Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England

Dân Tộc Việt Nam Tự Do – Quê Hương Việt Nam Trường Tồn

Archive for May 3rd, 2012

Vô cùng thương tiếc

Posted by Webmaster on May 3, 2012

Không gian tại trụ sở chính của A.P. Møller-Mærsk, tại Copenhagen, Ðan Mạch, hôm Thứ Sáu 20 Tháng Tư như ngừng đọng, nhân viên của hãng đi lại với khuôn mặt khép kín, những lá cờ thường ngày phất phới bay cao được hạ xuống nửa chừng. Chủ hãng và vị lãnh đạo tài ba đáng kính của hãng, ông Maersk Mc-Kinney Moeller, vừa qua đời mấy hôm, hưởng thọ 98 tuổi.

Vô cùng thương tiếc
Trong gian phòng kín hoa tang, một nhóm người Việt cư ngụ tại Arhus theo chân dòng người đến phúng điếu, trịnh trọng khiêng vào một vòng hoa nữa, trên sợi miếng vải tím lớn là hai hàng chữ “Thuyền nhân Việt Nam xin tri ân” và “Vô cùng thương tiếc.”
Ông Maersk Mc-Kinney Moeller, chủ hãng và lãnh đạo tài ba đáng kính của A.P. Møller-Mærsk Moeller, ân nhân của nhiều người tị nạn Việt Nam, vừa qua đời, hưởng thọ 98 tuổi. (Hình: AP)
Ðón tiếp họ, người nhân viên tiếp tân có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng cảm động. Hoa của nhóm thuyền nhân Việt Nam không lộng lẫy và lớn so với vòng hoa của những nhân vật và cơ sở quan trọng, nhưng vẻ mặt chân thành và nặng trĩu xúc cảm của họ thì khó ai bì.
Họ là những người đại diện tất cả thuyền nhân Việt Nam và gia đình tại Arhus và khắp Ðan Mạch, đại diện thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng con tàu Trường Xuân, và gần 4,000 thuyền nhân được tàu Clara Maersk cứu vớt năm 1975 trong những giờ phút nguy kịch nhất trên đường vượt biển tìm tự do.
Họ là những người trước kia cùng chịu ơn cứu tử của ông Maersk Mc-Kinney Moeller, và giờ đây chia sẻ một nỗi tiếc thương chung.
Nhìn họ lặng lẽ đến ghi lời phúng điếu vào một cuốn sổ lưu niệm, người nhân viên hãng Maersk chợt nhớ đến tinh thần biết ơn của người Việt Nam, đã từng được ông Thorkild Simonsen, bộ trưởng Bộ Nội Vụ Ðan Mạch ca ngợi, khi ông nói “đất nước Ðan Mạch cứu giúp nhiều giống dân, nhưng chưa ai nói được lời cám ơn như người Việt Nam.”
Nhưng ai có thể quên được ơn cứu tử?
Tiếp xúc với phóng viên người Việt qua điện thoại, bà Mỹ Linh Nguyễn, thuyền nhân trên con tầu Trường Xuân được cứu vớt cách đây 37 năm, và giờ là một nhân viên của hãng A.P. Møller-Mærsk, cho biết “hôm đó nếu không có tàu Clara Maersk đến cứu thì chúng tôi chết hết cả rồi.”
Không chỉ tàu Trường Xuân, mà phần lớn những thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn ở Ðan Mạch từng được các tàu chở hàng của công ty hàng hải lớn bậc nhất thế giới này cứu vớt.
Thế nên, tin ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời được người Việt tị nạn ở khắp Ðan Mạch truyền nhau với nỗi ngậm ngùi, và người ta được ôn lại những hình ảnh khốn cùng và giây phút thoát hiểm xẩy ra cách đây gần bốn thập niên.
Ôn chuyện cũ, người tị nạn nhớ ơn xưa
Trong một buổi họp bạn tại Odense, cách Copenhagen khoảng 150 cây số, chị Minh Thu Nguyễn, 49 tuổi, vượt biên năm 1979, kể lại cảnh được tầu của hãng Maersk vớt, và nhấn mạnh là nếu không may mắn gặp được tàu, có lẽ chị đã vùi thân xuống biển.
Cùng 74 người khác, chị Minh Thu rời bến từ Cam Ranh, trên hai con tầu khác nhau, một chở nước và thức ăn, một chở người. Chưa ra đến cửa biển, tàu chở lương thực bị bắt lại, tàu chở người tiếp tục đi.
Vòng hoa phúng điếu ông Maersk Mc-Kinney Moeller, của người Việt tị nạn tại Ðan Mạch. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)
Sau 14 ngày lênh đênh trên biển, hết thức ăn, hết nước, mọi người trên tầu gần như chết lả. Ðang lúc tuyệt vọng, một máy bay trực thăng bay vòng vòng trên không quăng xuống một cái chai. Chị Minh Thu nói còn nhớ rõ người trên tầu lúc đó nhôn nhao tìm cách vớt chai, mở ra thì trong có miếng giấy viết hỏi tàu đang đi về hướng nào, có phải là thuyền nhân không, và nếu cần cấp cứu thì đốt khói.
Trong giây phút cực kỳ tuyệt vọng, cái chai, miếng giấy, và chiếc trực thăng không biết của nước nào, là biểu hiện cho nguồn hy vọng duy nhất, hay đúng hơn, một phép lạ.
Một người biết tiếng Anh trên tàu nhanh chóng viết lại một tờ giấy khác bỏ vào lọ, cho biết mọi người sắp lả vì đói khát. Trong khi đó, thuyền trưởng của con tàu tị nạn dùng bánh xe và quần áo đốt lên thành chữ “SOS.”
Sau những vòng khói um tùm, và vài cái chai được vớt lên thả xuống, và không đầy 2 tiếng đồng hồ sau, chiếc tầu của Maersk xuất hiện, đến gần.
Thủy thủ đoàn trên tàu Maersk thả thang dây xuống, nhưng mọi người yếu lả không ai lên nổi, thế là họ lại leo xuống đỡ từng người lên. Vớt xong người cuối cùng, thủy thủ đoàn Maersk đập vỡ thuyền cho chìm xuống biển.
“Chỉ trễ một ngày nữa là chết hết!” Chị Minh Thu nói.
Ông Hà Văn Thành, một dân cư khác của Odense, cho biết ông vượt biên năm 1981, vài ngày sau Tết, chen chúc cùng 87 người khác trên chiếc thuyền dài 11 thước.
Lênh đênh 6 ngày, thuyền ông Thành ra đến hải phận quốc tế thì khoang chứa nước bị nước mặn ngấm vào. Nguy kịch, thuyền trưởng liên tục gửi tín hiệu xin cấp cứu, gặp hơn 20 tầu, nhưng không tàu nào chịu vớt.
Ông Thành kể rằng sáng hôm đó hết sạch không còn một giọt nước, những người yếu sức lờ đờ nửa mê nửa tỉnh. Riêng ông, và có lúc chợt thấy một chiếc tàu to, rồi lại không thấy, nên tưởng mình bị choáng váng. Một lúc sau định thần, mới thấy là thuyền đang bị sóng nhồi, và lúc sóng đưa thuyền lên cao thì thấy tầu lớn, lúc xuống thấp lại không thấy nữa.
Tàu đến gần hơn, chữ “Maersk” cũng hiện rõ dần. Thuyền trưởng và một số thanh niên tìm được ở đâu ra miếng vải lớn, viết chữ “Water” rồi căng lên. Sau này nói chuyện mới biết tàu mang tên Maersk thấy thuyền tị nạn, nhưng vẫn ở xa theo dõi từ 8 giờ sáng. Mười hai giờ trưa, tầu đến gần hơn, thả ống nước xuống, mọi người lấy nước từ ống đổ vào đầy các sô. Thuyền trưởng tầu Maersk giới thiệu họ là tầu Ðan Mạch bảo rằng sắp có bão rất lớn, thuyền nhỏ không thể sống sót, nên bắt đầu xúc tiến việc vớt hết người tị nạn lên tầu.
“Vớt hết người xong họ chia đàn ông và đàn bà ra hai phòng riêng, cho tắm rửa rồi cho ăn liền.” Ông Thành kể, rồi cười: “Lúc đó tôi tự hỏi không biết sao tầu họ có nhiều buồng tắm thế!”
Gần 4,000 người tị nạn Việt Nam của tầu Trường Xuân được vớt lên tầu của hãng Maersk vào Tháng Năm, 1975. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)
Ðược tàu của hãng Maersk cứu sống còn có ông Nguyễn Kim Hải, cũng vượt biên với khoảng 80 người khác trên một con thuyền mong manh, được tị nạn ở Ðan Mạch lúc mới 29 tuổi, sau này làm kiến trúc sư hàng hải và làm việc thiết kế cho hãng A.P. Mợller-Mỉrsk suốt 5 năm trời.
Qua điện thoại, ông Hải cho biết lý do theo ngành này, và làm cho hãng, là để trả ơn.
“Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây. Lúc xưa vượt biên tôi tưởng chết rồi, nhưng nhờ lòng tốt của ông Maersk Mc-Kinney Moeller mà được sống, nên tôi muốn hiến mình cho ngành hàng hải, biết đâu sau này mình cứu được người khác,” ông Hải chia sẻ.
Ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời để lại biết bao nhiêu tiếc thương. Ðám tang ông có cả gia đình của hoàng gia Ðan Mạch đến dự.
Ở nước ngoài, ông là người đầu tiên không phải người Mỹ được vào Hội Ðồng Quản Trị của công ty IBM, vị trí ông giữ vững trong vòng 14 năm. Ở trong nước, ông được trao danh tước “Danish Order of the Elephant,” một tước vị mà chỉ một vài người Ðan Mạch không thuộc hoàng gia, hay không phải là quốc trưởng, được có vinh hạnh khoác lấy.
Dưới sự lãnh đạo của ông, từ một vị trí khiêm nhường, AP Moller-Maersk Group trở thành công ty có gần 117,000 nhân viên, làm việc ở hơn 130 quốc gia.
Nhưng thật ra, dù ông chỉ là một người bình thường, ơn cứu mạng của ông vẫn được người Việt tị nạn tại Ðan Mạch mãi mãi khắc ghi.
Hà Giang
Advertisements

Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Leave a Comment »

Đằng Sau Ly Cà Phê

Posted by Webmaster on May 3, 2012

Tác giả : Anthony Hưng Cao – Việt Báo

Tác giả sinh trong một gia đình gốc quân y VNCH, Năm 1988, khi 19 tuổi, mới định cư tại vùng Little Saigon theo diện bảo lãnh đoàn tụ. Sau 7 năm vừa làm vừa học, ông tốt nghiệp bác sĩ nha khoa, và  hiện  hành nghề tại Costa Mesa, Nam Cali. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ 2007, ông đã nhận giải danh dự năm 2008. Hai năm sau, thêm giải Tác Giả Xuất Sắc 2010, với hồi ký “My Life” chia sẻ kinh nghiệm học tập của ông. Ngoài nghiệp y khoa,  Hưng Cao còn là người viết văn, soạn nhạc và từng là chủ tịch câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ.Bài mới của tác gia được ghi là “Viết bên ly cà phê McDonalds, một ngày tháng Tư buồn.”

Ly Cà Phê McDonalds…

Vừa bước ra khỏi phi cơ sau chuyến bay dài hơn mười tiếng đồng hồ từ Paris đến Los Angeles, tôi đã làm cho cả gia đình phải ngạc nhiên khi tôi cố tìm cho bằng được một tiệm McDonalds ngay trong phi trường để mua một ly… cà phê đen.Tôi nhâm nhi ly cà phê còn đang bốc khói và tận hưởng hương vị thơm tho của ly cà phê như vừa tìm lại được hương vị của … người yêu sau bao năm trời xa cách.Lúc đó nếu có ai tình cờ đi ngang qua và biết tôi mới trở về sau chuyến đi đến một đất nước với thủ đô được mệnh danh là kinh đô ánh sáng, với những cung điện nguy nga, với con sông Seine êm đềm đã đi vào bao áng thơ văn, với vườn hoa Luxembourg, và nhất là với những quán cà phê nổi danh khắp thế giới như Les Deux Magots, Café de Flore, Café de la Paix, v.v., có lẽ họ sẽ rất ngạc nhiên khi thấy tôi vừa đặt chân xuống phi trường, lại vội vã đi tìm ly cà phê chỉ đáng giá có hơn một đô la mà thôi!

Có điều gì quyến rũ đằng sau ly cà phê McDonalds đến như vậy?Những ngày lang thang trong vai khách du lịch trên những đường phố Paris, tôi nghe bạn bè nói rằng phải vào thử những ly cà phê “cao sang”, danh bất hư truyền, ở những quán cà phê như đã kể trên, tôi cũng mon men vào uống thử cho biết vì tôi vốn là đệ tử của nữ thần có hương vị đăng đắng này. Nhưng rồi hết quán này tới tiệm nọ, những ly cà phê của Paris vẫn không làm thay đổi được tấm lòng chung thủy của tôi với “nàng cà phê” McDonalds.

Hương vị của cà phê Paris cái thì quá đậm đặc, cái thì quá đắng làm tôi không thể nào thích được.Tôi hy vọng người dân Pháp sẽ không có thành kiến với tôi vì dù những ly cà phê với những nhãn hiệu trứ danh vẫn không làm tôi yêu thích nổi hương vị cà phê của Pháp quốc. Mặc dầu những quán cà phê được xây cất ở những vị trí thật đẹp với lối kiến trúc thật nên thơ, nhưng tôi vẫn không quen mắt với cảnh những người Pháp ngồi uống cà phê hàng giờ ngắm ông đi qua bà đi lại.  Người dân Pháp vốn có truyền thống thích hưởng thụ như lời kể của bạn tôi, nên cứ đến mùa hè là thành phố Paris như vắng vẻ hẳn đi vì mọi người kéo nhau đi nghỉ hè ở những vùng biển miền Nam nước Pháp.Người Pháp chỉ đi làm có 32 tiếng đồng hồ một tuần, nên chắc chắn là họ có nhiều thời gian để ngồi nhẩn nha bên ly cà phê. Nhìn họ mà tôi thấy thương cho người dân xứ Mỹ của tôi vừa uống cà phê, vừa phải lái xe chạy bạt mạng đến sở làm vì sợ trễ giờ.

Còn có điều gì nữa không đằng sau ly cà phê McDonalds mà nó đã làm cho tôi tương tư sau mấy tuần lễ đi xa? Xin thưa là có.  

Ly cà phê và tôi đã gắn bó với nhau như những đôi bạn thân từ những ngày chân ướt chân ráo đến Mỹ. Thời sinh viên lúc tôi còn đi làm phụ việc ở chợ trời vào những ngày cuối tuần, một hôm tôi được ông chủ cao hứng mua tặng cho một ly cà phê McDonalds. Rồi từ đó, ly cà phê và tôi đã trở thành đôi bạn tri kỷ và bản thân tôi cũng bị hương vị của “nàng” làm cho tôi bị “Mỹ hóa” từ lúc nào cũng không hay. Năm tháng trôi qua, “nàng” đã có mặt bên tôi từ những ngày còn học ở trường đại học cộng đồng đến lúc tôi lên trường nha khoa.Học trò, nhất là học trò Việt Nam tị nạn như bọn tôi thì luôn luôn bị bệnh thiếu ngủ. Hết vùi đầu vô bài vở ở trường, rồi ngoài giờ học, tôi lại phải đi làm thêm bán thời gian để có tiền mua sách vở, nên cơn bệnh thiếu ngủ lúc nào cũng rình rập, hành hạ tôi. Những lúc đó, ly cà phê đã trở thành vị thần hộ mệnh cho tôi. Nhiều lần, tôi lén đem “nàng” vào trong thư viện của trường, nơi cấm kỵ của “đồ ăn và nước uống”. Tuy nhiên, tôi rất khó mà giấu được ly cà phê vì “nàng” lúc nào cũng toả ra hương thơm làm tỉnh táo bao chàng sinh viên si… ngủ hơn si tình đang ngồi ở những bàn cạnh bên. Tội nghiệp bà quản thủ thư viện, sau nhiều lần cảnh cáo tôi về tội mang cà phê vào trong thư viện, nhưng rồi bà cũng phải lờ đi cho tôi vì chắc bà thà ngửi mùi cà phê còn hơn phải ái ngại nhìn cảnh tôi ngủ vùi đầu trên quyển sách.Cứ thế mà “nàng” và tôi đã đi bên nhau qua bao nhiêu năm tháng, đã cứu sống tôi với nhiều lần suýt ngủ gục bên tay lái trên freeway đến chỗ làm hay tới trường.Rồi cho đến ngày tôi ra trường, “nàng” vẫn là người bạn thuỷ chung.Thật ra, có lần tôi nghe lời một đứa bạn, bảo tôi thử uống những lon Coke bán trong những vending machine đặt trong trường vì có nhiều chất caffein trong thứ nước uống này.Tuy nhiên, tôi không thích uống thứ nước đường có nhiều gas này, và chúng cũng không làm tôi tỉnh táo được bao nhiêu, nên một thời gian ngắn sau đó, tôi cũng trở lại với “nàng”.”Nàng” vẫn vui vẻ đón nhận lại tôi mà không chút phàn nàn, không đắng hơn vì hờn dỗi, mà cũng chẳng ngọt ngào hơn thêm được chút nào.

Ly Cà Phê Tiệm Donuts…

Sau khi ra trường, tôi mở phòng mạch trong một khu thương mại khá sầm uất, cách không xa khu Little Saigon bao nhiêu. Cũng như phần lớn các khu thương mại khác, khu này cũng không thể thiếu ba “cư dân” chính là một tiệm giặt đồ, một tiệm nail và một tiệm bán donuts.  Tôi không muốn lạm bàn về các tiệm nail, phần lớn do người Việt làm chủ, vì tôi biết đã có nhiều bài viết về sự cần cù, nhẫn nại của người Việt tị nạn với rất nhiều gương thành công từ những tiệm này. Nếu có ai đó làm con số thống kê, chắc chắn sẽ có một con số không nhỏ những kỹ sư, bác sĩ người Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai được nuôi nấng và thành đạt nhờ vào những bàn tay lao động vất vả, cần cù và hy sinh của những đấng sinh thành xuất thân từ ngành nghề này.Trong bài viết này, tôi muốn nói đến tiệm bán donuts trong khu thương mại vì nó có liên quan đến đề tài “ly cà phê” của tôi.Thật ra thì tiệm McDonalds cũng cách chỗ phòng mạch của tôi không xa, và thuận tiện hơn cho tôi vì tôi có thể ung dung đón lấy ly cà phi để nhâm nhi khi lái xe qua ngõ “drive – thru” mà tôi không cần phải bước ra khỏi xe để đón “nàng”, nhất là trong những ngày mưa gió.Nhưng từ khi tình cờ ghé vào mua hộp donuts cho nhân viên, tôi gặp người chủ tiệm, một người phụ nữ Châu Á đã luống tuổi.Bà là người gốc Cambodia và có thể nói bập bẹ dăm ba câu tiếng Việt để xã giao với tôi.Tiếng Anh của bà không rành, và tôi thấy bà rất tội nghiệp khi luôn miệng hỏi khách với mỗi một chữ “And…?” kéo dài sau khi khách hàng hỏi mua một món gì đó.Ý bà muốn hỏi họ muốn mua thêm gì nữa không.

Vài lần trở lại sau đó, tôi được biết thêm về hoàn cảnh của bà.Cả gia đình bà sống nhờ vào tiệm donut vì ông chồng đang bị bệnh nặng và hai đứa con vừa mới bước vào đại học. Nghề bán donut mà phần lớn người Cambodian làm chủ những cửa tiệm donut cũng cực khổ không thua gì nghề làm nail của người Việt Nam.Họ phải dậy từ sáng sớm để chuẩn bị nhào bột,làm bánh, nướng bánh, v.v.Từ khi biết được hoàn cảnh đáng thương của gia đình bà, tôi đành từ giã ly cà phê McDonalds đã theo tôi trong suốt bao nhiêu năm tháng từ lúc còn đi học đến khi ra trường, để đến tiệm donut mua ủng hộ cho bà.  Mãi đến mấy năm sau đó, khi chồng của bà qua đời và mấy đứa con ra trường, bà sang lại tiệm cho một người khác.Tiệm thay đổi chủ và cách tiếp đãi và cách pha cà phê của người chủ mới cũng không được như bà lúc trước.Mỗi lần vào tiệm, tôi nhớ tiếng “And…?” kéo dài của bà, nhớ đôi mắt thâm quần vì mất ngủ và sau đó, tôi không còn trở lại tiệm Donuts đó nữa mà trở lại với ly cà phê McDonalds ngày xưa.Tất nhiên, “nàng” vẫn chung thủy chờ tôi như ngày xưa tôi đã dám nghe lời bạn bè cả gan bỏ “nàng” để theo nàng Coke lạnh lùng (vì nằm trong vending machine).

Ly Cà Phê ViệtTrên Đất Mỹ…

Chúng ta đi, mang theo quê hương.Chúng ta mang theo luôn cả những tập quán và thói quen chỉ người Việt mới có, đến xứ người.Ly cà phê cũng cùng chung số phận này.Những quán cà phê theo kiểu Việt Nam được mọc lên khắp nơi, hầu như bất cứ chỗ nào có mặt người Việt.Dù trưởng thành ở Việt Nam và đến Mỹ ở tuổi gần 20, tôi vẫn không thể nào quen được cảnh những anh chàng thanh niên trẻ tuổi ngồi tụm năm tụm bảy bên những ly cà phê hàng giờ đồng hồ, hoặc la ó, cãi vã bên những bàn cờ tướng.Khói thuốc lá thì nồng nặc dù đã có lệnh cấm hút thuốc trong những cửa tiệm.Chưa kể những tiệm cà phê Việt Nam với những cô tiếp viên đã làm tốn bao nhiêu bút mực của những phóng viên người bản xứ đến lấy tin vì … thấy lạ mắt và có thành phố đã phải ra lệnh cấm ăn mặc quá hở hang của những cô tiếp đãi viên vì thiếu thuần phong mỹ tục.Vì chút lợi lộc trước mắt của một số chủ quán, hình ảnh của ly cà phê của người Việt tị nạn cũng đã phải chịu ít nhiều tai tiếng.Tất nhiên, bên cạnh những tiệm cà phê với lối kinh doanh “đầy sáng tạo” như vậy, vẫn có những tiệm cà phê rất chuyên nghiệp.Tuy nhiên,không biết có mấy ai trong chúng ta tự hỏi tại sao những quán cà phê của người Việt Nam trên đất Mỹ vẫn rất hiếm thấy có những cặp tình nhân đưa nhau đến làm điểm hẹn hò?Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên khi tôi đưa người bạn đời, lúc đó chúng tôi chưa lập gia đình, vào trong một quán cà phê Việt Nam.Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào chúng tôi vì chắc không có ai “dại dột” dẫn bạn gái vào quán cà phê như tôi.Kể từ đó, chúng tôi không còn hẹn hò trong quán cà phê nữa.Chẳng bù cho những cửa tiệm cà phê của Mỹ, như Starbucks chẳng hạn, vẫn còn đậm nét hình ảnh thật dễ thương với những cô cậu học trò bên những chiếc laptop hay vùi đầu bên những trang sách.Đó đây trong quán, chúng ta thường bắt gặp những người khách rất lịch sự, từ những công sở ghé đến nhâm nhi ly cà phê tìm một ít phút thư giản trong giờ nghỉ hay có những người hẹn nhau đến để bàn công việc làm ăn, v.v.Có lẽ vì cách kinh doanh trong một khung cảnh lịch sự và ấm cúng như vậy mà cà phê Starbucks đã trở thành một thương hiệu rất nổi tiếng với nhiều cửa hàng mọc lên trên khắp nước Mỹ và ở một số quốc gia khác. Viết đến đây, tôi nghĩ rằng chắc sẽ có người cho tôi bị “Mỹ hóa”, hay theo xu hướng ngoại lai.Nhưng tôi thiết nghĩ, nếu đó là một điều hay và là một gương thành công, thì cũng đáng cho chúng ta học hỏi lắm chứ.Gần đây, cũng có những thương hiệu của người Việt như Lee Sandwiches, có lẽ cũng đã học hỏi được hình thức kinh doanh này, nên đã rất thành công với nhiều cửa tiệm được mở ra ở nhiều nơi trên nước Mỹ.Tuy nhiên, tôi chỉ tiếc rằng trong những tiệm này, ly cà phê vẫn kèm theo những ổ bánh mỳ và những món ăn Việt nam, nên chưa hoàn toàn tạo ra một nơi để khách dừng chân có thể thưởng thức một ly cà phê Việt Nam hoàn toàn trong một khung cảnh đầy hương vị…cà phê mà thôi.Chắc chắn trong tương lai, những ly cà phê của người Việt trên đất Mỹ sẽ được các thế hệ trẻ tạo cho một chỗ đứng ngang hàng với những cửa tiệm như Starbucks của Mỹ.Lúc đó biết đâu chừng, tôi sẽ phải một lần nữa rời xa “nàng” cà phê McDonalds của tôi vì đâu đó trong tôi, chắc chắn vẫn còn là người Việt Nam và vẫn muốn tìm về những gì gần gũi thân thương của cội nguồn.

Ly Cà Phê Ở Quê Hương… 

Nhắc đến cội nguồn, chúng ta vẫn thấy nhan nhản những sản phẩm cà phê được bày bán trong các chợ của người Việt với những nhãn hiệu được chế biến từ trong nước.Tuy nhiên, khi đọc những bài báo viết về những cách thức sản xuất cũng như chất lượng của những sản phẩm này, cá nhân tôi rất e ngại mua về dùng dù rằng đó là những sản phẩm của Việt Nam.

Trong một chuyến đi làm công tác thiện nguyện với một phái đoàn y nha dược cách đây khoảng sáu năm, tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ trên một con đường của thành phố Sài Gòn.Người bạn mời tôi vào một quán cà phê có tên “Trung Nguyên” với lời giới thiệu rất tự hào, “Cà phê số một của Việt Nam đó nhe!”. Vì tò mò và nể bạn, tôi cũng vào uống thử cho biết dù tôi không lạ gì với nhãn hiệu này vì chúng vẫn được bày bán ở khắp các chợ Việt Nam trên đất Mỹ.

Cảm giác của tôi khi nhấp ngụm cà phê đầu tiên dường như thể tôi vừa uống một thứ nước đắng thật nhạt nhẽo.Có lẽ vì đằng sau ly cà phê đó, tôi thấy cả một quê hương Việt Nam của tôi vẫn còn đắm chìm trong nghèo khó, với những em bé bệnh đau, tật nguyền không có mấy ai quan tâm, thương xót.  Những kẻ giàu sang, lắm của nhiều tiền vì có địa vị, chức tước, quyền thế vẫn ung dung ăn chơi hưởng thụ, và dửng dưng trước những cảnh đời khó khăn nghèo đói của những người đồng hương của họ đang hiện diện xung quanh.Những tên con ông cháu cha vẫn ung dung tiêu tiền như nước hàng đêm ở những vũ trường hay nhà hàng sang trọng trong khi những cô gái từ miền quê phải bán mình hay cam chịu làm vợ cho những kẻ không cùng chủng tộc và sống vất vưởng tha hương nơi quê chồng. Vẫn có những em bé không đủ tiền để đến trường nên phải sống lây lất bên vỉa hè giúp gia đình tìm kế sinh nhai bằng cách bán những tờ vé số.Và còn biết bao nhiêu cảnh đời đau khổ và oan ức khác của người dân bị cướp đất,cướp nhà, và có lẽ cuộc đời của họ còn đen hơn cả ly cà phê mà tôi đang cầm ở trên tay.Thử hỏi làm sao tôi có thể để lòng mình thanh thản để ngồi nhâm nhi ly cà phê trong một quán cà phê Trung Nguyên với cái vẻ bề ngoài sang trọng đầy giả tạo đến trơ trẻn này.

Còn bao nhiêu đắng cay đằng sau những ly cà phê ở quê hương tôi? Từ chuyến đi đó đến nay, tôi đã nguyện với lòng mình rằng tôi sẽ không bao giờ trở về cho đến khi nào quê hương Việt Nam không còn bóng ma cộng sản đã gây ra bao nhiêu cảnh tang tóc đau thương cho quê hương, cho đồng bào của tôi.

Ngày ấy, chắc chắn ly cà phê sẽ ngon hơn và tràn đầy hương vị nghĩa tình. Riêng tôi, tôi sẽ mãi mãi nhớ ơn  ly cà phê McDonalds đã luôn ở bên tôi từ những ngày đầu khi đến Mỹ.

Anthony Hưng Cao

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Z đến A | Leave a Comment »

Phản cách mạng đã rõ ràng!

Posted by Webmaster on May 3, 2012

Dân Làm Báo – Lê Hiền Đức
Qua việc “tích cực”, “hăng hái” tham gia các vụ cưỡng chế, thu hồi đất đai đối với người dân, những lực lượng mang danh “Uỷ ban nhân dân”, “Công an nhân dân”, “Quân đội nhân dân”, “Viện kiểm sát nhân dân”, “Toà án nhân dân”… ở Việt Nam đã nghiền nát, phá sạch, đốt sạch chữ “nhân dân” trong cái tên của chúng.

Nhưng chúng chỉ thủ tiêu được chữ “nhân dân” trong cái tên chúng mang mà thôi còn nhân dân thì đời đời bất diệt. Chẳng kẻ nào có thể chống lại ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Các vụ cưỡng chế, thu hồi đất đai ở Tiên Lãng và ở Văn Giang cho thấy tại Việt Nam, mâu thuẫn giữa người dân với kẻ rắp tâm ăn cướp đất đai, tài sản của họ đã lên tới đỉnh điểm, đã tới mức không thể dung hoà.  đọc tiếp

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả trong nước | Tagged: | Leave a Comment »

VN gần chót bảng về tự do báo chí

Posted by Webmaster on May 3, 2012

Freedom House đánh giá báo chí Việt Nam bị Đảng kiểm soát sâu rộngBBC Tiếng Việt – Cập nhật: 11:37 GMT – thứ ba, 1 tháng 5, 2012

 Freedom House đánh giá báo chí Việt Nam bị Đảng kiểm soát sâu rộng

Việt Nam xếp gần cuối bảng trong tổng số 197 nước được khảo sát về tự do báo chí trên toàn thế giới, theo phúc trình thường niên của tổ chức Freedom House (Ngôi nhà tự do) được công bố thứ Ba ngày 1/5.

Theo đó, nước này đồng hạng với các nước Bahrain, Lào, Ả Rập Saudi và Somalia ở vị trí 182.

Tính trong tổng số 197 nước thì nền tự do báo chí của Việt Nam chỉ xếp trên Miến Điện, Trung Quốc, Syria, Cuba, Guinea xích đạo, Iran, Belarus, Eritrea, Uzbekistan, Turkmenistan và Bắc Hàn.

Phúc trình của Freedom House, tổ chức có trụ sở tại Washington, phân loại các quốc gia ra làm ba nhóm: có tự do, tự do một phần và hoàn toàn không có tự do báo chí.

Việt Nam nằm trong nhóm nước không có tự do báo chí vốn chiếm 30% tổng số các quốc gia được khảo sát.

Bản phúc trình này được đưa ra chỉ 2 ngày trước Ngày tự do báo chí thế giới do Liên Hiệp Quốc đánh dấu vào ngày thứ Năm 3/5.

Nếu tính theo khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì Việt Nam chỉ đứng trước Miến Điện, Trung Quốc và Bắc Hàn và đồng hạng với nước láng giềng cộng sản Lào.

“Khu vực châu Á có quốc gia đội sổ, Bắc Hàn, cũng như một vài quốc gia hạn chế truyền thông khác như Trung Quốc, Lào và Việt Nam,” bản phúc trình viết.

“Tất cả những quốc gia này đều có sự kiểm soát báo chí sâu rộng của Đảng và Nhà nước.”

Trung Quốc và Miến Điện

Bản phúc trình này đề cập kỹ đến trường hợp của Trung Quốc, quốc gia lớn nhưng xếp hạng kém về tự do báo chí.

“Chính quyền (Trung Quốc) ngăn chặn truyền thông đưa tin về các cuộc nổi dậy của người dân tại Trung Đông và Bắc Phi, tiếp tục phong tỏa các mạng xã hội nước ngoài như Twitter và thắt chặt kiểm soát với các bài báo điều tra vào trước thời điểm nhạy cảm chuyển giao lãnh đạo vào năm 2012,” bản phúc trình viết.

Mặc dù có số lượng lớn báo chí, Việt Nam vẫn bị đánh giá là không có tự do báo chí← Mặc dù có số lượng lớn báo chí, Việt Nam vẫn bị đánh giá là không có tự do báo chí

“Các chỉ thị chi tiết của Đảng cộng sản mà các biên tập nhận được mỗi ngày cũng hạn chế đưa các tin liên quan đến bệnh tật, các thảm họa môi trường, những tù nhân bị chết khi đang bị cảnh sát giam giữ và chính sách đối ngoại cũng như các vấn đề khác.”

Bản phúc trình cũng cho biết trong thời gian qua hàng chục cây viết và các nhà hoạt động thu hút đông đảo cộng đồng Internet đã bị mất tích, bị tra tấn khi giam giữ và trong một số trường hợp bị kết án nhiều năm tù sau khi nhiều thông điệp ẩn danh lan truyền trên mạng kêu gọi làm một cuộc cách mạng giống như Tunisia ở Trung Quốc.

Riêng về trường hợp Miến Điện, nước từng đứng áp chót trong cuộc khảo sát cách đây hai năm, Freedom House đánh giá nước này đã có sự cởi mở quan trọng vào năm 2011 và nhờ đó điểm số về tự do báo chí của họ cũng được cải thiện nhiều.

Các diễn biến tích cực ở nước này, theo bản phúc trình, bao gồm thả các cây viết blog bị cầm tù, nới lỏng kiểm duyệt, các vụ việc sách nhiễu hoặc tấn công nhà báo giảm nhiều, sự gia tăng số lượng báo chí tư nhân và việc một số nhà báo lưu vong có thể trở về nước.

Hoa Kỳ xuống hạng

Trên phạm vi toàn cầu, ba quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia là Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển là những nước có nền báo chí tự do nhất trên thế giới.

Hầu hết các quốc gia nắm giữ những vị trí đầu trên bảng xếp hạng đến từ châu Âu.

Hoa Kỳ bị đánh tụt xuống hạng 22 trong năm nay do cách hành xử mạnh tay của cảnh sát nước này đối với các nhà báo đưa tin về các cuộc biểu tình phản đối ‘Chiếm phố Wall’ trong năm 2011, Freedom House cho biết.

Trước đó, hồi tháng Giêng năm nay thì tổ chức Nhà báo không biên giới cũng giảm thứ hạng của Hoa Kỳ từ 20 xuống đến vị trí 47 về tự do báo chí cũng với lý do tương tự.

Ý là trường hợp quốc gia Tây Âu hiếm hoi không nằm trong nhóm có tự do báo chí.

Nhà báo Hoàng Khương báo Tuổi Trẻ← Một số nhà báo Việt Nam đã vướng vòng lao lý (Nhà báo Hoàng Khương của Tuổi Trẻ)

Freedom House đánh giá Ý chỉ ‘có tự do phần nào’ do ảnh hưởng sâu rộng của cựu Thủ tướng Silvio Berlusconi đối với truyền thông.

Trong khi đó, cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập đã giải phóng cho báo chí ở một số nước như Ai Cập, Tunisia và Libya.

“Môi trường báo chí vừa được mở ra ở các quốc gia như Tunisia và Libya… có vai trò trọng yếu đối với tương lai phát triển dân chủ ở khu vực và cần phải được bảo vệ và nuôi dưỡng,” Chủ tịch Freedom House David J. Kramer nói.

Trong tổng số 197 quốc gia được khảo sát, có 66 nước được xếp hạng ‘có tự do’, 72 nước ‘tự do một phần’ và 59 nước ‘không có tự do báo chí’.

Tuy nhiên, do sự hiện diện của Trung Quốc, một trong những quốc gia đàn áp báo chí tinh vi nhất, nên tính trên bình diện toàn cầu thì có đến 40,5% dân số thế giới sống trong môi trường không có tự do báo chí so với 14,5% dân số ở chiều ngược lại.

Freedom House là một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1941 chuyên tiến hành các hoạt động nghiên cứu và cổ súy dân chủ, tự do chính trị và nhân quyền.

Bản phúc trình cũng lưu ý xu hướng báo chí ngày càng tự do trên thế giới thể hiện trong các kết quả khảo sát qua từng năm: số lượng quốc gia bị đánh giá là không tự do đã giảm từ 86 vào năm 1981 xuống còn 59 nước vào năm 2011.

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại | Tagged: , | Leave a Comment »

Những Chuyện Trong Ngày: Thứ năm, 3-5-2012

Posted by Webmaster on May 3, 2012

Xin bấm vào tựa bài để đọc trọn bài từ nguồn trích dẫn.

RFA Tiếng Việt  –  Lãnh đạo tỉnh Hưng Yên chối bỏ trách nhiệm

Một thanh niên ở Văn Giang bị hàng chục công an và bọn xã hội đen đánh tới tấp.Việt Hà, phóng viên RFA, Bangkok – 2012-05-03

← Một thanh niên ở Văn Giang bị hàng chục công an và bọn xã hội đen đánh tới tấp

Lãnh đạo tỉnh Hưng Yên vừa lên tiếng cho rằng vụ cưỡng chế đất tại huyện Văn Giang vào ngày 24 tháng 4 vừa qua có sự móc nối của các phần tử chống đối trong và ngoài nước, và các thông tin tường thuật tại chỗ vụ cưỡng chế là xuyên tạc.  Phản ứng của những người trong cuộc ra sao trước nhận định này? Việt Hà có bài tường trình

Sự thật rồi cũng sẽ được phơi bày

Hơn một tuần sau vụ cưỡng chế đất tại Văn Giang với sự tham gia của hàng nghìn cảnh sát và bộ đội, Phó chủ tịch tỉnh Hưng Yên, ông Nguyễn Khắc Hào vào ngày 2 tháng 5 lên tiếng cho rằng vụ cưỡng chế đã thành công và những tin tức, hình ảnh video được truyền đi từ hiện trường vụ cưỡng chế là xuyên tạc, giả tạo để vu khống bôi nhọ chính quyền.

Là người đã đến tận nơi theo dõi vụ cưỡng chế từ ngày 23 cho đến hết ngày 24 tháng 4 tại Văn Giang, bà Lê Hiền Đức lên tiếng phản đối nhận định này của chính quyền địa phương:

Ψ

VOA Tiếng Việt  –  Tình hình tự do báo chí ở VN bị chú ý nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới

Blogger Tạ Phong Tần, Điếu Cày và Phan Thanh HảiThứ Năm, 03 tháng 5 2012

 Blogger Tạ Phong Tần, Điếu Cày và Phan Thanh Hải

Năm 1993, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc công bố chọn ngày 3/5 là Ngày Tự do Báo chí Thế giới hầu cổ võ cho quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí trên toàn cầu, đồng thời nhắc nhở các chính quyền chuyên chế phải tôn trọng nhân quyền căn bản của người dân. Tình hình tự do báo chí tại Việt Nam một lần nữa được chú ý nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5 năm nay.

Trong số 12 nhà báo bị đàn áp trên thế giới được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lưu ý nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5 năm nay có trường hợp của blogger-nhà báo tự do Điếu Cày của Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi Hà Nội phóng thích blogger Điếu Cày, đồng thời nêu rõ vụ bắt giữ blogger này xảy ra cùng lúc với chiến dịch đàn áp hàng loạt các ký giả công dân giữa lúc chính quyền Việt Nam loan báo về nghị định mới giới hạn quyền tự do internet và kiểm duyệt các trang nhật ký điện tử cá nhân.

Trên trang web nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động, ông Michael Posner, nhấn mạnh:

“Chúng tôi kêu gọi chính phủ các nước trả tự do cho các nhà báo đang bị cầm tù, chấm dứt những giới hạn ngăn cản ký giả hành nghề và đưa tin trung thực, và cho phép giới ký giả góp phần xây dựng một xã hội bền vững.”

Ψ

BBC Tiếng Việt  –  Mỹ ‘không ép ông Trần’ rời Sứ quán

Số phận ông Thành và gia đình bây giờ nằm trong tay chính quyền Trung QuốcCập nhật: 04:56 GMT – thứ năm, 3 tháng 5, 2012

← Số phận ông Thành và gia đình bây giờ nằm trong tay chính quyền Trung Quốc

Ông Trần Quang Thành, nhân vật bất đồng chính kiến trốn chạy đến Sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh hồi tuần trước, không hề bị áp lực phải rời khỏi nơi này, Đại sứ Mỹ Gary Locke khẳng định.

Trong khi đó, ông Trần nói ông ‘thất vọng’ với cách hành xử của chính quyền Mỹ.

“Tòa đại sứ cứ vận động tôi đi và hứa sẽ cho người ở cùng với tôi trong bệnh viện. Nhưng chiều nay ngay khi tôi vừa nhập viện thì tôi thấy tất cả bọn họ (quan chức Sứ quán Mỹ) đều biến mất,” ông Trần than phiền.

Vợ ông cũng hòa cùng lời kêu gọi giúp đỡ của ông. Bà mô tả tình hình hiện nay là ‘rất nguy hiểm’.

“Nếu họ đưa được chúng tôi về nhà thì họ sẽ nhốt chúng tôi vào lồng sắt,” bà nói.

Tuy nhiên hôm thứ Năm ngày 3/5 Đại sứ Gary Locke đã bác bỏ việc Sứ quán Mỹ đã ép buộc ông Trần phải rời bỏ nơi trú ẩn.

“Tôi có thể nói một cách quả quyết rằng ông ấy (Trần Quang Thành) không hề bị áp lực phải ra đi. Ông ấy rất háo hức và nôn nóng ra khỏi Sứ quán,” vị đại sứ cho biết.

Tin liên hệ:   Blogger TQ lo cho ông Trần Quang Thành

Posted in Những Chuyện Trong Ngày | Tagged: | Leave a Comment »