông, kể cả giờ cơm ở phòng ăn SQ. Thời gian công tác rồi cũng qua, tàu về neo ở cửa Tiên Sa Đà Nẳng. Chúng tôi tiển đưa phái đoàn qua PCF để vào bờ. Vị Trung Tá P7/TTM hôm ấy, đă đến bắt tay tôi, nụ cười thật tươi như sắp thoát khỏi một hoạn nạn. Ông nói, “Tôi nghĩ đi lính Bộ Binh sướng hơn! 
Đời lính thủy đâu có phải chỉ đương đầu với sóng gió. Phía sau giấc mộng hải hồ là cả một thử thách, những khứng chịu của sự cô đơn, của tách rời, của thèm khát mà một người trong đời sống bình thường không thể nào có thể cảm nhận và thông cảm được. Tôi chợt nhớ đă đọc được trên lưng chiếc Jacket của một anh Hạ Sĩ Giám Lộ, “HQ2 cù lao sắt”, hoặc là hàng chữ xâm trên tay của một chàng Thủy Thủ Vận Chuyển, “Xa quê hương nhớ mẹ hiền” . Hay những dòng chữ nguệch ngoạc “Ôi biển cả bây giờ ta mới biết. Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta!” trên một giường bố nào đó, trong phòng ngủ đoàn viên. Tôi hiểu rất rõ sự khứng chịu ấy và hòa nhập hoàn toàn vào những cảm xúc thiếu vắng của họ. Đời thủy thủ là như thế đó. Nhưng bổn phận, trách nhiệm và kỷ luật đã gắn chặt tất cả chúng tôi với biển cả bằng một sức chịu đựng chân thŕnh.
Về Sài Gòn. Quả như cánh cửa thiên đàng mở rộng, lòng chúng tôi hân hoan vô kể. Những bộ tiểu lễ được đem ra mặc và nhiệm sở dàn chào thật nghiêm trang, đầy hãnh diện. Lâu lắm, chúng tôi mới được trở lại thủ đô mến yêu. Tàu có 3 chi đội, nhưng đâu phải được đi bờ 100%. Chúng tôi luân phiên, một chi đội rời tàu đi bờ. còn lại 2 chi đội, ứng trực và trực phải có mặt trên tàu 24/24. Một lần tàu về Sài Gòn. Gặp lúc chi đội của tôi trực, nhưng anh em vẫn vui vẻ, náo nức chờ xuống phiên rồi sẽ đi bờ ngày hôm sau. Bất ngờ được lệnh nhận tiếp tế đạn tại chỗ và ra khơi công tác vào ngày mai. Lúc ấy vào buổi trưa, trời nóng bức. Tôi phải điều động cả 2 chi đội còn lại khoảng 20 người để chuyển 2000 viên đạn đại bác 127 ly từ một chiếc LCU cặp ở vị trí kế bên vào hầm đạn của chiến hạm. Lệnh công tác ban ra, chúng tôi như tiêu tan hết năng lực làm việc. Sau hơn 6 tháng xa gia đình, anh em ai cũng muốn về nhà. Ước mong tàu sẽ nghỉ được vài ngày. Nào ngờ chỉ mới một ngày, lại có lệnh đi!
Vì sự an toàn, đạn 127 ly có 2 phần rời, đầu và thân đạn. 2000 vięn đạn có nghĩa là 4000 lần chuyển đạn chia đều cho 20 người hôm đó. Trong trách nhiệm một SQ trực, tôi hiểu ngay sự khó khăn sẽ phải đương đầu đối với một hoàn cảnh tâm lý không thuận lợi như vậy. Tôi quyết định cởi áo, cůng với anh em ra khiêng đạn. Sau cùng chúng tôi hoàn tất trong hạn định. Tôi mệt lã, mồ hôi như tắm, mặt mày lem luốc, bước vào phòng ăn SQ để uống nước. Hạm Phó đă về chiến hạm từ năy giờ. Ông có mặt trong phòng ăn SQ lúc ấy. Thấy tôi, nét mặt ông bỗng trở nên hầm hầm, ông quát lớn :”ĐM, anh không biết chỉ huy! Không có tác phong. Anh bảo tụi nó làm chứ anh không phải làm! Thằng nào cải lệnh thì đá đít nó. Anh hiểu chưa?” Câu quát tháo ấy làm cơn giận của tôi suýt nổ bùng! Tôi hiểu tôi đă phạm qui định, vào phòng ăn SQ mà không ăn mặc chỉnh tề. Nhưng tôi lại nghĩ, đây là trường hợp bất khả kháng. Tôi cố gắng trình bày,”thưa HP, tôi đã hoàn tất nhiệm vụ được giao phó.”
Theo tôi, một người chỉ huy phải biết ước đoán, tiên liệu. Tůy theo hoàn cảnh, năng lực của thuộc cấp để đạt được mục đích là thi hành và hoàn tất lệnh của thượng cấp. Việc dùng uy quyền, la hét, đá đít thuộc cấp. Không nhất thiết và không phải là một cung cách chỉ huy hữu hiệu. Hai cái máy, nếu mở cùng một tần số thì nó sẽ hát như nhau. Nhưng nếu là 2 con người thì không thể áp dụng một “công thức” đối đăi như nhau được. Hơn thế nữa, buổi sáng sẽ khác buổi trưa. Chuyển đạn rồi được đi bờ sẽ khác với phải ra khơi… Người lính cũng là con người, và tôi cũng thế. Tôi nghĩ nhiều về thân phận của chính tôi, của những bạn bè đồng cảnh ngộ, của nhân viên thuộc cấp, lý tưởng và mục đích của cuộc chiến. Một ý niệm về trách nhiệm phục vụ rộng mở, không còn bị đóng khung hạn hẹp ở màu cờ sắc áo nữa. Trong cái nhìn xa hơn. Tôi tìm thấy được niềm tự hào góp phần phục vụ quê hương dân tộc.
Sân mũi báo cáo, neo đă về lại vị trí. Nhiệm sở kéo neo được giải tán. Chúng tôi vào nhiệm sở hải hành… Chiếm hạm rẻ sóng ra khơi. Qua làn khói đen từ ống khói, thành phố Vũng Tàu mờ dần ở phía sau. Một cảm giác bồi hồi lại dâng lên trong lòng. “Ra khơi”, từ ngữ thật lãng mạn, cái lãng mạn đầy ắp tính chất văn chương thơ phú! Ra khơi với đại dương mênh mông, với hoa biển, mỹ nhân ngư và ngàn sao lấp lánh… Tất cả đă một thời gợi trong tôi thật nhiều mơ tưởng. Giấc chiêm bao của tôi về con tàu và biển cả lớn lắm! Lớn như một ước vọng được tung hoành… Tôi bất chợt cảm thấy buồn cười và thương hại cho chính mình. Thực tế đã đập vỡ tất cả những giấc mơ bay bổng của tôi. Cuộc dấn thân thật sự, không giống như 2 tân thiếu úy vừa đến chiến hạm. Cái xuất thân phức tạp, đă làm mất đi niềm tự hào trong tôi. Bước đầu quân ngũ, đầy nặng nề, choáng váng trước những cú thôi sơn thực tế. Giấc mơ biển cả như tan tành! Tôi đă có ý định ra khỏi Hải Quân. Nhưng rồi cũng chính trong trạng huống đổ vỡ ấy, tôi nhận ra được cái giá trị và ý nghĩa của quan niệm phục vụ. Con người, một cách rất tự nhiên, luôn mong muốn, cố gắng tìm kiếm cho mình một chỗ đứng để được ngưỡng mộ. Muốn thế, thành tích, phong cách và tên tuổi phải được đánh bóng. Để rồi từ đó, xuất thân và truyền thống được đề cao. Thật ra niềm tự hào, tự nó, mang một ý nghĩa tốt đẹp qua việc phục vụ chung. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp nào đó, niềm tự hào rất có thể trở thành nguyên nhân của nhiều mặc cảm. Gây nên sự so sánh, mất đoàn kết.
Đi biển, một giấc mơ. Hải Quân, niềm hănh diện phục vụ. Lưu Đày một thân phận bẽ bàng! Tôi muốn thả lỏng tâm hồn. Tất cả chỉ còn là dấu vết của một đời người. Cho đến bây giờ. Sau hơn 30 năm, cuộc chiến đă chấm dứt. Bao nhiêu bạn bè đã ra đi? Bao nhiêu người là “Chiến Binh”, bao nhiêu người là “HQ Lưu Đày”, bao nhiêu người là “HQ Truyền Thống NhaTrang” , bao nhiêu người là “HQ OCS Hoa Kỳ” hay Úc Đại Lợi ?! Họ đă tự hào, đă xông pha chiến đấu và đă hy sinh. Trong cuộc chiến ấy, đạn quân thù nào có phân biệt được ai?!… Tôi nghĩ về những vị CHT hay HT đầy uy quyền, và thông cảm được sự cô đơn của họ. Những vách ngăn, rào cản do quyền bính, chức vụ tạo thŕnh, chắc hẳn đă làm cho họ nhiều trăn trở. Tôi nghĩ về những SQ, những con người nhiệt huyết, hăng say đă chôn vůi tuổi trẻ của họ cho lý tưởng tự do. Và tôi cũng nghĩ về những người lính, những anh em, bạn bè của tôi. Những người đích thực xả thân! Xả thân và xả thân… Một khối thương yêu chợt ập đến, đè nặng tâm hồn.
Tôi ngồi đây trong hình hài một người đàn ông 60. Trang sử đă lật qua. Tuồng hát đă hạ màn. Tôi rời sân khấu. Nhưng những dư âm dường như còn đâu đó. Như một hoàng hôn hạ kỳ năm nào trên biển cả, tôi thấy tôi, các bạn tôi, cả thủy thủ đoàn và con tàu đang xẩm dần trong màn đêm. Khi đčn hải hành được thắp lên, sau lái chiến hạm, màu trắng xóa của bọt biển chợt lấp lánh một thứ ánh sáng lân tinh. Ánh sáng ấy kéo dài, xa dần, tan dần, đưa tôi vào dòng ký ức. Bắt đầu lại một giấc mơ biển cả, tôi ngồi đóng những con tàu gỗ nhỏ, những sợi thun được bắn thật chính xác vào đám lính đồ chơi của phe bên kia. Giấc mơ tuổi trẻ bay bổng thật xa, không ranh giới và phân biệt.

LĐ. Nguyễn Hùng Sơn Biên Hùng chuyển

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Văn, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »

Đêm nghe tiếng Ráp Nah Sơn

Posted by Webmaster on February 3, 2015

Xin đọc thêm:  Nah… người nghệ sĩ đường phố 


Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Tác giả xin bắt chước tên một chuyện dài nổi tiếng trước 1975 của nhà văn Nhã Ca, Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, để đặt tựa bài Đêm Nghe Tiếng Ráp Nah Sơn.

Thú thật, ngày xưa người dân Miền Nam sợ tiếng đại bác “giải phóng” bao nhiêu, thì ngày nay Chổi này cũng “nổi da gà” với tiếng nhạc Ráp bấy nhiêu, mặc dầu loại nhạc được gọi là “nhạc của hè phố” này không gây nên cảnh máu đổ thịt rơi khắp nơi, từ nhà ở đến sân trường và gây nên đủ thứ tang thương; nói chung là nhạc Ráp không làm hại gì ai. Lý do “sợ” nhạc Ráp của bỉ nhân rất đơn giản: chỉ vì không hợp “nhĩ vị”, chứ chẳng hề do suy nghĩ ý tứ, dám oánh giá nọ kia một loại nhạc được không ít người hâm mộ.

Nhưng đêm qua nghe Nah Sơn ráp “ĐMCS”, bỗng dưng tôi tự nhiên “dừng chổi lắng nghe” (chữ của Trịnh Công Sơn).
Tôi nghe Nah Sơn ráp, không phải vì ghét, hận CS để khi nghe thiên hạ chửi “ĐMCS” là “khoái cái lỗ tai”; vốn đã “dị ứng” với nhạc Rap, nay lại bị đụng thêm hai tiếng “Đỗ Mười” là thứ “phản cảm” cực kỳ, nên thoạt nghe, tôi đã phải vùng dậy khỏi giường để “tắt đài” ngay (bài Rap “ĐMCS”), nhưng chưa kịp, thì tiếp sau bốn “tiếng thô bỉ” ấy đã lọt vào tai những lời lẽ làm tôi “cảm khái cách gì” (chữ của Hoàng Hải Thủy”), và tất nhiên tôi nghe đi nghe lại mấy lần sau đó.
Tôi không trích ra đây lời bài Ráp “ĐMCS”, vì “Tiên sư Anh Tẹc Nét” chưa gì đã phổ biến đầy dẫy loại tin tức không “chính thống” này, mà ngài “tưởng thú “Ba Ếch mới đây tự thú “không thể ngăn cấm được”, mà ai cũng đã nghe. Tôi chỉ ghi lại cảm tưởng sau khi nghe bài hát.
Khi đó tôi chưa biết Nah Sơn là ai. Dựa theo từ ngữ và câu cú, vần điệu của bài hát, tôi có cảm nghĩ đây là “sản phẩm” không phải của một người, mà của nhiều “tay tổ phản động”; họ không những rành rọt tội ác CS, mà còn thuộc vào hạng “thượng thừa chữ nghĩa”.
Sau khi được biết tác giả của bài nhạc Rap ĐMCS, Nah Sơn, không ai khác hơn là một sinh viên VN mới từ trong nước sang Mỹ du học, tôi càng cảm phục và ngưỡng mộ tài ba, trình độ hiểu biết, lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cho quê hương dân tộc của người tuổi trẻ VN này, nên để ý đến những bài liên quan đế anh. Trong “Thư gửi người Việt Nam”, Nah Sơn có lời xin lỗi công chúng thính giả về “ĐMCS”, như sau:
“Trước tiên, tôi xin lỗi công chúng vì những lời bài hát và nội dung bài hát phàm phu tục tử. Tuy nhiên tôi mong mọi người hiểu rằng đó là cách chúng tôi thu hút sự chú ý của giới trẻ, để rồi sau đó nói lên sự thật cho họ nghe. Tiếng chửi thề cũng là một phần trong đời sống của nhiều người, và rap là một dạng văn học hiện thực. Đừng đánh giá sự việc chỉ qua bề nổi của nó.” (Sic)
Cám ơn Nah Sơn về những lời xin lỗi trên, nhưng theo tôi, có nghe hết bài hát với nội dung bàng bạc… tội ác do CS gây nên được diễn tả bằng từ ngữ chính xác ý nghĩa, khớp đồng điệu âm, “thể nhạc lề đường” mà lời ý trí thức, mới thấy mấy tiếng “chửi tục” ĐMCS chỉ là tiếng thở dài thiếu hơi trước cảnh quê hương dân tộc VN đang phải đứng giữa, đối diện với nghìn trùng ngao ngán do “Bác và Đảng” CS dựng nên sau 85 năm nối giáo cho giặc phá nát gia cang Nước Việt.
Một người mù hai mắt phải chịu cảnh “Đêm dài một đời”(tên một tác phẩm trước 1975 của Nhà văn Lê Tất Điều); Việt Nam 90 triệu người mắt sáng nhưng đang phải lần mò trong đêm tối CS phủ xuống suốt trên tổ quốc Tiên Rồng “minh châu trời đông” đã ngót trăm năm. Biết đến bao giờ được như Nah Sơn có được can đảm để tự thoát ra khỏi bóng đêm ma quái có tên CS.

 tmp-danlambao copy

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Tagged: , | Leave a Comment »

Tiếc nhớ anh Trầm Kha – Nguyễn Văn Đồng

Posted by Webmaster on February 2, 2015

danlambaovn.blogspot.com

TramKhaNguyenVanDong-danlambao

Hải Quân Trung úy Nguyễn Văn Đồng hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974

HT Nguyễn (Danlambao) – Ngày 28 tết, tôi năm ấy 13 tuổi không còn nhỏ, nhưng cũng chưa lớn để hiểu mọi chuyện. Tôi kể lại những gì tôi còn nhớ về ngày ấy, khi anh trai tôi là trung úy hải quân Nguyễn Văn Đồng hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa.
Sáng hôm ấy, như mọi năm, gần tết là việc làm đậu để bán của nhà tôi rất bận rộn. Mẹ tôi đị chợ từ sáng. Tôi dọn bếp xưởng xong, đang tắm thì nghe thấy tiếng bà nội khóc từ ngoài cổng vào. Tôi vẫn ở trần mặc quần đùi chạy ra thì thấy Hiệp, con trai chú Hy dìu bà nội đi vào, đi cùng là một anh lính HQ. Bà nội vừa khóc vừa nói anh Đồng mày chết rồi cháu ơi. Tôi sợ cũng khóc rống lên nhưng thật sự cũng không hiểu vì sao lại có tin đó. Thực ra từ năm 1968, anh Đồng đi Võ Bị Đà Lạt 4 năm, ra trường là vào Hải quân ngay, nên hầu như không ở nhà. Thỉnh thoảng có lần về phép cũng không vào dịp Tết nên ấn tượng trong tôi từ lúc 8, 9 tuổi là anh rất nghiêm. Mỗi lần về phép anh bắt chúng tôi học cả tiếng Anh và rèn chúng tôi lau quét nhà như trong lính. Vậy mà…
Bố tôi lúc ấy chạy ra thì anh lính báo miệng nói rõ anh Đồng hy sinh ngày hôm qua (19/1) ở Hoàng Sa, hiện thi thể đưa về quàn tại Tổng Y viện Duy Tân Đà Nẵng. Bố không khóc, ông cũng là lính mặc dù chỉ là lính văn phòng đã giải ngũ nhưng ông hiểu sự tình. Đúng lúc ấy thì chú Hy đến, chú chỉ là Hạ sĩ quan nhưng làm vận tải nên đã xin một chuyến xe quân đội cấp tốc đi ngay vào Đà Nẵng để nhận thi thể anh tôi. Cùng đi có chị gái tôi là chị Thu Hương.
hq1
Còn lại ở nhà, anh Chu tôi, cùng mấy bác hàng xóm chuẩn bị dọn dẹp sắp xếp để đón anh về. Gần trưa, mẹ tôi hay tin, vứt cả quang gánh bỏ buổi chợ chạy về nhà khóc con.

Tôi cũng xin giải thích vì sao tin báo tử lại về nhà chú tôi ở 3 LTĐ. Nguyên do là nhà tôi ở trong hẻm đường Hàm Nghi nên việc gửi thư rất khó khăn, anh tôi xin địa chỉ nhà chú Hy để tiện liên lạc. Do vậy khi anh hy sinh đơn vị đã cử người về đó báo tin.
Đáng lẽ, như mọi năm nhà tôi cũng đang chuẩn bị đón Tết, vậy mà năm ấy toàn một màu tang tóc. Cành mai trắng (anh Minh cho) cũng được đem ra để ở ngoài sân. Ông Chính, người hàng xóm thuận tay định chặt cây mai vàng trồng chính giữa cửa nhà. Ông bảo trồng như thế xấu và cản trở việc tang lễ nhưng mẹ tôi khóc không cho chặt cây. Cả nhà tôi khóc và cùng ngồi chờ. Hàng xóm cũng ra vào và ngóng chờ.
HQ Trung Úy Nguyễn Văn ĐồngTrưa hôm sau (29 Tết), xe đưa thi thể anh tôi về nhà. Tiếng khóc vang. Những người lính đi hộ tống khiêng quan tài anh tôi vào đặt giữa nhà. Cả nhà tập trung lại, hàng xóm cũng rất đông. Nắp quan tài mở ra, thân xác anh tôi đã được tẩm quấn vải trắng, khuôn mặt chừa lại nhìn như người đang ngủ. Anh vẫn rất đẹp trai như khi còn sống. Sau này, bố tôi kể lại khi vào nhà xác nhận thi thể anh, thấy anh chết nhưng thân thể vẹn toàn, chỉ có một vết thương cỡ một ngón tay ở thái dương nên quyết định cho tẩm liệm nhưng không đóng chặt nắp quan tài để về mở ra cho mọi người nhìn anh lần cuối.
Buổi tẩm liệm bắt đầu, Trung tá Thông, Giang đoàn trưởng Giang đoàn 32 xung phong đóng ở Huế đọc diễn văn truy điệu và thừa ủy nhiệm Tổng thống gắn lon truy thăng Đại úy, truy tặng Bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng và Anh dũng bội tinh nhành dương liễu. Từ lúc đó 2 bên quan tài luôn có 6 người lính trang phục chỉnh tề đứng nghiêm.

Trung úy Phú, người cùng học VBQG Đà Lạt và rồi cùng chiến đấu trên HQ5 với anh Đồng kể lại: Lúc chiến sự nổ ra, anh Đồng là sỹ quan trưởng khẩu pháo lớn nhất và quan trọng nhất của tàu HQ 5 Trần Bình Trọng. Anh chỉ huy trên pháo tháp và bắn cháy tàu Trung Cộng, HQ5 cũng bị bắn trả dữ dội. Khoảng 11 giờ, chiến sự ác liệt, thuộc cấp có vẻ nao núng thì anh Đồng hét to “Không sợ, có chết tao chết trước”, vừa dứt lời thì một phát đạn trúng pháo tháp, anh ngã xuống hy sinh cùng lúc có cả người lính xạ thủ. Có người kêu lên, thằng Đồng chết rồi và vài người khiêng xác anh xuống để vào vị trí quàn thi thể. Cuộc chiến tiếp tục. Chiều tối đó tàu được lệnh quay về Đà Nẵng, nhờ vậy mà thi thể anh được về với đất mẹ không phải thủy táng. Anh Phú mang về trao kỷ vật cho gia đình, một ít tiền, nhiều sách thơ văn của anh, một cái nhẫn Võ Bị K25, một đồng hồ Seiko 5, và một cái ná dây thun, ít quần áo.
Cả đêm hôm đó mọi người có mặt đều không ngủ.
Sáng hôm sau, 30 Tết, lễ động quan và di quan đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Tang lễ diễn ra theo quân cách, 2 hàng lính hải quân, lục quân trang phục chỉnh tề tiễn đưa và khi hạ huyệt có bắn mấy phát súng chỉ thiên. Anh nằm lại ở nghĩa trang xã Thủy Phước, Tỉnh Thừa Thiên Huế bấy giờ.
Cuộc đời anh dừng lại ở tuổi 26, tuy vậy anh cũng để lại nhiều ký ức. Năm 1968 anh là sinh viên Luật, tham gia Thanh niên thiện chí, có sáng tác thơ văn và hoạt động văn nghệ. Khi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh cũng là cây bút sung sức viết nhiều cho Đa hiệu và các tap chí Văn khác với bút hiệu TRẦM KHA. Anh có một tập thơ Đông Phương đã chuẩn bị xong nhưng chưa kịp in, bản thảo đưa về gia đình, chiến sự năm 1975 bản thảo bị thất lạc.
Năm nay, nhân 40 năm ngày anh mất, tôi viết lại những dòng này để tiếc nhớ thương anh.

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Tưởng Niệm - Tri Ân | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Thuỵ Điển đóng cửa Viện Khổng tử

Posted by Webmaster on February 2, 2015

 

Đàn Chim Việt – |  

LTS Đàn Chim ViệtRất nhiều nước đã đóng cửa viện Khổng Tử vì cho rằng, núp dưới chiêu bài dạy tiếng, Trung Quốc đã lồng ghép vào đó các mục tiêu chính trị và tuyên truyền cho chế độ cộng sản, thậm chí có thể là hoạt động tình báo. Trong khi đó, Việt Nam lại mới  khai trương rầm rộ viện Khổng Tử. Bản tin dưới đây đã xuất hiện trên mạng cách nay hơn 2 tuần, nhưng để giúp chuyển tải thông tin rộng rãi tới dư luận, chúng tôi xin đăng lại.

logokhongtuĐH Stockholm, Thuỵ Điển là trường đại học mới nhất thông báo sẽ đóng cửa Viện Khổng tử – một trong hàng trăm trung tâm được Chính phủ Trung Quốc rót ngân sách để phục vụ việc học tiếng Trung và văn hoá nước này trên toàn thế giới.

Mới đây, ĐH Chicago và ĐH Bang Pennsylvania đã đóng cửa Viện Khổng tử của trường trong bối cảnh ngày càng lo ngại liệu các trường sở hữu Viện này có đang để cho Chính phủ Trung Quốc can thiệp thái quá vào chương trình giảng dạy và đội ngũ giảng viên hay không.

Phó hiệu trưởng ĐH Stockholm – bà Astrid Söderbergh Widding phát biểu với tờ Svenska Dagbladet của Thuỵ Điển rằng việc thành lập các viện được tài trợ bởi một quốc gia khác trong một trường đại học nhìn chung vẫn còn đáng nghi ngại và mơ hồ.

Trong một tuyên bố trên trang web của trường, nhà trường thông báo sẽ đóng cửa Viện Khổng tử vào ngày 30/6. Được biết, Viện này được thành lập tại ĐH Stockholm từ năm 2005.

Khác với các viện khác như Goethe hay Alliance Française, Viện Khổng tử có trụ sở trong chính các trường đại học nước ngoài. Viện này đặc biệt thu hút sự quan tâm của nhiều trường khi nhận được ngân sách từ Chính phủ Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, các Viện Khổng tử đang bị chỉ trích vì tuyên truyền những quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới chiêu bài giảng dạy tiếng Trung. Các giáo viên làm việc cho Viện này bị cấm thảo luận những chủ đề nhạy cảm như Đài Loan, Tây Tạng hay Pháp Luân Công. Họ cũng bị cấm đi theo các tôn giáo không được lòng chính quyền Trung Quốc tại Trung Quốc.

Tờ Epoch Times cho hay, những tranh cãi về việc phân biệt đối xử khi tuyển dụng ở Viện Khổng tử thuộc ĐH McMaster (Ontario, Canada) đã khiến nhà trường quyết định đóng cửa Viện này vào tháng 7 năm 2013.

Cuối năm 2013, Hiệp hội các giảng viên đại học Canada đại diện cho hơn 70.000 học giả Canada đã kêu gọi các trường đại học, cao đẳng cắt đứt quan hệ với các Viện Khổng tử.

Tháng 6 năm 2014, Hiệp hội giảng viên đại học Mỹ đã nối gót theo Canada trong việc kêu gọi các trường đại học không hợp tác với các Viện Khổng tử gây nhiều tranh cãi này.

Tháng 9 năm 2014, ĐH Chicago từ chối gia hạn hợp đồng duy trì Viện Khổng tử và một tuần sau khi trường này công bố quyết định, ĐH Bang Pennsylvania cũng làm theo.

Nguyễn Thảo (Theo Insider Higher Education) – VietNamNet

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: , | Leave a Comment »