Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for April, 2014

Thành Kính Phân Ưu cùng Gia Đình HQ Nguyễn Hoàng Vân

Posted by Webmaster on April 28, 2014

Hoa Funeral 7

Chúng tôi nhận được tin buồn

Nhạc Mẫu của Ca Sĩ Hoàng Vân tức HQ Nguyễn Hoàng Vân,

CỤ BÀ TRẦN TÚ LAN

Nhủ Danh TRẦN THỊ CA

Vừa tạ thế ngày 23 tháng 4 năm 2014 tại Quincy Massachusetts,  hưởng thọ 76 tuổi.

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England xin thành thật chia buồn cùng gia đình anh chị Hoàng Vân

và Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ Bà được an nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng.

 Thành Kính Phân Ưu

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

 

 

Advertisements

Posted in HPNCV/NE, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Phân Ưu | Tagged: | Leave a Comment »

III. Sirik Matak (trích Kim Thanh: PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU ?)

Posted by Webmaster on April 19, 2014

Trung úy Nguyễn Kim Quý

Trung úy Nguyễn Kim Quý

 

III. Sirik Matak :

     “My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109)

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay Cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt, kẻ thù của đất nước ông, đang được đỡ đầu bởi Trung Cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một cụm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).

Phạm Kim Vinh dịch cụm từ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ –đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho nhân dân Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên tivi, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu.” Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ –điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ– và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ –vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hỗ thẹn lương tâm người Mỹ.

Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975.
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle –chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và bọn Giải phóng Miền Nam và Cộng sản Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị bọn xâm lăng miền Bắc sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.

Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.
Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak –một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc Kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình để khỏi sa vào tay giặc. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):

“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355).

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt?
Ngày 30/4/75, trong lúc Cộng quân tràn vào thành phố Sài Gòn, một sĩ quan Cảnh sát VNCH bước đến trước tượng đài Chiến Sĩ Trận Vong, sau khi đứng nghiêm chỉnh chào, đã tự bắn chết (nằm dưới chân tượng).

Ngày 30/4/75, trong lúc Cộng quân tràn vào thành phố Sài Gòn, một sĩ quan Cảnh sát VNCH bước đến trước tượng đài Chiến Sĩ Trận Vong, sau khi đứng nghiêm chỉnh chào, đã tự bắn chết (nằm dưới chân tượng). Hình và chú thích lấy từ quyển The Fall of the South, Boston Publishing Company, 1985.

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông –một lãnh tụ khác chủng tộc, nhưng đồng hội đồng thuyền trong nỗi đau mất nước. Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam.

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút –đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.

Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen 2011
kim thanh

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Tưởng Niệm - Tri Ân, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

EM VẪN SỐNG

Posted by Webmaster on April 19, 2014

CẨM NGCC  –  [ Viết năm 1978]

Nhân tháng 4 về, thân gởi bài thơ tâm sự của người vợ có chồng là ” Tù Cải Tạo “,
mong được các Anh Chị đồng cảnh ngộ cùng chia xẻ với tác giả .  Vợ Trương Ngọc Phước.

caitao2

EM VẪN SỐNG

Em vẫn sống để hiên ngang nhận lãnh
Trọng trách làm người, làm vợ thủy chung
Mặc chông gai và sóng gió bão bùng
Em vẫn sống để chờ Anh trở lại

Không thể chết dù mang nhiều thảm bại
Trên đường đời bao tủi nhục đắng cay
Nén đau thương ôm chua xót từng ngày
Vì hạnh phúc và tương lai con cái

Em vẫn sống dù mưa dầu nắng dãi
Cố vẹn toàn gương ” Tiết Hạnh Khả Phong”
Vẫn bền gan vượt hầm hố gai chông
Vẫn đứng vững chờ chồng nuôi con dại
Thầm cầu mong hai đứa còn gặp lại
Để đền bù bao năm tháng đợi mong
Lòng dặn lòng luôn khắc phục khó khăn
Xóa tan hết những nghĩ suy cuồng dại

Em vẫn sống giữ niềm tin mãi mãi
Noi gương xưa và vững dạ đợi chờ
Anh sẽ về cho em trọn ước mơ
Cùng dệt nốt những vần thơ tương hội .

CẨM NGỌC
[ Viết năm 1978]

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Thơ, Văn Nghệ | Leave a Comment »

Nga và Ukraine – Tàu và cộng sản Việt Nam

Posted by Webmaster on April 17, 2014

Putin cảnh báo Ukraina đứng bên bờ vực nội chiến

 

Vladimir Putin không ngừng phát biểu về tình hình Ukraina - REUTERS /Denis Sinyakov

Tối qua, 15/04/2014, Tổng thống Nga Vladmir Putin đã điện đàm với Thủ tướng Đức Angela Merkel và cảnh báo là Ukraina đang ở bên bờ vực nội chiến, sau khi chính quyền Kiev điều động quân đội đến miền đông để trấn áp các nhóm nổi dậy, đòi ly khai.

 

Bán đất, bán biển đảo… còn gì để bọn CS bán nữa?

Vũ Bất Khuất (Danlambao)

Bán lòng yêu nước - bán dân - bán niềm tin

Trong suốt qua trình tồn tại của bầy đàn cộng sản tại Việt Nam, chúng đã lần lượt ký bán rất nhiều thứ cho quan thầy của chúng mà người dân thì không thể nào biết được mãi cho đến khi Internet phổ cập. Ngoài những vụ việc bị vỡ lỡ như Hoàng Sa, Ải Nam Quan một phần đất dọc biên giới Việt Trung, Trường Sa, một phần vịnh Bắc bộ, bauxite Tây Nguyên… chúng còn bán rất nhiều thứ nữa, ngoài những mảnh đất mang tính cụ thể, mà chỉ cần một chút nghĩ suy là nhận ra ngay.

 

 

 

 

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Đời sống quanh ta | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tâm-Tình Với Mẹ

Posted by Webmaster on April 15, 2014

Hoa Funeral 4

Tâm-Tình Với Mẹ

Mỹ Quốc ngày 14 tháng 4 năm 2014

Kính thưa quí Cha, Sơ, Thầy, quí Cụ, Ông Bà, Cô Bác, bạn-hữu và gia-đình:

Con xin đại-diện các con cháu ở xa nhà dâng chút tâm-tình lên Mẹ chúng con trong dịp tiễn đưa Mẹ về Thiên Đàng.

Đêm qua ở Mỹ, con giật mình thức dậy nhận điện-thoại của Cấp gọi báo Mẹ vừa qua đời. Lúc ấy là giờ ban trưa ở Việt Nam. Chúng con xin dâng linh-hồn Maria Mẹ chúng con lên Thiên Chúa như một của lễ trọn đời hi-sinh và sống cuộc sống làm con Chúa. Lòng chúng con tràn-ngập nỗi buồn, niềm vui, lời cầu-xin và lòng cảm-tạ Chúa cho Mẹ chúng con.

Chúng con buồn vì cuộc chia-li với Mẹ thì ít nhưng vì nhìn lại cuộc đời đầy những hi-sinh vất-vả của Mẹ thì nhiều. Năm 1954, Mẹ bỏ Ông Bà Ngoại, các Cậu Dì để theo Thầy di-cư vào Nam. Lần đầu-tiên con hiểu được nỗi đau buồn của Mẹ là lúc nhận tin Ông Ngoại mất 8 năm sau đó. Lúc ấy nỗi đau của Mẹ được dịp vỡ òa ra theo những dòng nước mắt.

Bây giờ chúng con xa gia-đình nhưng có một tương-lai, có những phương-tiện liên-lạc tân-tiến nên xa cũng cảm thấy như gần. Trái lại, cuộc đời của Mẹ toàn là những xa-cách, mất-mát và hi-sinh. Năm 1964 Ông Bà Nội, Thầy Mẹ và bà con phải bỏ làng Quí Hiệp vì chiến-tranh​, chạy về Thủ Đức bắt đầu lại một cuộc sống từ bước đầu. Thầy Mẹ phải đầu tắt mặt tối lắm mới nuôi nổi chúng con nên người. Con làm sao quên được những ruộng rau muống dưới thì bùn ngập đến bắp đùi, trên thì nắng chói chang mà Thầy Mẹ phải cong lưng một nắng hai sương. Đến thời-gian trồng ruộng khô thì Thầy Mẹ phải gánh nước tưới vài trăm gánh mỗi ngày ngoài việc phải gò lưng nhặt cỏ, xới hái, bỏ phân.

Ngoài những vất-vả thể xác, Thầy Mẹ còn gánh những đau-khổ tinh-thần. Cả cuộc đời, chẳng mấy khi Thầy Mẹ được đoàn-tụ trọn-vẹn với các con. Không vắng đứa này thì thiếu đứa kia. Dù là dâng các con cho Chúa bằng cả những hi-sinh tinh-thần và vật-chất, nhưng hình như Thầy Mẹ chưa được bù-đắp.

Tuy nhiên, chúng con cảm-tạ Chúa vì đã ban cho chúng con một người Mẹ có những đức-tính cao-quí. Mẹ rất can-trường và sống giữ luật Chúa. Tết Mậu Thân 1968, khi cả nhà ngồi co-ro dưới cái hầm bên cạnh bếp, tiếng đạn nổ và tiếng chó sủa càng lúc càng gần, sợ rằng Chị Suốt và con sẽ bị bắt mang đi, Mẹ bảo: “Nếu bị bắt, chúng con hãy để người ta bắn chết ngay ở nhà. Không thể đi để làm sự tội mất lòng Chúa.”

Mẹ cũng là người Mẹ quê-mùa thất học như hầu hết bà con mình, nhưng Mẹ thông-minh. Con đi tu về, đi ra vườn giúp tưới rau. Mẹ nhờ con làm tính xem buổi chợ bán được bao nhiêu tiền. Hai mẹ con tính theo hai cách. 2 đồng rưỡi một bó, một gánh rau có 57 bó thì bán được bao nhiêu. Con nghĩ, toán nhân 2 con dễ ợt, có gì đâu, vậy mà con tính chưa xong thì Mẹ đã có đáp số. Mẹ tính nhẩm tuyệt-vời thật. Khi trở về nhà dòng, con hãnh-diện đặt vấn-đề với các bạn: Liệu không biết chữ thì người ta có biết làm tính không?

Nhưng có lẽ con phải nói về tính trọng sự học của Mẹ. Mẹ chắc chỉ được học bình-dân học-vụ đủ để đánh vần nhưng Mẹ rất quí sự học. Mẹ nghĩ, đã đi học là cái gì cũng biết. Khi thấy con làm được những chuyện lặt-vặt trong nhà như bắt cái công-tắc điện, nối được cái xích xe đạp bị đứt, Thầy khen con giỏi quá, Mẹ bảo: “Chuyện, đi học thì cái gì chả biết làm!”

Đương nhiên, những gì chúng con có là do thừa-hưởng được nơi Thày Mẹ. Mẹ có tài buôn mau bán đắt. Ở làng cũ, Mẹ không bao giờ bỏ lễ sáng để gánh rau đi chợ sớm như nhiều người, vậy mà hầu như Mẹ thường bán hết rau trước mọi người. Để nấu rượu và nuôi heo, hàng tháng Mẹ đi chợ tỉnh Bình Dương mua một xe nào gạo, cám, chè xanh, nào thuốc vàng tiêu độc teramicine, thuốc cảm và cả một thùng bánh bích-qui hình con gà. Về làng, ai cũng đến mua lại vì giá rẻ hơn hoặc chỉ bằng giá mua ở chợ quận Bến Cát. Nếu thời ấy Mẹ mở tiệm buôn cho cả làng thì nhà mình giàu to, nhưng Mẹ nghe lời Thầy bảo rằng, “Đi buôn là có tội bởi vì đi buôn thì thế nào cũng nói dối.”

Nói chung, Thầy Mẹ chỉ muốn sống cuộc sống đơn-sơ làm con Chúa. Thầy Mẹ sống hà-tiện cho mình nhưng lại rộng-rãi dâng cúng. Con không quên được có lần một Cha dòng Don Bosco dẫn con về thăm Thầy đang bệnh. Lúc ra về, Thầy gởi Cha tiền xin lễ. Cha chưa bước ra khỏi cửa, Mẹ lại dúi vào tay cha một số tiền nữa, bảo “Con xin thêm!”

Nhìn vào đời sống làm con Chúa như Thầy Mẹ, chúng con cảm-tạ Chúa cho chúng con một gương-mẫu sống đức Tin, sống trọn bậc sống đơn-sơ trong niềm phó-thác và tôn-vinh Chúa.

Cảm-tạ Chúa gởi thánh-giá và giúp Mẹ chúng con vác hơn 20 năm qua, và soi-sáng cho Mẹ chúng con suốt đời lúc nào cũng bám lấy Chúa, Đức Mẹ và noi gương các Thánh.

Việc Mẹ chúng con được Chúa gọi về là một vinh-quang tới đích. Mẹ chúng con chia tay chúng con để đi định-cư trên Nước Trời, nơi ấy đẹp vô cùng, là nơi tích giữ những vẻ đẹp và sự thiện-hảo mà suốt cuộc đời của Mẹ chỉ mới thoáng thấy​hoặc chỉ có trong mơ-tưởng. Bây giờ Mẹ được toại-nguyện. Bây giờ Mẹ được đoàn-tụ với Thầy, với Ông Bà Nội, Ngoại, các Cô, Chú, Bác, Cậu, Dì và các thánh ở trên Trời.

Xin phù-hộ cho các con​ và cháu chắt biết noi-gương sống đức tin và đức ái chờ một ngày đoàn-tụ.

Các con, các cháu và các chắt.

Con Nguyễn Văn Thông

Đại-diện

Posted in Phân Ưu | Tagged: | Leave a Comment »

Religious Freedom Roundtable at the Senate of Canada

Posted by Webmaster on April 15, 2014

Senator Thanh Hai Ngo hosts Religious Freedom Roundtable at the Senate of Canada

The Honourable Senator Thanh Hai Ngo 

  PRESS RELEASE
For Immediate Release
April 11, 2014

 

Senator Thanh Hai Ngo hosts

Religious Freedom Roundtable at the Senate of Canada 

OTTAWA – On April 11th 2014, the Honourable Senator Thanh Hai Ngo hosted a religious freedom roundtable with numerous religious leaders from the Vietnamese-Canadian community. He was joined by Mrs. Lois Brown, Parliamentary Secretary to the Minister of International Development, and representatives from the Department of Religious freedom and the Department of Foreign Affairs, Trade and Development Canada. 

  Members of Vietnamese religious groups representing the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV), Hoa Hao Buddhism, Cao Dai, the Catholic Church of Vietnam, the Montagnard and the Lay Buddhist Group joined in the roundtable discussion of religious freedom in Vietnam.

“The testimonies and recommendations from the religious groups made it clear that the human rights situation in Vietnam remains dire. Religious groups in Vietnam are facing ongoing systematic oppression based on their beliefs and personal faith, resulting in fundamental violations of international human rights standards” said Senator Ngo after the roundtable.

“Because the Socialist Republic of Vietnam has failed to respect the internationally recognized human rights, including the right to freely practice any religion or belief, I believe this raises serious concerns and paves enough grounds to launch a Senate inquiry to further investigate the grave violations of human rights in Vietnam pertaining to religious freedom.” the Senator added.

“Canada is committed to ensuring the protection of human rights around the world and is a global leader in promoting Religious Freedom. Canada is proud to stand with the Vietnamese people and will continue to work to ensure the protection of human rights and religious freedom in Vietnam”, said Lois Brown, Parliamentary Secretary to the Minister of International Development

According to the International Human Rights Rank Indicator, Vietnam is ranked 204th out of 216 countries in terms of violation of human rights and religious freedom.

For more information:
613-943-1599
ngoth@sen.parl.gc.ca
www.senatorngo.com

Attachment:

Picture of the Roundtable meeting

Picture of the Roundtable meeting

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: , , | Leave a Comment »

NHỚ VỀ CHỐN XƯA

Posted by Webmaster on April 15, 2014

CẨM NGỌC  –  [2014]

BẾN NINH KIỀU 1966

Đã lâu lắm không về thăm chốn cũ
Kể từ ngày giặc đỏ cướp quê hương
Cần Thơ ơi! Sao cứ mãi vấn vương
Thương chốn đó biết bao là kỹ niệm

Tôi nhớ mãi căn nhà đầy lưu luyến
Khu gia binh  BÌNH THỦY vẫn không quên
Gần hai năm cuộc sống thật giản đơn
Nhưng ấm áp và vô cùng hạnh phúc

Thời chinh chiến đã đi vào tiềm thức
Bao đau thương đổ vỡ của cuộc đời
Chuyện lứa đôi gắn bó chỉ nửa vời
Chợt nghĩ lại không thể nào diễn đạt

Tôi còn nhớ những ngày trời trong mát
Mỗi cuối tuần đầm ấm cạnh chồng con
Bến Ninh Kiều, chợ Bình Thủy, Ô Môn
Địa danh đó tôi vẫn thường lui tới

Rồi hạnh phúc vỡ tan thành mây khói
Giặc tràn về gây tang tóc thê lương
Vợ xa chồng, bao người khóc ly hương
Kể sao hết tháng tư đen dậy sóng

Ôi! Thảm cảnh vẫn còn như ác mộng
Vẫn hằn sâu trong tâm trí mọi người
Cần Thơ ơi! Tôi nhớ mãi không nguôi
Hẹn trở lại –Khi không còn bóng giặc.

                        CẨM NGỌC
                           [2014]

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Thơ | Leave a Comment »

Chiến Thuật «Luộc Ếch» của cộng sản.

Posted by Webmaster on April 13, 2014

Trần Mộng Lâm

Mời xem để thấy Người Việt Quốc Gia bị luộc (mà không biết !) như thế nào.

frogs-2Năm 1996, Daniel Quinn viết cuốn sách có tên là Truyện của B (The Story of B) nói về lịch sử nhân loại trong đó ông dành riêng một chương để viết về con ếch, với những dòng như sau: Nếu ta bỏ một con ếch vào một nồi nước sôi, thì con ếch sẽ dẫy dụa và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta bỏ ếch vào nồi nước lạnh, để ếch nằm trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, thì ếch ngồi trong đó thoải mái cho đến khi bị luộc chín lúc nào không biết !

Olivier Clerc năm 2005 cũng viết một bài ngắn có tên hơi dài là «Con ếch không biết mình đang bị luộc….và những bài học khác ở đời», được Michel Debaig và Luis Maria Huette phổ biến dưới tiêu đề Sự Nghịch Lý của con ếch.

Sau này, để cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ trái đất đang bị hâm nóng từ từ, cựu phó TT HoaKy` là ông Al Gore có thực hiện một cuốn phim gọi là Sự Thực Mất Lòng cũng khai thác đề tài này.

Câu chuyện bắt nguồn từ một tài liệu xuất hiện năm 1897 ghi lại một cuộc thí nghiệm tại Institut John-Hopkins năm 1982 : Một con ếch bị bỏ trong một nồi nước lạnh, sau đó người ta nâng nhiệt độ lên một cách rất chậm, chỉ 0,002 độ C mỗi giây. Sau 2 giờ 30 phút, con ếch bị luộc chín mà không nhúc nhích gì !

Câu chuyện lý thú nói trên khiến người ta liên tưởng đến hoàn cảnh nước Việt Nam ta, vớità quyền CongSan trong nước, và khối người Việt Hải Ngoại.

Vào đầu thập niên 1980, những người Việt định cư tại nước ngoài căm thù CS đến thâm gan, tím cật. Ai nói đến CS, là người ta chống đối mãnh liệt. Rồi ngày tháng qua đi, CS thì vẫn thi hành một chính sách độc tài, độc đảng như cũ, vẫn hà hiếp, bóc lột người trong nước như xưa, nhưng người tỵ nạn thì không phải tiếp xúc trực tiếp với những cán bộ VC ác ôn hàng ngày. Mối hận thù cũng không thể quên, nhưng cường độ một ngày một giảm đi !  Hơn nữa, sau một thời gian dài cần cù làm ăn, người tỵ nạn đã có của ăn, của để, họ nghĩ đến việc trở về cố hương, để trước là thăm nơi quê cha đất tổ, nhưng cũng có phần để lên mặt với đời.

Mới đầu, số người về rất ít, sau càng ngày càng nhiều, nhất là vào các dịp Tết !
Rồi Ông Nguyễn Cao Kỳ, rồi ông Phạm Duy, rồi các ca sỹ nổi tiếng, ngày nào lếch thếch nơi Mã Lai. Hồng Kông, hay Thái Lan, Nam Dương, trong các trại tỵ nạn, nay áo quần diêm dúa, môi son đỏ choét, về lại cố hương, để có được «hạnh phúc hát trước đồng bào», làm như lòng yêu nước của họ to hơn số đôla chứa trong các phong bì mà họ nhận được sau những buổi trình diễn cuối đời.

Ngày nào, khi Đàm Vĩnh Hưng qua hát, người ta bảo nhau đi phản đối, tay cầm cờ vàng, miệng hô đả đảo. Ngày nay, VC Nguyễn Thanh Sơn, người quan trọng gấp mấy lần Đàm Vĩnh Hưng, đi Mỹ, đi Canada, chẳng ai thèm đặt vấn đề, lại còn bắt tay, phỏng vấn xỳ xèo !

Việc này, thực đâu có gì lạ, mà phải la làng !

Chỉ là một trong muôn ngàn thí dụ của «boiling frog syndrome».

Trung Hoa là một nước láng giềng của Việt Nam. Anh chàng láng giềng này lúc nào cũng muốn nuốt chửng Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, họ dùng 2 chiến thuật:

Chiến thuật «tầm ăn dâu», từng bước, từng bước lấy của VN những tấc đất, những vùng biển, như Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, đất đai vùng biên giới, việc này gây ra sự chống đối mãnh liệt, nhưng ít quan trọng hơn so với chiến thuật thứ hai.

Chiến thuật «luộc ếch» thâm độc hơn nhiều : lập công ty Trung Hoa khai thác các tài nguyên thiên nhiên, di dân , lấy vợ, đẻ con, xây chùa chiền theo kiểu Tầu, viết chữ Tầu trên các mặt tiền và trong các chỗ thờ phương, các bảng hiệu, lập các làng Tầu trên đất Việt…v.v.  Ngày một, ngày hai, người Việt sẽ thấy người Tầu, văn hóa Tầu, cách sống Tầu, quá thân thuộc với mình.  Khi ấy, thì Việt Nam có thành một ngôi sao trên lá cờ Tầu, cũng chẳng có gì quan trọng !

Nghĩ đi, nghĩ lại, người Việt và các con ếch, có gì khác nhau đâu !!!???

Mong rằng mọi người thức tỉnh kịp thời, trước khi Việt Cộng hoàn thành âm mưu bán nước.

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Biểu tình lớn ỏ VN Ngày 28/3/2014

Posted by Webmaster on April 13, 2014

Biểu Tình Lớn Tại Ninh Thuận, Phan Rang Ngày 28/3/2014   

Đây là cuộc biểu tình thứ hai mà những người dân mộc mạc tay không này đã biết cách áp đảo hơn, khiến bn Công an phải tháo chy.  Vẫn chua có leader hướng dẫn họ chiến thuật bao vây cho CA vô giữa và chiến thuật biển người, cho chúng bài học.  Thắng C.A. một lần sẽ gây Hứng khí, rồi thành vết dầu loang, rồi mới có cách mạng.
Không tiếp tay cho CS dưới mọi hình thức. ( không du lịch VN, không về ăn Tết, không đầu tư, không trợ giúp vì là việc tụi nó phải lo cho dân…….
Tụi Tư Bản Đỏ tham nhũng, áp bức nhân dân là dân sẽ bất mãn, tự phát biểu tình . 
Chế độ bạo tàn sẽ bị nhân dân tiêu diệt !
ψ

Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Đàn bà dễ có mấy tay

Posted by Webmaster on April 13, 2014

 bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

© Trần Hồng Tâm  –  © Đàn Chim Việt

Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ.

Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệ cho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro.

Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém. Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

Bàn thắng thứ nhất: Tập muốn sử dụng chuyến thăm Đức để gây một sức ép, buộc Nhật phải thừa nhận những tội lỗi đã gây ra cho Trung Quốc trong Thế chiến II. Để thực hiện ý đồ này, Tập khéo léo mời bà Angela Merkel cùng đến thăm đài tưởng niệm nạn nhân chiến tranh Holocaust. Bà Merkel khôn ngoan nhận ra ngay ý đồ. Bà đáp: “Ngài có thể đi một mình vào lúc rảnh rỗi”. Bà không dại gì tham dự vào vòng xoáy ma quái của những cuộc chơi do Tập bày ra. Bị từ chối thẳng thừng, Tập cười lịch sự, nhưng trong lòng hẳn cay đắng lắm.

Bàn thắng thứ hai: Trong bữa ăn tối chia tay, ở mục tặng quà lưu niệm, bà Merkel tặng Tập một tấm bản đồ Trung Quốc cổ, do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon vẽ vào năm 1735, dựa trên những khảo sát địa lý của các nhà truyền giáo Dòng Tên, và được xuất bản tại Đức vài năm sau đó.

Tập cầm quà trong tâm trạng nửa cười nửa mếu. Trên tấm bản đồ có ghi “China Proper”(Trung Quốc chính thức) trong đó không có Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Điếu Ngư, hay biển Đông. Riêng đảo Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng một màu khác, ngụ ý rằng hai hòn đảo này chưa thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà Thanh lúc đó.

Những nội dung trên tấm bản đồ này lại trái ngược với quan điểm chính thức của chính quyền do Tập đang điều hành. Theo họ thì Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Đài Loan, Điếu Ngư, và biển Đông là “lãnh thổ lịch sử không thể chối cãi của Trung Quốc”.

Hơn nữa, những chi tiết trên bản đồ lại gợi ra bao vấn đề. Bản đồ được vẽ năm 1735 là năm Hoàng Đế Càn Long trị vì. Ông là một nhân vật kiệt xuất nhất trong triều đại nhà Thanh, mà vẫn chưa thể kiểm soát nổi những vùng miền nói trên thế thì làm sao có thể gọi là “lãnh thổ lịch sử từ thời cổ đại”, “không thể tách rời”, “không thể chối cãi”.

Tổng thống Pháp François Hollande tiếp Tập lịch sự đến mức ông không dám nhắc đến chuyện “nhân quyền” mà Tập vốn ghét cay ghét đắng. Còn bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chẳng ngại ngùng đánh thẳng vào lòng kiêu hãnh bành trướng không phải của riêng Tập mà cả dân tộc Đại Hán.

Báo chí phương Tây gọi món quà bản đồ là “cú tát tai của Merkel” có lẽ cũng không ngoa.

Quả là:
“Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?”

© Trần Hồng Tâm
© Đàn Chim Việt

 

Posted in Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: , | Leave a Comment »

Nga và Ukraine – Tàu và cộng sản Việt Nam

Posted by Webmaster on April 13, 2014

Các tay súng chiếm đồn cảnh sát Ukraine

 

Một nhóm đeo mặt nạ chiếm giữ trụ sở Công tố Viện ở Donetsk hôm thứ Bảy.

Một nhóm vũ trang trong sắc phục ngụy trang đã chiếm giữ một đồn cảnh sát ở miền đông Ukraine, theo giới chức nước này.

 

Nhức mắt với ‘phố Tàu’ trên cả nước

 

Biển chỉ dẫn hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc trên con phố Nguyễn Văn Cừ  thuộc phường Đồng Kỵ (TX Từ Sơn, Bắc Ninh).

Sát ‘nách’ Thủ đô, cả phố trưng biển tiếng Trung

 

 Ở nhiều địa phương, từ lâu đã hình thành các khu trưng toàn biển tiếng Trung Quốc, giao dịch buôn bán chủ yếu với người Trung Quốc được người dân thường gọi là “Phố Tàu”. Không chỉ ở Bắc Ninh, “phố Tàu” xuất hiện ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Bình Dương…

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Đời sống quanh ta | Tagged: , , , | Leave a Comment »

VÙNG LÊN, DÂN TỘC TÔI ƠI !

Posted by Webmaster on April 7, 2014

Ngô Minh Hằng, gởi đảng viên (cộng sản Việt Nam) các cấp, sinh viên học sinh và toàn thể đồng bào Việt Nam
 mọi giới trước họa mất nước cho Tàu cộng.
ngominhhang

Tây Nguyên, đất nước của ta
Sao ai xẻ thịt cắt da thế này  !
Ai đưa Tàu đến nơi đây
Đóng đô, lập ấp, đốn cây, phá rừng ?
Lưỡi dao đâm lút triền lưng !
Quặng nhôm hay máu không ngừng tuôn ra …
Quặng nhôm, tài sản quốc gia
Sao dâng Tàu cộng,Trung Hoa, hở Trời ?
Giang sơn là của mọi người
Do xương do máu bao đời dựng nên
Ta không cho phép bạo quyền
Tự tung tự tác ngang nhiên làm Trời !
Nam Quan, Bản Giốc mất rồi
Hoàng Sa, Tàu đã giành ngôi chủ quyền
Bây giờ lại đến Tây Nguyên
Rồi mai, đảng sẽ bán miền nào đây ?
Từ thời lập quốc đến nay
Chưa bao giờ nhục thế nàỵ Hỡi ơi !..
Phế hưng, dâu biển bao đời
Giang sơn vẫn được mọi người đắp xây !
Mà nay phản quốc một bày
Cắt dâng cho lũ quan thày khơi khơi!

Vùng lên, dân tộc tôi ơi …
Tây Nguyên chễm chệ Tàu ngồi, nhục không ?
Việt Nam, hỡi giống Tiên Rồng !
Kiên cường, bất khuất, non sông lấy về!
Quê ta, ta phải giữ quê !
Chỉ gươm sông Hóa mà thề phục hưng !
Nếu ta hèn yếu, ngập ngừng
Thì người cưỡi cổ, đạp lưng muôn đời
Năm châu, đứng thẳng cùng người
Vung gươm chính nghĩa, hát lời tự do !!!

 
Ngô Minh Hằng

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A | Leave a Comment »

Phải chăng 99,99% người Việt hải ngoại không còn công nhận nước CHXHCN VN?

Posted by Webmaster on April 1, 2014

HetThoi99
Một bản tin vừa được Thanh niên online đăng ngày 30/3/2014 với tựa đề “Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch, đã cho nhiều người Việt hải ngoại một trận cười no nê hơn cả những phim hài ăn khách nhất. Bản tin viết như sau (trích):
“TP – Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch Việt Nam nếu đến ngày 1/7/2014 không đăng ký giữ quốc tịch theo quy định ở Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định hướng dẫn số 78/2009/NĐ-CP. Theo thống kê của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đến ngày 31/12/2013, mới chỉ có hơn 6.000 người làm thủ tục đăng ký, trong khi đang có 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài”.
Nghiêm túc hơn, tôi, Trần An Lộc lại thấy vấn đề không phải chỉ là một chuyện để cười, mà chính nó lại là một bằng chứng hùng hồn về tinh thần chống cộng và thái độ không công nhận nhà nước CSVN của hầu hết người Việt trong và ngoài nước.
Thật thế, bản tin viết: “Mới chỉ có hơn 6.000 người làm thủ tục đăng ký, trong khi đang có 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài”, nghĩa là mới chỉ có 0.13% tổng số người Việt đang sinh sống tại nước ngoài làm đơn xin làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam. Nói cách khác là 99.87% người Việt ở nước ngài không muốn dính dáng gì đến cái gọi là CHXHCNVN này.
Đây quả thực là một cuộc bỏ phiếu, một cuộc trưng cầu dân ý, một thái độ rõ ràng minh bạch nhất của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại trên khắp thế giới về mức tín nhiệm của họ với đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN do đảng này độc tôn lãnh đạo.
Bài báo sau đó dù có con cà con kê loanh quanh đổ lỗi cho hết lý do này đến lý do kia, nhưng càng nói thì lại càng “lạy ông tôi ở bụi này” là họ đã hoàn toàn thất bại trong việc thi hành nghị quyết 36-NQ/TW và mọi tuyên truyền xảo trá, bịp bợp của đảng cộng sản cho tính chính danh của chế độ và về mức ủng hộ của người Việt hải ngoại nói riêng và của toàn dân Việt Nam nói chung đối với đảng CSVN.
Cũng cần nói thêm về con số 6000 người đã xin “đăng ký giữ quốc tịch”. Họ là những ai? Dù là con số nhỏ nhoi trong con số khổng lồ 4,5 triệu, nhưng chính con số này cũng còn nhiều nghi vấn – 6000 người này xin “giữ quốc tịch” có thật sự là họ muốn làm công dân của nước CHXHCNVN chịu sự lãnh đạo toàn diện của đảng CSVN hay không? Câu trả lời dứt khoát là không, bởi lẽ phần lớn những người này phải mất công làm cái chuyện ruồi bu này, chỉ vì họ vì công việc nên thường xuyên phải đi lại giữa nước tạm dung và VN nên họ buộc lòng phải xin cái mảnh giấy lộn này, để được dễ dãi, an toàn và tiết kiệm được gần trăm đô tiền lệ phí mỗi lần xin visa nhập Việt Nam. Vì vậy con số người thật sự muốn “làm công dân nước CHXHCNVN” mà xin “giữ quốc tịch” thì lơ thơ tơ liễu muông mành, vài ba mạng đếm trên đầu ngón tay là điều khó có thể chỗi cãi. Như vậy thì cái tỷ lệ 99.87% kia cũng chỉ gần đúng, con số thật sự của nó chí ít cũng phải là 99.99% hi hi hi…
Nói tới “chọn” hay “bỏ phiếu” hay “trưng cầu dân ý” thì dân tộc Việt Nam của chúng ta (khốn thay) chưa hề có diễm phúc này.
Trong lịch sử 4000 năm dựng nước, chỉ có 2 lần “một bộ phận không nhỏ” người dân được quyền “bỏ phiếu”, nhưng lại là “bỏ phiếu bằng chân” theo cách nói của truyền thông quốc tế. Nói nôm na thì những người Việt khốn khổ ấy đã buộc phải chạy. Vắt chân lên đầu mà chạy. Gạt nước mắt từ bỏ mồ mả ông cha, thân bằng quyến thuộc, ruộng vườn đất đai mà chạy. Chạy thục mạng. Chạy bán sống bán chết. Chạy mà không dám ngoái cổ lại.
Lần “bỏ phiếu bằng chân” thứ nhất diễn ra vào năm 1954, khi đảng CSVN bắt tay với đế quốc Pháp và quan thầy Nga Tầu cắt đất nước Việt Nam ra làm hai theo Hiệp định Geneve, lấy sông Hiền Lương vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Xin mở dấu ngoặc ở đây là trong hội nghi Geneve, đại diện của những người không cộng sản là Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, ngoại trưởng Bác sĩ Trần Văn Đỗ đã khóc mà không ký vào văn bản chia đôi đất nước này.
Như kết qủa của Hiệp định, Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên là nước VNDCCH do đảng Cộng sản lãnh đạo, và miền Nam tứ vĩ tuyến 17 đổ xuống là Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu. Dân 2 miền được quyền chọn miền Nam hay miền Bắc. Và dù đảng CSVN dùng trăm mưu ngàn kế, kể cả bạo lực, mã tấu và súng… người dân ở những nơi ít bị Việt cộng ngăn cản đã bế bồng nhau mà chạy. Con đường ngắn và dễ nhất là chạy ra biển: nơi có tầu há mồm của hải quân Pháp và đồng minh chờ đón chở họ vào miền Nam. Những vùng không có biển thì đành chịu, cũng có một số đi đường bộ (qua Lào, qua Miên, vượt Trường Sơn) nhưng số này không đáng kể. Điều này giải thích tại sao những người di cư năm 1954 toàn dân các vùng ven biển: Hải tiền, Hải hậu, Nam Định, hoặc Bùi chu, Phát Diệm… có hơn một triệu người đã “bỏ phiếu” bằng đôi chân và tìm được tự do nơi miền Nam trù phú yên bình mà cộng sản tuyên truyền là “không có lá trầu mà ăn”! Lương tâm nhân loại rúng động và từ ngữ “Bỏ phiếu bằng chân” ra đời từ đó.
Lần “bỏ phiếu bằng chân” thứ hai xẩy ra sau khi Bắc quân cộng sản “giải phóng” miền Nam. “Giải phóng” kiểu gì mà sau khi 200,000 quân cán chính VNCH bị trả thù mút chỉ trong các trại khổ sai lao động gọi là “cải tạo” thì đảng đã lột sạch, vét sạch tất cả của cải miền Nam đem về bắc bằng các lần đổi tiền và chiến dịch đánh tư bản. Người dân miền Nam bây giờ mới té ngửa là họ bị “phỏng dái” (nói theo văn chương Nguyễn Bá Chổi) chứ không hề được “giải phóng” và thế là họ lại tìm cách chạy. Lần chạy này bi thảm, khó khăn hơn hơn vì Việt cộng đã nắm chính quyền ở cả hai miền và vì quốc tế đã đến lúc kiệt quệ không còn quan tâm đến một nơi có cái tên gọi là Việt Nam nữa. Con đường “dễ nhất” vẫn là chạy ra biển. Bất chấp đại dương mênh mông, bất chấp cướp biển hãm hiếp, bất chấp làm mồi cho cá, người ta cứ chạy. Già chạy. Trẻ chạy. Con nít cũng chạy. Nông dân chạy. Người thành thị chạy. Trí thức chạy. Bác đạp xích lô chạy. Chị bán hàng rong chạy. Cái cột điện nếu có chân thì cũng chạy… Người dân miền Nam bây giờ mới biết thế nào là cộng sản, nên vắt đầu lên cổ mà chạy… Nước Biển đông bỗng chốc đổi thành mầu máu… hai triệu người chạy ra biển bằng những chiếc tầu ọp ẹp chỉ dùng trong sông. Cướp biển hãm hiếp hàng trăm ngàn thiếu nữ rồi quăng xác xuống biển. Kệ. Chạy. Không chạy thì chết mà chạy thì có cơ thoát và nếu có chết cũng chết nhanh chứ không chết khắc khoải, chết từ từ, chết tủi nhục dưới bàn tay cộng sản… Vì thế người ta bất chấp. Hơn hai triệu người (sân Mỹ Đình chỉ chứa được 70,000 người) loi ngoi ngoài biển mà không có một cái tầu há mồm nào hứa hẹn ngoài biển cả mênh mông để cứu vớt… thế mà vẫn lao ra biển. Mất những số tiền kếch xù để được ra biển… Thật kinh dị và phi thường. Kết quả là chỉ có hơn triệu người thoát, còn một nửa thì mất xác trong lòng biển Đông. Điểu này chứng minh Còn nỗi sợ nào hơn nỗi sợ cộng sản. Cuộc “bỏ phiếu bằng chân” bi thảm này một lần nữa lại rúng động lương tâm thế giới. Và từ ngữ “Boat people” ra đời. Cả thế giới đã mở vòng tay nhân ái cứu giúp những con người can trường liều chết vì hai tiếng Tự Do. Và Cộng đồng Người Việt tỵ Nạn cộng sản ra đời trên khắp năm châu bốn biển từ đấy.
Để kết luận bài viết này tôi có vài lời gửi ông Hà Sĩ Phu – một người mà tôi ngưỡng mộ – Về vấn đề “chọn lựa” này. Số là tôi có đọc được bài viết “Dư Âm Của Những đám Tang“ của ông Tưởng Năng Tiến trong đó trích lại đoạn viết của ông Hà Sĩ Phu, như sau:
Trích: “- Hà Sĩ Phu: Nếu đoàn tàu Việt Nam thuở ấy rẽ vào đường rầy Phan Chu Trinh, nhằm hướng xã hội dân chủ như Na Uy, Thuỵ Điển bây giờ thì sao nhỉ? Nếu nương vào Pháp để đi lên thành công, không thành cộng sản, thì giản ước được bao nhiêu thứ:
 
– không có cuộc đánh Pháp 9 năm 
– không có cuộc “Nam Bắc phân tranh lần thứ 2” dẫn đến cuộc đánh Mỹ 
– không phải tham chiến ở Căm-pu-chia 
– không tranh giành gì để phải đánh Tàu năm 1979 
– không có lý do gì phải tiến hành cuộc “đổi mới hay là chết” 
– không có lý do gì để xuất hiện làn sóng đòi dân chủ-nhân quyền, dẫn đến hài kịch bịt miệng bị cáo trước tòa cho thiên hạ xem, vân vân…”
“Nghĩa là tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, bao nhiêu gương anh hùng, bao nhiêu nạn nhân, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu hận thù… và tăng thêm được bao nhiêu là hạnh phúc…”
 
“Nhưng bất hạnh thay, lịch sử đã không chọn Phan Chu Trinh. Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh.”
Thưa ông Hà Sĩ phu, ông bảo rằng: “Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh.” tôi e có điều không ổn. Vì theo tôi, đối chiếu với những gì tôi viết ở trên thì dân tộc Việt Nam chúng ta, thật sự đã có lần nào được “bỏ phiếu” để lựa chọn đâu? Nếu có thì chỉ có hai lần “một bộ phận nhỏ” người Việt bất hạnh đã tự mình “bỏ phiếu bằng chân” (như đã viết ở phần trên) chứ cả dân tộc chưa một lần được diễm phúc này, ông ạ.
Tất cả những gì mà đảng CSVN có ngày hôm nay chỉ là do người dân hiền lành chất phác mà đa số chưa được “khai dân trí – chấn dân khí” bị lừa bịp và do bị khủng bố, bị ép buộc, mà ra thôi.
Tôi mong rằng cuộc bỏ phiếu thứ ba của cộng đồng người Việt Hải ngoại này – một nơi nằm ngoài sự kiểm tỏa của đảng CSVN – nơi có tự do lựa chọn giữ hay không giữ, xin hay không xin quốc tịch của nước CHXHCNVN dưới sự lãnh đạo toàn trị của đảng CSVN (mà số không xin, không giữ lên đến gần 100%, theo tài liệu của cộng sản)- sẽ làm ông công tâm minh định lại điều mình đã viết, vì nó chẳng những không đúng sự thật mà còn nhục mạ biết bao vong linh người đã nằm xuống vì muốn chọn sống trong tự do thay vì chọn sống trong thiên đường cộng sản. Tôi nghĩ rằng ông Hà Sĩ Phu đã nợ dân tộc Việt Nam một lời xin lỗi về sự khẳng định vội vã này.

 

Posted in Người Việt - Nước Việt, Những Chuyện Trong Ngày, Z đến A | Tagged: | Leave a Comment »