
Những chuyện trong ngày – Thứ ba 28-1-2014
Posted by Webmaster on January 27, 2014
Posted in Người Việt - Nước Việt, Những Chuyện Trong Ngày | Tagged: chuyện trong ngày | Leave a Comment »
VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG
Posted by Webmaster on January 25, 2014
Nguyễn Văn Thông
Qua ngày Ông Táo về Trời còn 7 ngày nữa thì đến Tết. Phần lớn nước Mỹ chìm trong băng giá. Đồng-bào trong nước còn trong cơn âm-ỉ vùng lên đòi nhân-quyền, nhân-phẩm và những giá-trị chiến-đấu gìn-giữ đất-đai biển đảo của các chiến-sĩ và nhân-dân VNCH. Tôi xin gởi chút tâm-tình đến quí bạn-bè thân-hữu và cả lời nhắn đến những người cộng-sản VN về một ngày Tết trên Quê Hương. NVT
VỪA TỈNH GIẤC LÀ TÀN ĐÔNG
Nguyễn Văn Thông
“Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông,
Liền vội đứng mở tung cánh chào đón Xuân…”
Là bài hát xuân của ông nhạc-sĩ tài-danh Phạm Duy ám-ảnh tôi đã lâu. Kể ra thì cứ mỗi lần báo-chí đăng những lời tuyên-bố của ông nhạc-sĩ ấy thì tôi lại mất đi nhiều sự quí-mến ông. Nhưng nhiều bài hát của ông hay quá, không thể không hát được. Cái hay về lời làm cho nhạc của ông hay hơn. Thế mà không hiểu sao ông lại có những tuyên-bố không ăn-nhập gì với những tác-phẩm bất-hủ ông đã viết ra. Thành ra nhiều lần tôi thở dài đành lòng với cái triết-lí vụn rằng, ai đóng-góp được bao nhiêu quí bấy nhiêu, làm sao mình đòi ai cũng phải hoàn-hảo được? Ông chắc có cả chục bài hát về mùa xuân, mỗi bài diễn-tả một ý, làm cho mùa xuân có những tình-cảm phong-phú. Giữa các ý xuân, tôi cảm thấy bị giao-động nhất về hình-ảnh một buổi sáng vừa vươn vai thức dậy, nhìn ra đã thấy một trời đầy xuân rực-rỡ; mình vội mở tung cửa để xuân tràn vào.
Bốn giờ rưỡi sáng, chuông nhà thờ đổ, tôi tung chăn bật dậy chui ra khỏi màn, không cần phải chờ bố mẹ gọi thúc đến ba bốn lần. Tiếng chuông ngày Tết nghe như rộn-rã hơn. Chị em tôi ra bờ giếng sau nhà súc miệng rửa mặt. Hồi ấy ở nhà quê còn quê lắm, chưa có kem đánh răng. Giữa nhà chỉ có chiếc đèn dầu để trên bàn mà nó sáng hơn mọi ngày. Ngọn đèn vàng rọi qua chiếc bóng thủy-tinh mới được chùi rửa trong suốt soi chúng tôi vây quanh chiếc bàn, xúng-xính trong những bộ quần áo mới.
Con đường cát trắng dẫn đến nhà thờ chỉ lờ mờ dưới chân, nhưng tôi nghĩ cành lá hai bờ dậu bên đường đã xôn-xao thức dậy. Nhà thờ hôm nay thắp đèn măng-xông sáng rực, và đông người hơn cả lễ ngày Chúa nhật. Thế nào ca-đoàn cũng sẽ hát “Mùa đông đã tàn phai, mừng Xuân mới về đây…”. Nhưng tôi chưa biết mùa đông như thế nào, chỉ nghe bố mẹ kể rằng, mùa đông ở “bên nhà” rét lắm, có năm rét cá chết nổi trắng mặt đồng. Bên Nam không có mùa đông nhưng vẫn có Tết. Sáng hôm nay mùng một Tết, cả làng chúng tôi xong lễ kéo vào nhà xứ mừng tuổi cha xứ. Cha sẽ mừng tuổi cho trẻ con thiếu-nhi mỗi đứa một đồng. Mấy anh chị lớn cũng ngồi xuống chen vào giơ tay lấy tiền mừng tuổi. Sau đó cả nhà chúng tôi về nhà ông bà nội để mừng tuổi ông bà, các cô bác chú dì, và nhận tiền mừng tuổi.
Chúng tôi đã mong ngày Tết cả tháng nay rồi, nhưng mấy ngày gần đây thì thời-gian đi mau quá, chẳng phải mong. Mới hôm qua cả nhà chúng tôi ở nhà ông bà nội với gia-đình các cô, các chú để Tết ông bà và chuẩn-bị cho ngày Tết. Mẹ tôi và các cô, thím lau, xếp bát đĩa ra những cái nia ở một góc nhà, rồi quay nước, rửa thau, nồi nhộn-nhịp bên bờ giếng. Bố tôi và các bác, chú làm một cái dàn để mâm. Các cháu giúp ông bà bổ cau, têm trầu, và đuổi nhau chạy loanh-quanh. Xong bữa cơm tối thì nồi bánh
chưng cũng xong. Mọi người vây quanh chăm-chú nhìn từng chiếc bánh nghi-ngút khói được vớt ra. Mỗi chiếc bánh được giơ lên trước khi được xếp vào chiếc mẹt để ép thì đều có vài lời bình-phẩm. Đâu là chiếc bánh này ai gói, có đầy tay hay không, mối lạt buộc có chắc hay không. Đôi khi có ý-kiến chống-đối nhau nhưng bao giờ cũng chấm-dứt bằng ý-kiến của ông nội tôi. May mà cả nồi thế nào cũng có vài cái bánh xấu nhất nên chúng được bóc ra ngay, ông nội chia cho mỗi người một miếng. Thơm ngon hết sức, chẳng thấy ai chê. Sau bữa cơm tối đầm-ấm là bố mẹ tôi cùng các cô chú bác quây-quần thành từng nhóm. Chỗ này oang oác, cạp cạp tiếng gà vịt trước lúc bị cắt tiết. Chỗ kia những bàn tay thoăn-thoắt nhổ lông chung quanh nồi nước nghi-ngút khói. Chiếc cần quay nước trên miệng giếng quay kẽo-kẹt, nước đổ ào-ạt, rồi chiếc thùng lại được thả xuống vù vù. Ánh đèn chỉ thấp-thoáng từng chỗ trên sân nhưng mặt ai nấy rạng-rỡ tươi cười. Các chị, các cô của tôi nom đẹp lắm dù chưa trang-điểm cho ngày Tết. Khoảng Giao-thừa là mọi sự được chuẩn-bị tạm xong cho ngày mồng một Tết.
Xong bữa cơm ngày mồng một Tết, trẻ con chúng tôi theo mẹ bưng đồ lỡi đi Tết các cụ, các ông bà trong làng. Nhà nào cũng tiệc-tùng vui-nhộn. Chúng tôi chỉ cần tiền mừng tuổi và thích đốt pháo. Con gái cùng lớp tuổi của tôi nhiều đứa hôm nay nhìn đẹp quá chừng nhưng tôi chỉ nhìn chúng nó một tí rồi chạy đi chỗ có tiếng pháo. Giấc trưa, nắng đã vàng mặt đường nhưng không thấy ai than nóng như mọi ngày. Người ta đi lại, chào hỏi nhau trong những bộ quần áo ngày Tết trên khắp đường làng là một cảnh đẹp vô cùng. Làng tôi chỉ có những mái nhà tranh nâu ẩn hiện sau những hàng dậu và tàn cây xanh quen-thuộc, nhưng ngày Tết, nó được tô-điểm bằng những màu trắng, đỏ, vàng, tím… khác gì những bông hoa nở rộ. Xa xa, trên con đường từ ngoài quốc-lộ dẫn vào làng, một vài bóng áo mới di-động giữa cái nền xanh của cánh đồng, đẹp như một bức tranh.
Tôi yêu thương cái không-khí Tết trong làng tôi vì nó đẹp, và cũng vì cái tình thân-ái. Hình như trong làng tôi đều có họ-hàng với nhau. Nếu không mang đồ lỡi đi Tết thì bố mẹ tôi cũng đều ghé tất cả mọi nhà để chúc tuổi và ngồi chơi một chốc-lát. Chẳng có nhà nào mà tôi không nhận được tiền mừng tuổi. Trẻ con chúng tôi thỉnh-thoảng có đánh nhau nhưng đều cố dấu không cho bố mẹ biết. Đến Tết gặp nhau là coi như hòa. Người lớn mà cãi nhau đã là chuyện lớn ở làng. Một là cha xứ sẽ tới khuyên-can, hai là hai bên cùng quên đi để làm hòa. Tôi nghĩ, thiên-đàng hẳn là đẹp, nhưng không biết đẹp thế nào, chứ còn ở làng tôi, ngày Tết là đẹp lắm rồi.
Mong Tết bao nhiêu thì tôi lại sợ hết Tết bấy nhiêu. Sáng mồng hai, mồng ba thức dậy vẫn còn háo-hức, nhưng mùng bốn thức dậy tôi đã thấy hơi buồn. Tôi cầu cho Tết đừng đi, Tết cứ còn mãi. Gặp ai trong làng mặc quần áo lam-lũ ra đồng từ sớm là tôi buồn lắm, biết rằng Tết đang ra đi rồi. Tôi thích những tiếng pháo muộn vào những ngày này để gọi Tết trở lại. Tôi mừng khi thấy vài người họ-hàng ở xa đến thăm, và bố mẹ tôi lại bắt gà vịt làm bữa ăn Tết. Nếu không phải khách nhà tôi thì khách bất cứ ai ở trong làng cũng được, chỉ cần bóng-dáng họ ở trong làng cũng giữ được cái không-khí Tết ở lại với chúng tôi.
Làng tôi chỉ có mặt và có tên trong một quận-lị Miền Nam từ năm di-cư 54 cho tới khi có biến-chuyển chiến-tranh. Ngôi làng ấy đã trở nên ngôi làng kỉ-niệm, yêu-thương, mơ-tưởng của đời tôi. Tôi đi mãi, qua nhiều mảnh đất quê-hương, cũng đẹp lắm, nhưng trong lòng không bao giờ phai được cảnh làng cũ. Ra khỏi nước, tôi càng nhớ hơn, mặc dù ở nơi đây có mùa xuân rực-rỡ và nhất là có mùa đông rét buốt rất rõ-ràng để tôi cảm-nhận khi hát “Mùa đông đã tàn phai”, và “Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Tôi nghĩ phải nói rõ hơn một chút bạn mới tin là có sự thay-đổi nhanh-chóng chỉ qua một giấc ngủ như thế.
Chỗ tôi ở là vùng đông bắc nước Mỹ, mảnh đất định-cư đầu tiên của những người Pilgrims trên chiếc tầu Mayflower đi từ nước Anh tránh bão tuyết cập bến, rồi định-cư luôn, khoảng 400 năm trước. Đó cũng là lí-do vùng này được gọi là New England. Vùng đất này so với những vùng đất sau của nước Mỹ thì nhỏ bé nhưng lại màu mỡ, khí-hậu bốn mùa rành-rẽ, cây-cối xum-xuê. Có lẽ loại cây phổ-thông nhất ở vùng này là cây dương (maple) và bạch-dương (white birch). Mùa hè thì cành lá xum-xuê, và có điều đáng chú ý là từ đầu xuân đến cuối hè, cây-cối phát-triển nhanh như thổi, như ta có thể nhìn thấy chúng lớn lên.
Thu đến, lá đổi màu, cũng ào-ạt như thiên-nhiên được đổ màu lên. Vàng, đỏ, nâu lẫn với màu xanh còn sót lại như trải trên núi đồi tấm thảm hoa mênh-mông màu-sắc, biến những thung-lũng thành vườn hoa rực-rỡ. Đi dưới rừng cây có ánh nắng rọi, màu sắc rực lên lung-linh như lẫn vào không-gian. Một làn gió lay-động rắc những cánh lá chao nghiêng như đàn bướm. Hình như thiên-thai cũng là đây. Nhưng rồi những cơn mưa và những trận bão tuốt hết lá trên cây, chỉ còn cành trơ-trụi.
Bây giờ thiên-nhiên chỉ còn màu nâu ảm-đạm. Mặt trời buổi chiều cũng lặn đi vội-vã. Gió lạnh cắt da. Những trận tuyết đổ về mù-mịt. Thiên-nhiên chết cóng. Nhiều khi cả một rừng cây đóng băng như rừng nước đá. Thế nhưng thiên-nhiên không chết. Thiên-nhiên vẫn sống tiềm-tàng. Cách khoảng giữa những trận tuyết, các cành cây vẫn rung-rinh sức sống dù trơ-trụi. Ở các đầu cành, các búp cứ tròn dần. Một buổi sáng cuối đông, ngoài vườn còn lớp băng tuyết che kín, thế mà những búp thủy-tiên đã chui lên xòe cánh hứng ánh mặt trời.
Lúc này những búp trên đầu cành đã có màu. Cây anh-đào với hàng trăm, hàng ngàn búp loáng-thoáng hồng tạo nên đám mây hồng phủ trên tàn cây. Đám mây trắng trên tàn cây lê. Rồi mây xanh, mây tím đậu đó đây. Bỗng một ngày đầu xuân, một luồng gió ấm đẩy lùi cái lạnh của cuối đông, hàng trăm ngàn búp nụ đua nhau xòe cánh rực-rỡ.
Sự thay-đổi thời-tiết ở đây đột-ngột lắm, mỗi ngày có thể cách nhau đến vài chục độ. Một ngày ấm như mùa hè có thể xảy đến ở cuối đông. Đã có năm hoa thi nhau nở sớm, rồi bỗng bị một trận tuyết đổ xuống làm cả thiên-nhiên run-rẩy. Do những đột-ngột của thời-tiết như thế mà tôi cảm-nhận được rõ-ràng có những “buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn đông”. Thay-đổi lắm, rạo-rực lắm. Xung-quanh ta thế-giới cũ như không còn. Chúng ta đang bước vào một thế-giới mới, đang bước vào tương-lai.
Đã bao nhiêu mùa xuân tôi sống trong những cảm-nghĩ đó. Mùa đông, năm cũ, những cay-đắng, thất-bại và buồn-bực chỉ còn thuộc về quá khứ. Nắng xuân và tương-lai rực-rỡ đang ùa vào nhà, vào lòng. Nhưng có nỗi ư-tư như những mành tơ vướng-víu. Quê-hương Việt Nam của tôi có bao giờ, cho tới bao giờ có nắng xuân và tương-lai rực-rỡ tràn vào? Mấy chục năm qua, mấy chục cái Tết nhưng vẫn chỉ là những cái Tết đắng-cay. Con gái xa nhà vì phải bán thân phương xa. Chồng xa vợ xa con vì phải bán sức lao-động cho ngoại-bang. Con nít xa quê vì phải về thành-phố, nếu sống được lương-thiện nhất là đi ăn-xin hay bán vé số.
Tôi mơ một ngày quê-hương vừa tỉnh giấc đã thấy tàn đông, một ngày người cộng-sản đồng lòng tuyên-bố quay về với dân-tộc, quăng đi cái xã-hội chủ-nghĩa. Áp-bức, dối-trá, nghèo-đói, thiếu nhân-phẩm bị đẩy lùi về quá-khứ. Cánh cửa quê-hương mở tung ra để nắng ấm của chân-thực, của nhân-phẩm, tình yêu-thương, tự-do và tương-lai rực-rỡ ùa vào. Đó là cơ-hội duy-nhất và đẹp nhất người cộng-sản có thể làm cho quê-hương dân-tộc. Đồng-bào sẽ mở rộng vòng tay đón họ như đón những người con lầm-lạc trở về. Họ sẽ làm nên lịch-sử, và làm cho thế-giới phải ngưỡng-mộ nếu họ làm được như vậy. Hãy làm đi, những ngày dài tăm-tối, đông-giá trên quê-hương đã quá nhiều rồi. Hãy làm cho cả quê-hương và người Việt khắp năm châu một buổi sáng thức dậy thấy bừng ánh sáng tự-do tràn vào. Hãy thổi nắng ấm cho quê-hương một mùa xuân. Hãy làm cho khắp đất nước một cái Tết đẹp tình thân-ái.
Để chờ ngày ấy, chúng ta hãy chuẩn-bị những búp sự thật, những nụ nhân-ái, nụ yêu-thương, và đọt mầm nhân-cách chuẩn-bị trong mùa đông để nở tung cánh tạo mùa Xuân cho quê-hương yêu-dấu, một mùa Xuân chắc-chắn sẽ đến.***

Posted in Người Việt - Nước Việt, Tác giả hải ngoại, Văn, Z đến A | Tagged: Tết, Xuân | Leave a Comment »
Một Giao Thừa Trong Đời
Posted by Webmaster on January 24, 2014
Vương Mộng Long

Từ cuối năm 1975, hàng ngàn tù nhân Sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ nhiều trại tập trung quanh Sài Gòn đã bị chuyển về nhốt tại trại tù Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hòa.
Vào một đêm giữa tháng 10, 1975, từ Long Giao, tôi bị chuyển tới đây trên một chiếc Molotova bít bùng kín mít. Tôi bị dẫn vào khu K2. Hai tuần sau có lệnh “biên chế,” tôi lại bị chuyển sang khu K3. K3 chỉ chứa Sĩ quan cấp Thiếu tá. Tôi bị giam ở đây từ ngày 1 tháng 11, 1975 cho tới ngày lên tàu Sông Hương ra Bắc (Tháng 7, 1976). Thời gian này, tin tức truyền thanh, truyền hình về tình hình thế giới càng lúc càng xấu đi. Người ta đồn rằng, hình như Cộng Sản Việt Nam đang trên đường tiến chiếm Thái Lan. Thế Giới Tự Do như càng lúc càng xa chúng tôi hơn.
Anh em chúng tôi gặp nhau thường ngày, tụ tập từng nhóm, đánh cờ tướng, tán gẫu, bàn chuyện nhà cửa, gia đình, nước non, thời quá khứ. Trong những lúc tụ tập chuyện trò, chúng tôi nghe bạn bè rỉ tai rằng, chính quyền giải phóng đang nghiên cứu hồ sơ cá nhân của từng người, để xét tha (?).Cũng có tin bi quan, cho rằng chúng tôi sắp bị đưa ra Tòa án Nhân dân để xử tội. Chúng tôi thực sự hoang mang, chẳng biết tương lai mình sẽ đi về đâu.
Tôi ở lán 24 thuộc K3 (Lán là nhà, K là Khối, danh từ VC). Mỗi lán chứa khoảng hơn 40 tù nhân, trong lán 24 đó có vài cựu Sĩ quan Ðà Lạt gồm anh Trần Ngọc Dương (K10), Nguyễn Lành (K16), Hoàng Thế Bình (K18), Tạ Mạnh Huy (K19), khóa 20 có Ngô Văn Niếu và tôi (Vương Mộng Long). Lán tôi cách lán 17 vài thước. Lán 17 có ba anh Biệt Ðộng Quân K20 Võ Bị là Nguyễn Cảnh Nguyên, Trịnh Trân, và Quách Thưởng. Trong cảnh thiếu đói thường xuyên, chúng tôi phải chia nhau từng mớ rau rền, tán đường thẻ, miếng cơm cháy.
Lán 24 lúc nào cũng hôi thối đầy ruồi nhặng, vì nó nằm trên đường đi ra cầu tiêu, mà bệnh kiết lỵ của tù ở đây hầu như bất trị. Anh trưởng lán 24 tên Trần Thành Trai nguyên là Y sĩ Thiếu tá làm việc tại Tổng y viện Duy Tân, Ðà Nẵng. Bác Sĩ Trai luôn luôn xác định lập trường của anh là quyết tâm “Học tập tốt” để được tha về với vợ con, vì vậy mỗi lệnh của ban chỉ huy trại đưa xuống, anh luôn luôn tìm cách thi hành đúng đắn.
Thằng Niếu, bạn tôi, được một chân làm bếp, nó ăn uống dưới bếp, nên phần cơm của nó dư, được mang về tiếp tế cho tôi và anh Nguyễn Phong Cảnh (K10/TÐ) người nằm cạnh tôi.
Vào những ngày cuối năm Ất Mẹo, không khí ở đây trở nên rộn rịp vô cùng. Những người liên lạc được với gia đình thì có những gói quà nhỏ gởi vào cho ăn Tết, những kẻ ít may mắn hơn thì đành trông chờ vào những gì ban chỉ huy trại ban cho. Thời gian này, các lán gấp rút tập văn nghệ để trình diễn đêm giao thừa.
Ðể khỏi tập ca hát nhảy múa, tôi tình nguyện làm công tác tạp dịch, quét tước. Trong khi mọi người ca múa, xả rác, tôi đi lượm rác và xách nước về cho bạn cùng lán rửa mặt rửa tay.
Hai ngày trước Tết, lán tôi phải tập họp đi làm cỏ ngoài rào K3.
Trại Suối Máu vốn dĩ là trại tù Phiến Cộng Tam Hiệp của Quân Ðoàn 3. Trại có hai khu, hai hệ thống hàng rào. Lớp rào trong nhốt tù, rồi tới khu canh tù, ngoài cùng là rào mìn phòng thủ. Trại tù Phiến Cộng này có sáu khối. Mỗi khối cách biệt nhau bởi một khoảng đất trống, có rào mìn. Từ khối này muốn liên lạc với khối kia chúng tôi phải hét lên mới nghe tiếng nhau. Ra khỏi hàng rào thứ nhất, tôi chứng kiến vài sự đổi đời.
Cái miếu thờ Thổ Ðịa trở thành cái chuồng nuôi heo. Nhà Thờ và Niệm Phật Ðường của trại tù binh đã thành chuồng gà sản xuất. Sư và Cha, Tuyên úy của trại này, chắc cũng đi tù đâu đây không xa! Ngoài xa, bên kia hàng rào mìn là bãi cỏ trống rồi tới đường Quốc lộ 1.
Trên Quốc lộ, xe Lam chạy xuôi ngược; người người vội vàng buổi chợ cuối năm. Có vài bàn tay giơ lên ngoắc ngoắc về hướng trại tù, đôi người dân có liên hệ, hoặc ai đó còn nhớ tới chúng tôi, những Sĩ quan cấp tá của QLVNCH, những người bảo vệ chế độ đến giờ cuối cùng, và những người chậm chân, chạy không kịp, đang bị nhốt ở đây, trong khu nhà tù do chính tay Công Binh Việt Nam Cộng Hòa xây dựng lên trước đó nhiều năm.
Sáng nay bầu trời mầu xanh, không một gợn mây. Từ hướng phi trường Biên Hòa, bên kia cánh đồng trồng khoai mì, những chiếc F5 thực tập lên, xuống, lượn vòng.
Ðưa tay chỉ những cánh chim sắt đang bay trên trời cao, anh bạn Thiếu Tá Không Quân, Trần Chiêu Quân nói với tôi rằng, sau 30 tháng 4, có một số phi công của Việt Nam Cộng Hòa bị trưng dụng để huấn luyện cho phi công Bắc Việt lái những máy bay chúng ta còn để lại. Những chiếc F5 sáng như bạc đảo lộn trong không gian. Tiếng rít của phi cơ làm cho tâm hồn người cựu chiến binh nao nao.
Làm sao quên được? Lần đầu ra trận (Tháng 2, 1966). Hôm đó, cũng vào một sáng đầu Xuân, đơn vị tôi án binh dưới chân núi Trà Kiệu (Quảng Nam) chờ lệnh xuất phát. Tôi ngồi bên bờ Nam sông Thu Bồn, say sưa nhìn những cánh F-4C, F-5A Hoa Kỳ đan nhau trên vùng trời Bắc. Bên kia sông, vùng trách nhiệm của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập, khói đạn bom cuồn cuộn…
Rồi tới trận Mậu Thân (1968) với những chiếc AD 6 Skyrader dềnh dàng, chậm rãi phóng từng trái Napalm dài như chiếc xuồng màu trắng, lướt trên đỉnh 1632 cuối phi đạo Cam Ly, Ðà Lạt. Khi bom chạm mục tiêu, từ đó, những sợi lửa lân tinh trắng xanh, trông giống như những cái vòi bạch tuộc, vươn cao…
Còn nữa…
Nhớ thời chống giữ Pleime, ngày ngày, tôi nghe quen tiếng L19 lè xè của Võ Ý (K17). Chiếc L19 như cánh diều mảnh khảnh, lững lờ quanh đỉnh Chư Gô, hay trên Ya Drang, thung lũng Tử Thần. Chúng tôi trông chờ đôi lúc trời trong, những phi tuần A-37 theo nhau tuôn bom… chờ những chiếc trực thăng rà sát đọt cây, lướt trên ngọn cột cờ căn cứ. Xạ thủ trên tàu chỉ kịp đạp vội xuống sân trại vài thùng pin, đạn, gạo sấy, con tàu đã lật bụng đảo một vòng, thoát chạy về Đông. Phòng không như lưới, thảy xuống cho nhau được thùng nào, hay thùng nấy! Thảy đồ xong là chạy. Ðồ tiếp tế, có thùng còn nguyên dạng, có thùng vỡ tan, có thùng bay vào bãi mìn. Như thế cũng quý hóa lắm rồi! Cám ơn người anh em Nguyễn Công Cẩn (K21) và phi đoàn 229 Lạc Long.
Rồi đêm xuống, cứ như “Đúng hẹn lại lên,”
“Thái Sơn đây Hỏa Long gọi!”
Chiếc AC-47 của anh Trần Bạch Thanh (K16) đã có mặt trên vùng. Những đóm hỏa châu lập lòe, vừa trải rộng tầm quan sát cho người trấn giữ tiền đồn, vừa làm cho họ cảm thấy ấm lòng.
Ðã mất rồi, ngày xưa ấy!
Giờ này tôi đang đứng nhìn những cánh chim sắt chao lượn trên đầu, người lái không phải là quân bạn.
Tiếng động cơ F5 nghe sao quá xót xa!
* * *
Tôi đang nhổ cỏ thì thấy một đoàn người từ hướng ban Chỉ huy trại hò nhau khiêng một cái cổng gỗ rất to vừa đóng xong.
Tấm bảng nền đỏ chữ vàng “Không Có Gì Quí Hơn Ðộc Lập Tự Do” được nâng niu như trứng trên vai những người tù nhễ nhại mồ hôi. Những người tù đang bị sức nặng của cái cổng đè trĩu trên vai. Họ phải lên gân chân mỗi lúc bước tới trước.
Mới vài tháng trước đây họ còn là những vị Chỉ huy oai phong lẫm liệt. Giờ đây đành cam thân sống cảnh đọa đày, đóng vai những anh thợ mộc bất đắc dĩ không công. Ngày nào họ cũng ra đi rất sớm, chiều tối mới trở về trại. Họ dựng những cái cổng chào. Họ tu sửa, sơn phết những khẩu hiệu trên tường. Họ trồng lại hàng rào trại.
Mọi việc làm này là để chào đón ngày Quốc Hội Việt Nam Thống Nhất ra đời. Những vị Sĩ quan cao cấp này đã khởi đầu nghề thợ mộc của họ bằng những cái bảng “Không Có Gì Quí” ở trại tù Tam-Hiệp.
Tôi có quen vài người trong số những người hằng ngày xuất trại làm mộc, như cựu CHT/BÐQ/ QLVNCH là Ðại Tá Trần Công Liễu (K8 VB) và cựu Tiểu Ðoàn Phó Nhảy Dù là Thiếu Tá Trương Văn Vân (K20 VB). Cả hai vị đó, sau này nơi đất Bắc, đã thành hai ông đội trưởng nổi tiếng. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!
Chín tháng sau ngày chế độ Cộng Hòa sụp đổ, tôi đang chứng kiến một hoạt cảnh chẳng bao giờ ngờ:
Trên trời, phi công Việt Cộng đang lái F5, trước cổng trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang dựng cổng chào, quanh rào trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang làm cỏ. Nơi nơi, người người, chuẩn bị đón Xuân. Mỗi người mang một tâm sự riêng…
Tới trưa, khi nghe tiếng kẻng phát cơm của nhà bếp, chúng tôi được dẫn trở lại trong vòng rào trại K3. Khi đi ngang qua sân bóng chuyền, tôi thấy người ta đang cá độ nhau trận đấu tay đôi đang diễn, một bên là Thiếu Tá Trần Ðạo Hàm, Thủ khoa K17/VB, bên kia là một tay Thiếu Tá Không Quân. Anh Lê Hữu Khái (K15) và thằng bạn tôi, thằng Nguyễn Bích (K20) đang nhảy tưng tưng cổ vũ cho anh Hàm. Cái miệng thằng Bích lớn lắm, nó la hét vỗ tay, bình luận ào ào. Anh Hàm thật là may mắn, có cái loa phóng thanh cỡ bự Nguyễn Bích cổ vũ nên anh có vẻ như đang dẫn điểm.
Tôi thấy nhiều người đã để ghế “xí” chỗ tốt cho buổi TV văn nghệ tối; ngày nào cũng thế, cứ đến trưa là bà con đem ghế ra đặt sẵn trên sân bóng để “xí” chỗ xem phim TV của đài Sài Gòn Giải Phóng. Ai chậm chân thì không còn chỗ tốt. Thời gian này TV Sài Gòn Giải Phóng liên tiếp chiếu bộ phim nhiều tập “Trên Từng Cây Số” và “Ðại úy Ðen” của Ba Lan.
Trong các lán, có nhiều bạn tụ tập bóc lột nhau bằng những con bài. Xì phé, sập xám và mạt chược là những môn chơi phổ thông khắp nơi trong trại. Tôi đã chứng kiến nhiều anh thua bạc phải bán cả những quà cáp từ gia đình gởi vào, như kem đánh răng, thuốc lào, thuốc tây để trừ nợ.
Sau Tết ít lâu, tôi nghe một câu chuyện đau lòng ở K3 năm ấy: có một vị Thiếu tá Quận trưởng khi cắt bánh thuốc lào làm đôi để chi cho chủ nợ một nửa, thì phát hiện ra một bức thư “chui” của người nhà giấu trong ruột bánh thuốc lào. Bức thư vắn tắt đôi lời làm đau lòng người đọc,
“Chị ấy đã gởi hai đứa con của anh cho bà nội của chúng nuôi. Chị đã đi lấy chồng rồi! Anh đừng buồn, ráng học tập lao động cho tiến bộ để sớm được thả về mà nuôi dạy con anh.”
Cái tin bất ngờ sét đánh ấy đã làm cho ông Quận sững sờ, buông rơi những con bài cơ, rô, chuồn, bích. Từ đấy, tôi thấy ông suốt ngày thẫn thờ bên rào, nhìn về phía xa xôi. Ðôi lúc tỉnh táo, ông ôm cây đàn Guitar Solo những bài nhạc xưa, buồn đứt ruột.
Tôi bồi hồi nhớ lại lời tổng thống nói ngày nào:
– “Ðất nước còn, còn tất cả. Ðất nước mất, mất tất cả!”
Ôi! Lời Tổng thống nói thật là hữu lý!
Tổng thống ơi! Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giữ nước, nhưng chúng tôi đã không thể giữ nổi.
Chúng tôi lấy làm xấu hổ vô cùng.
Sao Tổng thống không ở lại giữ nước với chúng tôi?
Lúc này chúng tôi đã mất tất cả rồi Tổng thống ơi!
Về tới lán tôi nhận được một vỉ thuốc ho, một nắm xôi đậu xanh, và mười cục đường tán do anh bạn BÐQ Bắc Hải (Phan Văn Hải) ở lán 22 gởi cho. Tôi, Phan Văn Hải, cùng Phan Ðộ (K20), Huỳnh Bá An (K20), Trần Hữu Bảo (K20), xuất thân từ trường Nam Tiểu Học Ðà Nẵng. Chúng tôi là học trò của cô giáo Phạm Thị Tịnh Hoài, lớp Nhất C.
Hải là Sĩ quan khóa Đặc biệt Thủ Ðức, anh về phục vụ cùng đơn vị BÐQ của tôi ở Pleiku. Những ngày cuối của cuộc chiến, Thiếu Tá Phan Văn Hải giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng TÐ89/BÐQ. Khi đi tù, bạn tôi không có ai thư từ, tiếp tế, nhưng hắn bài bạc rất giỏi, nên lúc nào cũng sung túc.
Chiều hôm đó, anh lán phó hậu cần, Hải Quân Thiếu Tá Bùi Tiết Quý thâu tiền của trại viên trong lán, gởi cán bộ trại mua giùm mì gói, tương, chao, xì dầu và đường tán để ăn bồi bổ thêm trong ba ngày Tết. Tối đến, sau khi đã chia hết phần đường cho người mua, anh Quý cạo được một chén đường chảy dính trong thùng giấy và bao giấy gói đường. Anh ung dung ngồi thưởng thức nồi chè đặc biệt, nấu bằng đường mót được với hột su su và mấy hạt bắp non anh trồng được bên rào. Làm đội phó hậu cần cũng có chút bổng lộc!
Sáng ba mươi Tết, lại gặp ngày tổ tôi trực lán, tôi và một số bạn bị chỉ định xuống làm việc tăng cường cho lán 9 nhà bếp. Tôi phụ việc vo gạo cho thằng Niếu và anh Cung. Những tạ gạo đựng trong bao viền chỉ xanh rất cũ được chuyển về từ bưng biền. Gạo thì mốc vàng, mốc xanh. Những tổ sâu gạo to như nắm tay.
Khi tôi tách những cái tổ sâu ra từng phần nhỏ thì những con sâu gạo trắng ngần có khoang, béo núc, to gần bằng đầu đũa và dài cả phân, ngo ngoe, ngo ngoe…Anh Cung không cho phép tôi vứt bỏ những cái tổ sâu ấy, anh nói rằng nếu vứt bỏ sâu đi thì hết gạo.
“Nếu vứt sâu đi thì còn cái gì mà ăn? Cứ nấu tưới đi! Sâu cũng bổ béo, cũng nhiều ‘Prồ-tê-in’, sâu gạo chứ có phải là dòi ở ngoài chuồng xí đâu mà ngán!”
Khi chảo cơm bắt đầu sôi thì nhiều khách khất thực nước cơm đã cầm ca đứng đợi. Anh Cung cho vài người, mà cũng từ chối đôi người. Người có phần, thì riu ríu cám ơn, người không có phần tiu nghỉu ra về, miệng lầm bầm, “đ.m, đ.m…”
Những trại viên nhà bếp gọi đám người chờ xin nước cơm là “Đội quân cầm ca.” Chữ “cầm ca” ở đây không có nghĩa là ca sĩ, ca hát, hay ca kỹ mà có nghĩa đen chỉ sự cầm cái ca U.S dùng để đựng nước uống, cái ca nằm dưới cái bi-đông bộ binh ấy mà! Dân cầm ca phải đứng xếp hàng cả giờ đồng hồ trước cửa lò cơm để chờ xin một ly nước cơm. Chuyện xếp hàng trước, xếp hàng sau, đôi lúc cũng gây ra ẩu đả. Nước cơm có Vitamin B1 chữa được bệnh phù thũng (?).
Sau này, khi ở trại tù Phú Sơn 4, Thái Nguyên, tôi có đọc một tài liệu nói về cái chất độc của nấm cúc vàng từ gạo mục, gạo mốc. Nấm cúc vàng có chứa một loại chất độc nguyên nhân gây ung thư gan. Nước cơm lại là phần đậm đặc nhất của chất độc nấm cúc vàng từ gạo mốc. Không biết có bao nhiêu nạn nhân của bệnh xơ gan sau này có mặt trong đội quân “cầm ca” ngày ấy?
Chiều ba mươi Tết, bữa ăn có thịt heo kho. Thằng Niếu đem thêm về cả phần lòng heo bồi dưỡng nhà bếp của nó.
Thời buổi khó khăn, thuốc lá bắt đầu khan, những tay nghiền miền Nam bắt đầu nói chuyện thuốc lào.
Những danh từ “điếu cày,” “điếu bát,” “Cái Sắn,” “Hố Nai,” “Vĩnh Phúc,” “Tiên Lãng” nghe mãi cũng quen tai.
Anh Hoàng kim Thanh, Liên Ðoàn Trưởng LÐ24/ BÐQ của tôi, từ bên K4 nhờ ai đó chuyển cho tôi được một bao 555 và một lạng cà phê.
Trong khi thằng Niếu và anh Cảnh lo bếp núc cúng Tất Niên thì tôi đi vòng vòng tán dóc với Lưu Văn Ngọc (K20), cựu Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn 2.
* * *
Tối ba mươi Tết ở K3 Suối Máu không khí thật là rộn rã tưng bừng. Mọi lán đều đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình văn nghệ chào đón Chúa Xuân. Sân khấu văn nghệ được thiết lập giữa sân tập họp. Ðèn điện sáng choang. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam che kín cả sân khấu.
Trước giờ văn nghệ, loa phóng thanh truyền đi những bản nhạc từ đài Sài Gòn Giải Phóng mà Tô lan Phương là giọng ca chính. Những nghệ sĩ tù cũng ăn mặc tươm tất để sẵn sàng trình diễn giúp vui. Ðàn ghi ta, trống, sáo đều làm bằng vật liệu lấy từ kho của nhà bếp như tôle, củi, ván gỗ…các nghệ nhân tự đẽo gọt, cắt xén, dán, ghép thành các nhạc cụ.
Tám giờ tối, buổi “Liên hoan Văn nghệ” đêm ba mươi Tết bắt đầu.
Mở màn chương trình là bài đồng ca “Như Có Bác” tôi không nhớ do lán nào trình diễn.
Kế tiếp, người Thiếu Tá Không Quân Hoàng Ðình Ngoạn (K17 VB) lên đài trong tiếng hoan hô vỗ tay của “đồng bọn” tù Võ Bị. Anh vừa hát được nửa bài tình ca, nhạc vàng “Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên” thì bị “Cán bộ” chặn lại, đuổi xuống đài. Lý do, “Nhạc Ngụy ủy mị!” Sau đó, chỉ những bài hát “giải phóng” được phép trình diễn.
Tiếng sáo trúc Tô Kiều Ngân lâm ly bài “Mùa Xuân Trên Thành Phố HCM” hòa ca cùng tiếng sáo miệng của Nguyễn Tuyên Thùy. Tôi nghe vọng lại từ các khu khác, đại để, bạn tù cũng chỉ hát những bài ca eo éo, nghe rợn tóc gáy, như “Cô Gái Vót Chông,” “Tiếng Ðàn Ta Lư,” “Năm Anh Em Trên Chiếc Xe Tăng” vân vân… Khắp sáu K sáng rực ánh đèn, vang rền tiếng nhạc…
Năm mới đang từ từ tiến về…
Ðến khi màn trình diễn của lán 24 vừa được giới thiệu, thì tôi bỏ chạy về lán. Tôi ngồi một mình trong cái nhà tôle vắng tanh. Nỗi đau đớn nhói tim tôi!
Ngoài kia, bạn cùng lán của tôi, không tự nguyện, đang phải đóng vai “dân quân chống Tầu, chống Tây, chống Mỹ, chống Ngụy” trong một vở trường kịch. Khi họ tập bài bản trong lán, tôi biết họ cũng đau lòng lắm.
Bạn Võ Bị của tôi, Tạ Mạnh Huy vì là Tây lai phải đóng giả làm Tây cho người ta trói. Thằng Niếu phải đóng vai BÐQ “Ngụy” giơ tay đầu hàng để anh Dương Bắc Kỳ đóng vai ông bô lão nông dân Việt Nam “đả đảo”. Mỗi lần tập xong, các bạn tôi đều buồn, họ đề nghị anh lán trưởng Trần Thành Trai cho tập một kịch bản lịch sử “Vua Quang Trung diệt quân Thanh” nhưng anh lán trưởng không đồng ý.
Anh Trai nói, “ban chỉ huy trại đã ra lệnh” cho anh phải thực hiện cho được trường kịch này để mừng Giao Thừa, vì nó có tính cách “Lô gích lịch sử”(?). Và đêm ấy, anh Đội trưởng Trần thành Trai đã thực hiện thành công xuất sắc vở trường kịch “Việt Nam 4000 năm anh hùng.”
Ngay sau khi bế mạc buổi văn nghệ mừng xuân Bính Thìn, mùa xuân đầu tiên của nước “Việt Nam Thống Nhất” (Mùa xuân đầu tiên quân và dân Miền Nam mất nước) anh đội trưởng Trần Thành Trai đã được “ban Chỉ huy trại tuyên dương công lao” trước trại.
Khi trên sân khấu người diễn kịch bắt đầu hát bài “Tiến Quân Ca” thì tôi bật khóc. Một mình, ngồi trong đêm tối, tôi nức nở khóc vùi. Tôi chưa bao giờ thấy cái khóc lại có hiệu lực chữa đau đớn hiệu nghiệm như đêm ấy! Chợt tôi nghe tiếng chân ai ngoài cửa lán. Rối tiếng lên đạn súng AK…
Thình lình, tia đèn pin chiếu ngay mặt tôi, làm mắt tôi chói lóa.
– “Anh kia! làm gì ngồi khóc đấy? Sao không đi “rự nễ” mừng Xuân?”
Tên bộ đội đi tuần tra lớn tiếng hỏi.
Tôi lấy tay che mắt, nhưng không nhìn thấy gì. Tôi lặng thinh. Tiếng quát lại tiếp:
– “Anh có mồm không thì bảo? Câm à? Sao không giả nhời tôi?”
Tôi vẫn ngồi im. Ánh đèn đảo một vòng quanh vách lán rồi tắt. Căn phòng tối om. Tôi nghe tiếng chửi:
“Ðịt mẹ thằng câm! Mới xa nhà có mấy tháng mà đã nhớ nhà phải khóc. Ông đây xa nhà hai ‘lăm’ rồi mà ông có khóc đâu! Ðồ không biết xấu hổ!”
Tôi vẫn lặng thinh.
“Rầm!”
“Chảng!”
Tên bộ đội giận dữ, đóng sập cửa lán. Nó còn bồi thêm một cái đá cật lực vào vách tôle. Vài giây sau, tôi nghe tiếng dép râu bước đi xa dần về hướng sân. Tôi nhìn đồng hồ tay (Khi đó chưa có lệnh thu giữ tư trang của tù) lúc ấy hai cái kim lân tinh chập nhau trên số 12: Giao Thừa!
Ngoài sân tiếng ca hát còn đang tiếp tục. Tôi mồi một điếu thuốc 555. Trong trí óc tôi, hình ảnh những Giao Thừa đã qua trong đời hiện về, mờ nhạt như từ thế giới nào rất xa…
Ngày xưa, mỗi độ Giao Thừa, cho dù lúc đó tôi đang đi hành quân với một toán Biên Vụ (Viễn Thám) quân số chỉ có năm người, lần mò trên những nhánh của hệ thống “đường mòn Hồ chí Minh” trên đất Lào, hoặc len lỏi trong rừng tre gai Plei-Trap Valley, hay lúc tôi đang chỉ huy cả năm, sáu trăm quân trấn giữ Pleime, hoặc ải địa đầu Bu-Prang miền biên giới Việt Miên, tôi không lần nào quên nghe chương trình Giao Thừa của Ðài Phát Thanh Quân Ðội.
Giao Thừa Xuân Bính Thìn là Giao Thừa đầu tiên trong đời, tôi không tìm thấy lá cờ nước tôi, không nghe được câu hát: “Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi…”
Bài quốc ca này đã đi vào lịch sử.
Một thế hệ đã hát nó với cả bầu máu nóng trong tim. Bao nhiêu người thân của tôi, bao nhiêu bạn bè của tôi đã cống hiến tuổi trẻ và cả thân xác mình cho bài ca đó.
Một thế hệ đã lớn lên thành người với bài ca đó.
Một thế hệ sẽ mang theo nó xuống tuyền đài…
Chợt tiếng anh lán trưởng Trần Thành Trai vọng lại trên loa phóng thanh,
“Ðổi đời đã tới! Cách mạng đã thành công!”
Tiếng hô lặp lại hai chữ “Thành công!” của trại viên vang dội đêm Trừ Tịch. Tôi cảm thấy tiếng hoan hô đã làm rung những tấm tôle trên mái.
Trời đêm Trừ Tịch tối đen.
Tôi không biết những vạt đen ẩn hiện sau hè, là bóng những bụi rau rền, giàn mùng tơi hay những hồn ma đói cuối năm chập chờn.
Ngoài xa vẳng lại, từ bên K4, ai đó bắt đầu hát bài “Lá Ðỏ”…
* * *
Vài năm sau, tôi nghe tin, cựu Y sĩ Thiếu tá quân y viện Duy Tân, Ðà Nẵng, Trần Thành Trai đã được tha khỏi trại cải tạo. Bác Sĩ Trai đã cùng Bác Sĩ Trần đông A, cựu Y sĩ Thiếu tá Nhảy Dù, nổi tiếng sau những ca mổ tách rời trẻ song sinh ở Sài Gòn. Tôi cũng đã nghe tin, giờ này, Bác Sĩ Trai đang là một “Dân biểu” của “Quốc Hội nước CHXHCNVN”.
Nhân ngày đầu Xuân Ất Dậu (2005), tôi nhớ lại chuyện xưa, ba mươi năm trước. Nhớ những bạn Võ Bị, cựu tù lán 24 K3 Tam Hiệp. Trong số những người bạn đó, thì hai người đã qua đời, là Hoàng Thế Bình và Ngô Văn Niếu. Còn những bạn khác như Dương, Lành, và Huy thì đang ở Mỹ, không rõ họ có còn nhớ chuyện ngày xưa hay không? Riêng tôi, cái đêm Giao Thừa ba mươi năm trước ấy đã trở thành không thể nào quên, vì đó là lần đầu trong đời, tôi đón năm mới với thân phận một người tù mất nước…!!!
Posted in Người Việt - Nước Việt, Tưởng Niệm - Tri Ân | Leave a Comment »
Ủy Ban Nhân Quyền và Sắc Tộc của Thượng Nghị Viện Canada
Posted by Webmaster on January 23, 2014
Thơ Chúc Tết của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Gởi Đồng Bào Trong Nước
Kính thưa bà con, cô bác, anh chị em,
Nhân dịp Tết Nguyên Đán năm Giáp Ngọ 2014, đại diện cho Ủy Ban Nhân Quyền và Sắc Tộc của Thượng Nghị Viện Canada,và cộng đồng người Việt mà tôi đại diện, tôi xin thân ái gởi đến toàn thể đồng bào một năm mới an khang, hạnh phúc và may mắn.
Dù cầu mong cho đồng bào được an khang, nhưng tôi vẫn biết an khang thế nào được khi người tu hành không được quyền tự do tín ngưỡng. Tín đồ các tôn giáo vẫn liên tục bị áp chế, tài sản của các tôn giáo vẫn bị nhà cầm quyền Việt Nam chiếm đoạt, tín đồ bị ngăn cản, đánh đập khi tổ chức, tham dự đản sanh các Đấng Giáo Chủ của họ.
Hạnh phúc nào đến đ ược với những gia đình mà những người con gái phải chấp nhận lấy chồng ở nơi nào mình không hề biết để cứu gia đình trong cơn quẫn bách. Cả nước hiện có khoảng 600 ngàn phụ nữ lấy chồng ở Đài loan, Hàn Quốc, Trung Quốc (theo Tin Tức Pháp Luật do Ngọc Hà và Nguyễn Xoài) mà trong những ngày Tết thiêng liệng không về được để xum họp với cha mẹ gìa cùng bầy em thơ đang mỏi mắt mong chờ.
Dù không ở quê nhà, tôi cũng hình dung ra được các bà mẹ quê trong những ngày giáp Tết đang đứng tựa cửa chờ con từng giờ, mong những đứa con lấy chồng xa xứ kia về xum vầy trong ba ngày Tết. Nhưng những đứa con thương yêu vẫn biền biệt phương trời nào, không biết ấm lạnh ra sao. Những bà mẹ không ngăn được những giọt nước mắt nhớ con trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Ai làm ra thảm cảnh nầy?
Những người Cha Việt Nam, người gánh vác cuộc sống gia đình, giờ nầy đành bó tay nhìn đứa con gái thương yêu của mình rời bàn tay bảo bọc của mình lên đường về nơi vô định để cứu gia đình thay mình. Không nổi đau nào lớn hơn nổi đau nầy của người cha Việt Nam. Ai làm ra thảm cảnh nầy?
Hạnh phúc nào đến với người dân oan mà trong ba ngày Tết vẫn lang thang trên công viện, trước cổng dinh thự nguy nga, lộng lẫy của tham quan, cường quyền để đòi lại nhà đất bị chúng cướp. Nhà đâu để rước ông bà về chiều ngày Ba Mươi Tết? đât dâu, ruộng vườn đâu để sinh sống, thì làm sao có mùa xuân? Ai ăn cướp tài sản, ruộng vườn của người nông dân hiền hoà, cuộc sống chỉ bám vào đất?
Hạnh phúc thế nào khi những bà mẹ có con đang trong nhà tù vì tranh đấu cho quyền công dân, quyền làm người, tranh đấu chống bọn bành trướng Trung Cộng đang từng bước lấn chiếm quê hương mà tiền nhân đã đổ xương máu gìn giữ bao đời. Con cái đang trong vòng lao tù thì cha mẹ nào thấy được mùa xuân!
May mắn gì khi cả xứ Huế trong những ngày Tết là ngày tang chung cho hầu hết gia đình nạn nhận của Tết Mậu Thân mà người cộng sản vung tay giết gần 6000 người dân vô tội. Ngày Tết là ngày Giỗ Tập Thể cho những người con xứ Huế. May gì khi nổi thảm sát kinh hoàng còn in hằng trong tâm can của những thân nhân còn sống?
Dân Miền Bắc cũng chung niềm đau, khi ngày 25 tháng Chạp họ không còn biết đâu là mồ của cha, chồng, con để đi tảo mộ, thấp nén hương cho người quá cố. Xương cốt của cha tôi đâu? xương cốt của chồng tôi đâu? xương cốt con tôi đâu? Đang rải khắp Trường Sơn hay bên góc núi, ven đường, bên những vạc ruộng hoang tàn miền Trung, hay trên những cách đồng còi ngập nước Nam bộ? Ai biết nổi đau nầy của họ trong những ngày Tết?
Đảng đang tận hưởng sang giàu trên nổi đau, những mất mát không gì có thể đền bù được của cha mẹ, vợ/chồng, con nạn nhân đã gục chết để làm ra giàu sang cho họ hưởng và họ không buồn đoái hoài tới bà Mẹ Liệt Sĩ đang đói rách đâu đó ở xó hẻm, ven đồng hoặc trong những căn nhà tồi tàn ngồi nhìn mảnh bằng Liệt Sĩ với vô vàn đau thương, hối tiếc.
Hỡi bà Mẹ Việt Nam, hỡi người hiền phụ Việt Nam, tôi có cùng nổi đau của quí bà mà trong những ngày Xuân phải tay xách, nách mang vào nhà tù để nuôi đứa con thân yêu, nuôi người chồng trụ cột của gia đình mình trong tù vào những ngày Tết chỉ vì họ dám tranh đấu cho quê hương, cho dân tộc nầy.
Hỡi người Cha Việt Nam, tôi thấu hiểu nổi đau xót trước sự bất lực của quí vị, khi ngăn giọt lệ tiễn đưa con mình về quê chồng mà nơi nào quí vị không hề biết. Tôi là cha của các con gái tôi, tôi là người Việt Nam, tôi thấu hiểu nổi đau nầy.
Hỡi người dân xứ Huế thân yêu, tôi biết những gịot nước mắt rơi âm thầm trong những ngày Tết để đau xót cho cái chết tức tưởi, oan khiêng của thân nhân mình mà nơi suối vàng họ vẫn còn réo gọi thân nhân giải oan cho họ.
Mùa xuân chan hoà nước mắt, nỗi đau của đồng bào, nhưng là thời gian đem lại niềm vui, hoan lạc tràn trề, như bất tận cho những cán bộ, đảng viên cộng sản đang ngự trị trên quê nhà. Mùa xuân là dịp họ tung bạc tỉ ra để ăn nhậu, đãi đằng, đĩ điếm trong nổi đau của những bà mẹ xa con, vợ xa chồng, người cha đau đớn nhìn con bán thân về xứ lạ quê người.
Trong lá thư nầy tôi cũng xin chúc đồng bào hải ngoại một năm mới được an khang, thịnh vượng để góp phần vào cuộc tranh đầu cho đồng bào ruột thịt nơi quê nhà.
Cùng nổi đau của đồng bào ba miền Nam Trung Bắc, tôi sẽ dùng mùa xuân năm nay để đi gặp đồng bào hải ngoại để nói lên những thống khổ của bà con nơi quê nhà, để kêu gọi họ tích cực hơn nữa trong việc tranh đấu đòi lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào.
Trân trọng kính chào đồng bào.
Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Posted in Người Việt - Nước Việt, Z đến A, Đời sống quanh ta | Tagged: Ngô Thanh Hải | 1 Comment »
Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Trận Hải Chiến Hoàng Sa cử hành khắp nơi trên thế giới
Posted by Webmaster on January 22, 2014
Tại Sài Gòn – Nhóm Trẻ No-U
http://www.youtube.com/watch?v=04ADsvHfFZg
http://www.youtube.com/watch?v=HWPG8-kIlig
Tại Hà Nội – Công an trấn áp biểu tình tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa
http://www.voatiengviet.com/media/video/1833480.html
Tại Boston, Massachusetts USA
http://www.youtube.com/watch?v=odrfFrsizIU
Tại Toronto, Canada:
http://www.youtube.com/watch?v=c1h-Isez26M
http://www.youtube.com/watch?v=xayBy2rLfRQ
Tại Paris, Pháp
http://www.youtube.com/watch?v=gRPqecgmQUg
Tại Little SaiGon, Nam Cali
http://www.youtube.com/watch?v=YUpGN4MNNd4
http://www.youtube.com/watch?v=XeNng9BEjPE
http://www.youtube.com/watch?v=G9TB1-aW20Y
Tai Sacramento, CA
http://www.youtube.com/watch?v=pvjbGyUxoPE
Tại Washington DC
http://www.youtube.com/watch?v=SebXKS28LS4
Tại New South Wales – Úc Châu
http://youtu.be/7Z_2F5leIdg
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England | Tagged: biển đông, China, Hai Quan, Hoàng Sa, Trung Cộng, Trường Sa | Leave a Comment »
Những chuyện trong ngày – Thứ Tư 22-1-2014
Posted by Webmaster on January 22, 2014
Posted in Những Chuyện Trong Ngày, Đời sống quanh ta | Tagged: chuyện trong ngày | Leave a Comment »
Liên đoàn Lao động Việt được thành lập
Posted by Webmaster on January 22, 2014
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok – 2014-01-21
Trong hai ngày 17 và 18 vừa qua một tổ chức tranh đấu cho quyền lợi người lao động Việt Nam đã được thành lập qua đại hội lần thứ nhất mang tên Liên đoàn Lao động Việt tự do, gọi tắt là Lao Động Việt được tổ chức tại thủ đô Bangkok của Thái Lan.
Vì quyền lợi người lao động Việt Nam
Từ nhiều năm qua các tổ chức hoạt động vì quyền lợi cho người lao động Việt Nam đã đóng góp những nhân tố quan trọng và tích cực cho việc thúc đẩy giới chủ và ngay cả chính phủ Việt Nam phải xem xét chính sách cũng như cách đối xử với người lao động trong nước cũng như quốc tế khi xuất khẩu lao động Việt sang các nước thứ hai.
Các tổ chức này hoạt động trong tinh thần tương trợ cho người lao động Việt Nam giúp họ biết được quyền lợi của mình trong khi làm việc dưới tình trạng hoàn toàn bị khống chế, o ép bởi Tổng Liên Đoàn Lao ĐộngViệt Nam, một tổ chức do nhà nước quản lý và điều hành.
Sau một thời gian hoạt động bốn tổ chức có tên Công đoàn Độc lập Việt Nam, Hiệp hội đoàn kết công nông Việt Nam, Phong trào lao động Việt Nam và Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam đã cùng nhau tập họp lại để trở thành liên đoàn có cái tên hoàn toàn mới đó là Liên Đoàn Lao Động Việt Tự do (Free Viet Labor Federation)
Tham dự hội nghị này chúng tôi nhận thấy có hơn hai mươi đại diện các tổ chức vừa nói từ nhiều quốc gia như Bỉ, Đức, Pháp, Áo, Ba lan, Úc, Mỹ, Mã Lai, Thái Lan, và đặc biệt có cả Việt Nam đã tập họp nơi phòng hội nghị của khách sạn First Hotel tại Bangkok Thái Lan để bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ đầu tiên.
Khách mời của đại hội này là hai vị giáo sư giảng dạy về tổ chức xã hội dân sự cũng như quyền lợi người lao động đến từ Australia. Đặc biệt với phát biểu của ông Bent Gerht, Chủ tịch khu vực Đông Nam á của tổ chức Worker Rights Connection đã giúp cho đại hội thêm nhiều kinh nghiệm khi điều hành một đường giây bảo vệ người lao động xuyên suốt nhiều nước tại khu vực. đọc tiếp
Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: Lao Động | Leave a Comment »
Video clip Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Trân Hải Chiến Hoàng Sa tại Boston, Massachusetts.
Posted by Webmaster on January 21, 2014
↓
Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Trân Hải Chiến Hoàng Sa (19-1-1974 – 19-1-2014) do Gia Đình Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vùng New England tổ chức tại Boston, Massachusetts ngày 19-1-2014.
Bản Tin Đặc Biệt, phóng sự và video do Trường Giang và Võ Thiện Toàn thực hiện, được phát hình lần đầu tiên do phóng viên Vạn Lý thể hiện trên đài SBTN Washington DC. Gia Đình Hải Quân V.N.C.H. vùng New England xin cảm ơn quý vị.
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, HPNCV/NE, Người Việt - Nước Việt, Nhịp sống cộng đồng Boston/New England, Sinh hoạt | Tagged: biển đông, China, Hai Quan, Hoàng Sa, Trung Cộng, Trường Sa | Leave a Comment »
40 Năm Hải Chiến Hoàng Sa – Dân Tưởng Niệm, đảng ăn mừng bán nước
Posted by Webmaster on January 21, 2014
Việt Nam kỷ niệm ngày thiết lập quan hệ với Trung Quốc
Lễ kỷ niệm diễn ra ngày 17/1, tức hai ngày trước khi tròn 40 năm ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa làm hơn 70 chiến sỹ Việt Nam hy sinh.
VOA Tiếng Việt – 21-01-2014
Theo Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Hong Kong và Macau mới tổ chức lễ kỷ niệm 64 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Tin cho hay, buổi lễ có sự tham gia của nhiều giới chức địa phương. Theo Thông tấn xã Việt Nam, bà Nguyễn Thị Nhã, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Hong Kong và Ma Cao, ‘đã ôn lại mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Trung Quốc trong 64 năm qua, nhấn mạnh rằng kể từ khi bình thường hóa vào năm 1991 tới nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước không ngừng phát triển sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực’.
Thông tấn xã của nhà nước Việt Nam còn cho rằng các chuyến thăm lẫn nhau của Chủ tịch và Thủ tướng Việt Nam và Trung Quốc ‘có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung’.
Trưởng Đại diện Ngoại giao Trung Quốc tại Hong Kong cũng được trích lời nói rằng phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc ‘đáp ứng lợi ích căn bản của hai nước và nhân dân hai nước’.
Lễ kỷ niệm diễn ra ngày 17/1, tức hai ngày trước khi tròn 40 năm ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa làm hơn 70 chiến sỹ Việt Nam hy sinh.
Nhiều ý kiến trên các trang mạng xã hội đã bàn luận về hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam, và đặt nó trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng có nhiều hành động gây hấn ở biển Đông.
Việt Nam không chính thức kỷ niệm cuộc hải chiến Hoàng Sa. Một lễ tưởng niệm dự kiến của huyện Hoàng Sa cũng đã đột ngột bị hủy bỏ.
Tin liên hệ:
Đà Nẵng hủy buổi kỉ niệm Hoàng Sa
Công an giả danh thợ cắt đá để phá buổi tượng niệm tử sĩ Hoàng Sa
Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: biển đông, China, Hoàng Sa | Leave a Comment »
Khắp Nước nhớ biến cố 40 năm mất Hoàng Sa
Posted by Webmaster on January 20, 2014
Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam – Đăng ngày: 20.01.2014

VRNs (20.01.2014) – Sài Gòn – Nhân 40 năm Trung Quốc chiếm Hoàng Sa (19.01.1974) và 74 người lính của VNCH đã ngã xuống trong cuộc chiến này, khắc cả nước, từ Bắc Trung Nam đã có nhiều tổ chức, nhóm, cá nhân đã có những hoạt động nhớ tới biến cố này:
Tối ngày 17.01.2014
Huế
Khối Tự do Dân chủ 8406 kỷ niệm 40 năm Hoàng Sa tại bãi biển Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế hướng thẳng ra Hoàng Sa, sáng ngày 17-01-2014. Cha Phan Văn Lợi viết: “Tử sĩ anh hùng nằm xuống trong biển cả. Công dân yêu nước đứng dậy giữa trời quê.”
Xin bấm link dưới đây để dọc tiếp và xem trọn bộ hình ảnh từ trang web của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.
Khắp Nước nhớ biến cố 40 năm mất Hoàng Sa
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt | Tagged: biển đông, China, Hoàng Sa | Leave a Comment »
40 Năm Hải Chiến Hoàng Sa – Dân Tưởng Niệm, Đảng Bán Nước
Posted by Webmaster on January 20, 2014

Lương văn Phước, Gia Đình Hải Quân V.N.C.H. vùng New England phát biểu trong Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Trân Hải Chiến Hoàng Sa được tổ chức ngày 19-1-2014 tại Boston.
Thân xác Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 đã chìm sâu vào lòng biển Hoàng Sa kề từ ngày 19/1/1974. Sau 40 năm bị đảng cộng sản Việt Nam cố bưng bít che đậy, tiếng súng Hoàng Sa từ các chiến hạm của HQ/QLVNCH đang trổi dậy mãnh liệt trong lòng người dân nước Việt. Sự hy sinh của 74 chiến sĩ VNCH là lời nhắc nhở cho người dân Việt, là bài học cho những thế hệ mai sau biết rằng Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.
Trân hải chiến Hoàng Sa khẳng định trước công luận quốc tế rằng Trung Cộng đã cướp quần đảo Hoàng Sa một cách bất hơp pháp, đã cướp bằng vũ lực, ngày 19/1/1974. Sự hy sinh của 74 chiến sĩ VNCH đã tạo cho dân tộc một thế đứng vững chắc trên phương diện pháp lý quốc tế để đòi lại biển đảo quê hương.
Nhưng chúng ta, những người gọi mảnh đất và sông núi biển trời từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau là quê hương, phải làm sớm, phải kiện Trung Cộng ra trước các cơ chế luật pháp quốc tế như quốc gia Philippines đang làm. Đã 40 năm qua, im lặng quá lâu, cũng có thể bị luật quốc tế áp dụng quy tắc mặc nhiên đồng thuận, và chúng ta có thể bị mất quyền khiếu kiện.
Vậy thì chừng nào đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam dám đưa đưa Trung cộng ra tòa? để trả lời chúng ta chỉ cần nhìn vào vài sự kiện sau đây:
– Ngày 17/03/2012, tại một trường đại học ở Hà Nội, có buổi thuyết trình do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, viện trưởng thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, ông Ngọc đã nhận định “Hiện nay Việt Nam đang là nước yếu, nên chúng ta vẫn không ngừng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, còn việc đòi lại và bảo vệ chủ quyền như thế nào thì không nên nôn nóng, để đến trăm năm hoặc nghìn năm sau, con cháu chúng ta đòi lại cũng vẫn được.”
– Trong năm 2012, lãnh hải VN bị Trung Cộng xâm lăng ồ ạt, ngư dân bị bắt bớ sách nhiễu, tàu bè chiến hạm Trung Quốc đủ cỡ đủ loại, có tổ chức, có hệ thống, có chiêng trống rầm rộ tung hoành trên Biển Đông, thì Ngày 10-7-2012, Phó Thủ Tướng cộng sản Nguyễn Thiện Nhân phát động chiến dịch “Đền Ơn Đáp Nghĩa” với quan thầy Trung Cộng, kéo dài trong nhiều tuần lễ, tuần tự diễn ra khắp các tỉnh thành đất nước.
– Ngày 16/12/2013, Khi Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đang viếng thăm VN thì ông Nguyễn Văn Thơ, Đại sứ cộng sản Việt Nam tại Trung Cộng đã vội vã tuyên bố với báo chí ở Hà Nội như sau: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, tăng cường hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Chúng ta không có hai lòng”.
– Đầu năm 2014, Khi đảo Hải Nam bắt đầu áp đặt lệnh phải xin phép nhà nước hải tặc TC khi vào đánh cá ở Biển Đông, nghỉa là ngang ngược trắng trợn chiếm 2/3 diện tích Biển Đông, thì Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ như từ nhiều năm nay, cho hội nghề cá kêu gọi ngư dân cố bám biển bám đảo, mà không hề có một kế hoạch bảo vệ nào từ các lực lượng võ trang. Cảnh sát biển, không quân, hải quân của nhà nước cộng sản Việt Nam, họ đang ở đâu, làm gì?!
– Không như chính phủ Phi Luật Tân, nhà nước cộng sản Việt Nam không dám, hay không thể kiện Trung Cộng, vì Phạm Văn Đồng đã theo lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm dâng biển dâng đảo từ năm 1958, ông Tiến sĩ Ngọc thì bảo có thể đợi 1000 năm sau, ông đại sứ Thơ thì thế thốt rằng cộng sản Việt Nam không có hai lòng, ông phó thủ tướng Nhân thì lo đền ơn đáp nghĩa, ông TBT Trọng, ông chủ tịch nước Sang thì đi Bắc Kinh thụ phong và nhận lệnh quan thầy Trung Cộng. Như vậy, rõ ràng là cộng sản Việt Nam đã không làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của quê hương.
– Ngược lại, nhờ các trang mạng của rất nhiều bloggers trong nước , và bài vở dày đặc trên internet từ khắp thế giới, đã giúp đồng bào quốc nội biết về những hoạt động của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong thời gian 20 năm bảo vệ non sông. Những hoạt động bao gồm mọi lãnh vực: hành chánh, kinh tế, khoa học, quân sự, ngoại giao nhằm thiết lập, phát huy và duy trì chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và các hải đảo. Và trên tuyệt đối tột cùng, là sự hy sinh của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
– Cho nên người dân Việt Nam đã và đang tưởng niệm tri ân 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh tại Hoàng Sa. Dân chúng đã tổ chức các lễ tưởng niệm từ năm 2011, đã đi biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng, dương cao các biểu ngữ vinh danh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Mọi chỉ dấu cho thấy các tôn giáo, đoàn thể, cá nhân, từ một số cựu đảng viên bộ đội, cho đến sinh viên học sinh, từ già đến trẻ đang hăng hái chuẩn bị cho những sự kiện bày tỏ lòng yêu nước chống Trung Cộng xâm lăng và tôn vinh sự hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa vào thời điểm kỷ niệm 40 năm trân hải chiến Hoàng Sa 1974.
– Phải đối phó với lòng yêu nước của người dân, cộng sản Việt Nam dù không dám “hai lòng” với quan thầy Trung Cộng, cũng phải lúng túng, – đàn áp?, – hay làm ngơ?”. Đàn áp thì sẽ châm dầu vào lửa, các cuộc biểu tình sẽ quay mũi dùi vào đảng cộng sản Việt Nam, còn làm ngơ thì sẽ phật ý Trung Cộng, sẽ bị thanh trừng, mất đặc quyền đặc lợi. Cho nên mới có chuyện …
Nguyễn Tấn Dũng muốn “Chính phủ lên kế hoạch kỷ niệm 40 năm sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974)”. Theo chúng tôi nghĩ, cũng giống như việc vài tờ báo đảng và một đài truyền hình trong nước cho đăng lại, phổ biến những tài liệu của chính phủ VNCH mà mọi người đã biết từ lâu, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố như vậy cũng không ngoài mục đích tháo ngòi những quả bom yêu nước, kiểu như ra lệnh cho nhân dân “đừng lo, để đảng lo – đừng làm, để đảng làm”. Nhưng lời tuyên bố của ông Dũng cũng không được tôn trọng trong nội tình đảng cộng sản Việt Nam, chỉ hai giờ sau khi đưa tin, bản tin này trên trang web Thanh Niên Online đã bị xóa bỏ. Về việc tưởng niệm, cho đến ngày hôm nay, chưa có một động tỉnh nào từ cấp nhà nước trung ương, chỉ có một lễ tưởng niệm hôm 11.1, tại Hà Nội, do Trung tâm Minh Triết thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức; các sinh hoạt dự trù ở Đà Nẳng bị cắt bớt (Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẳng nói rằng vì lý do kỷ thuật chớ không phải do lệnh trên chỉ thị – thật là khó tin), và một buổi lễ tưởng niệm khác, ở Hà Nội, sẽ được tổ chức ngày 19-1 do hội đá banh No U FC kêu gọi. Thưa quý vị, nếu Nguyến Tấn Dũng lên kế hoạch, thì kế hoạch của ông ta chỉ làm được đến như vậy.
Nhưng người dân VN, thì làm được nhiều hơn, trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ xin nêu lên ba sự việc thật tiêu biểu:

– Nguyển Phương Uyên đã dõng dạc đuổi “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông”, đã khẳng khái giảng dạy về sự khác biệt giữa đảng cộng sản Việt Nam và Tổ Quốc Việt Nam cho các chức quyền tòa án Long An.
– Người dân VN trong cuộc biểu tình ngày đầu năm 2014 tại Sài Gòn đã vinh danh cố nhạc sĩ Việt Dzũng, là một chiến sĩ miệt mài tranh đấu cho Tự Do – Nhân Quyền, đã bị cộng sản Việt Nam kết án tử hình khiếm diện.
– Ngày 14-1-2014, học viên Pháp Luân Công căng biêu ngữ ngay trước lăng họ Hồ, với nội dung “Tà đảng Việt Cộng và đại ma đầu Hồ Chí Minh là tội đồ của dân tộc“.
Người dân trong nước đã không còn sợ cộng sản Việt Nam. Kỷ nguyên thông tin đang vạch trần mọi điều gian dối mà cộng sản Việt Nam tô vẽ thành huyền thoại từ 80 năm qua. Những bước đi dân chủ nhằm thay đổi đường lối quốc gia hay nhân sự chính phủ ở các nước láng giềng Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia, đang đánh thức dân tộc Việt Nam. Và ngày mà người dân nước Việt xuống đường, đòi hỏi quyền người dân, quyền con người và quyền bảo vệ non sông gấm vóc sẽ không còn xa nữa.
Chúng tôi rất cảm động và hãnh diện khi biết người dân nước Việt đã và đang tri ân và truy niệm những đồng đội của chúng tôi, vì họ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc ở Hoàng Sa; nhưng trước đó, 74 chiến sĩ này và hằng trăm ngàn đồng đội Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc mọi quân binh chủng, cũng đã hy sinh để cống hiến cho nhân dân miền Nam 20 năm sống trong tư do dân chủ nhân quyền. Nếu mọi người VN sống trong chế độ nhồi sọ ngu dân, bần cùng hóa, dùng hộ khẩu để kiểm soát con người của miền Bắc; nếu không có hạt mầm dân chủ tự do từ miền Nam, nước ta ngày nay có khi còn khốn khổ lạc hậu hơn cả Bắc Hàn. Cho nên, kính xin quý vị hãy đề phòng âm mưu xảo quyệt của cộng sản, nhằm tách rời 74 anh hùng dân tộc này ra khỏi hàng ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tưởng niệm hay vinh danh dưới hình thức nào, thì cũng phải nhớ rằng, đây là 74 chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chiến đấu để bảo vệ Tự Do, Nhân Quyền, chủ quyền lãnh thổ Quốc Gia, và đã hy sinh dưới lá cờ vàng.
Lương Văn Phước
Boston, Massachusetts. – Ngày 19-1-2014.
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, HPNCV/NE, Người Việt - Nước Việt, Sinh hoạt | Tagged: biển đông, China, GDHQNE, Hai Quan, Hoàng Sa, HPNCV/NE | Leave a Comment »
Điều trần về tù nhân lương tâm VN tại Quốc hội Hoa Kỳ
Posted by Webmaster on January 17, 2014
Thanh Trúc, phóng viên RFA – 2014-01-17
Đề nghị quốc hội Mỹ can thiệp
Sáng thứ Năm ngày 16 vừa qua, buổi điều trần về tù nhân lương tâm trên thế giới, trong đó có tù nhân lương tâm Việt Nam, diễn ra trước Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Thanh Trúc có mặt tại chỗ và tường trình đến quí vị:
“Tôi là Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh hiện bị giam giữ tại Việt Nam. Hôm nay tôi đến đây vì con tôi bị cộng sản Việt Nam bắt giam và đánh đập trong nhà tù.”
Buổi điều trần về Tù Nhân Lương Tâm Trên Thế Giới tại điện Capitol Quốc Hội Hoa Kỳ, gồm các nhân chứng là đại diện USCIRF Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới, Amnesty International Ân Xá Quốc Tế và các tổ chức nhân quyền khác ở DC, lần lượt trình bày về số phận những người tranh đấu cho nhân quyền đang bị cầm tù trên thế giới.
Buổi điều trần diễn ra trước Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos thuộc quốc hội Hoa Kỳ, với sự hiện diện của hai vị đồng chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos là dân biểu Frank Wolf và dân biểu James McGovern, bên cạnh dân biểu Christopher Smith, tác giả Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam.
Dịp này, BPSOS Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển ở Washington, phối hợp cùng các tổ chức bảo vệ nhân quyền, phát động chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam và chiến dịch Xóa Bỏ Tra Tấn Ở Việt Nam.
Trong 5 nhân chứng ra điều trần về tù nhân lương tâm có một người Việt Nam, bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh, nhà hoạt động bảo vệ quyền lao đồng đang bị giam cầm trong nước với bản án 7 năm, Bà cho biết:
Trần Thị Ngọc Minh: “Tôi đến đây, đề nghị với các chính giới và quốc hội Hoa Kỳ can thiệp với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do cho con tôi. Không những trả tự do cho con tôi mà còn phải trả tư do cho tất cả tù nhân lương tâm khác tại Việt Nam bởi vì họ là những người yêu nước, những người không có tội với tổ quốc, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giam và hành hạ, đánh đập con tôi ở trong tù rất tàn nhẫn. Tôi xin đến đây mong quí vị ở chính giới Hoa Kỳ cứu giúp con tôi cùng hai người bạn là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương, cùng hoạt động giúp đỡ những người dân oan, những người công nhân bị áp bức, bị bóc lột. Đáng lý ra nhà nước cộng sản phải trân trọng thì lại bắt ba bạn trẻ này, đánh đập, bỏ tù và hành hạ trong nhà tù.”
Thanh Trúc: Bà nói rằng cô Đỗ Thị Minh Hạnh bị tra tấn trong tù. Lý do vì sao cô ấy bị đánh?
Trần Thị Ngọc Minh: “Có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là Hạnh không nhận tội. Lý do thứ hai là Đoàn Huy Chương, nguyễn Hoàng Quốc Hùng đều cũng không nhận tội, và lý do thứ ba là con tôi đấu tranh chống lại sự cưỡng bức lao động trong nhà tù và sự ngược đãi tù nhân trong nhà tù.”

Thanh Trúc: Bà nói không những chỉ Đỗ Thị Minh Hạnh , Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương mà còn cho những tù nhân lương tâm khác mà bà biết. Vì sao phải nói thay cho những tù nhân lương tâm chưa được nhắc tới?
Trần Thị Ngọc Minh: “Những tù nhân lương tâm ở Việt Nam không có tội với tổ quốc, không có tội với đất nước mà là những người yêu nước, những người đứng lên đấu tranh cho nhân quyền , đấu tranh cho quyền được sống, quyền còn người ở tại Việt Nam nhưng cũng bị nhà nước cộng sản Việt Nam bắt giam, hành hạ và đánh đập. Vì vậy cho nên không những tôi đến đây để đấu tranh để lên tiếng nói cho con tôi cho Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương, mà còn lên tiếng cho tất cả các tù nhân lương tâm ở tại Việt Nam. Mong được các chính giới ở Hoa Kỳ can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm vô điều kiện.”
Cùng ngày, vào buổi chiếu, một cuộc họp báo do dân biểu Christopher Smith và dân biểu Frank Wolf đồng bảo trợ để vận động cho chiến dịch Xóa Bỏ Tra Tấn xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam, được chau63n bị từ hai năm qua.
Tại buổi họp báo này, bản báo cáo về tình trạng tra tấn tù nhân ở Việt Nam được công bố , 4 nhân chứng người Việt trình bày về những trường hợp liên quan , trong đó trường hợp người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu được nêu lên.
Một trong 4 nhân chứng phát biểu tại cuộc họp báo buổi chiều, ông Trần Tử Thanh, cho biết:
Trần Tử Thanh: “Ngày hôm nay chúng tôi được tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng mời đến tham dự buổi họp báo Xóa Bỏ Tra Tấn hiện đang rất thịnh hành tại Việt Nam vì công an Việt Nam thường đánh và tra tấn các tù nhân chính trị trong khi họ thẩm vấn.”
Thanh Trúc: Bao nhiêu chục phần trăm mà ông hy vọng chiến dịch vận động Xóa Bỏ Tra Trấn Ở Việt Nam có thể thành sự thức?
Trần Tử Thanh: “Tôi nghĩ rằng với tất cả những áp lực của chính phủ Hoa Kỳ, của quốc hội Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trên thế giới, nếu áp lực Việt Nam mạnh mẹ, thì tôi nghĩ rằng vấn đề tra tấn sẽ càng ngày càng giảm thiểu đi và sẽ đỡ cho tất cả tù nhân chính trị khi bị bắt và thẩm vấn trong tù mà không có luật sư tham dự với họ.”
Được biết chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam và Vận Động Xóa Bỏ Tra Tấn ở Việt Nam tại quốc hội Mỹ hôm 16 là sinh hoạt diễn ra trước khi có cuộc kiểm điểm nhân quyền định kỳ và phổ quát UPR của Hà Nội ở tại Liên Hiệp Quốc.
Tin liên hệ:
Thân mẫu tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh điều trần tại Quốc hội Mỹ
Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: dan chu, nhân quyền, pháp luật, Đổ Thị Minh Hạnh | Leave a Comment »
Thà cứ gọi Anh là Ngụy !
Posted by Webmaster on January 16, 2014

Sent by freedomnotforfree » Thứ 3 Tháng 1 Ngày 14, Năm 2014 – 3:04 pm
(Lâm Mạnh Di – Facebook) – Có người hỏi tôi, tại sao tôi lại dửng dưng khi truyền thông của chính quyền tôn vinh Anh và các chiến sỹ hy sinh bảo vệ Hoàng Sa là anh hùng ?
Thật rất dễ để tìm thấy sự gượng gạo, dối trá và xảo quyệt trong sự tôn vinh đó. Dối trá ở chỗ, từ 40 năm nay các anh là “lính ngụy”, “lính đánh thuê”, “lính Sài Gòn”, rồi bỗng 1 ngày, khi cần đến các anh cho 1 ý đồ chính trị, các anh bỗng được trở thành anh hùng.
Xảo quyệt ở chỗ, họ muốn tách các anh ra khỏi tất cả những người lính thuộc các binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa… chỉ có 74 chiến sỹ hy sinh tại Hoàng Sa là “anh hùng”, còn tất cả vẫn là “ngụy”, “lính đánh thuê”. Vì thế nghĩa trang quân đội Biên Hòa sau gần 40 năm hòa bình, nơi mà các đồng đội nằm yên nghỉ, họ đã biến thành nơi hoang vi. Trong khi đó họ lại tu chỉnh thường xuyên các nghĩa trang của quân xâm lược TQ tại các tỉnh ven biên giới.
Họ đang đóng kịch, nhưng màn kịch rất dở. Họ vẫn để chị Huỳnh Thị Sinh, người vợ hiền đã ở vậy nuôi ba con khôn lớn sau khi anh hy sinh, với cuộc sống chật vật, muốn có 1 nơi để thờ phụng, nhang khói cho anh cũng không có.
Nếu họ thật lòng muốn tôn vinh anh, thật chẳng khó tý nào. Hãy trả tự do ngay cho anh Điếu Cày, người cũng như các anh, đã từng hô to: Hoàng Sa là của Việt Nam. Tại sao họ tôn vinh các anh là anh hùng, trong khi lại bắt các người yêu nước chống TQ, những khi TQ khiêu khích và bắn giết ngư dân ta tại Biển Đông ??
Thôi thì, chẳng thà họ cứ gọi anh là Ngụy, mà tôi thấy họ còn chút gì liêm sỉ. Để anh vẫn luôn là người lính miền Nam, là đồng đội của người lính VNCH, là những chiến sỹ dũng cảm, không những đã bảo vệ Hoàng Sa, mà còn bảo vệ cả miền Nam có được 20 năm sống trong Tự Do và Dân Chủ.
Xin trích 1 stt của BS Hồ Hải để chấm dứt bài viết này:
“Chưa nói đến chuyện hàng triệu người miền Nam phải đi học tập cải tạo và bỏ xác trên biển trong cuộc trốn chạy khỏi cộng sản. Chỉ nói đến việc đảng cầm quyền trả lại hết nhà cửa, tài sản của dân miền Nam đã cướp sau ngày 30/4/1975 cũng không thể làm nổi, thì đừng bao giờ nói đến chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc. Cho nên tốt nhất đừng đem linh hồn 74 tử sỹ vì Hoàng Sa ra làm món hàng của con buôn chính trị, như đã, đang và sẽ sử dụng cái xác trong lăng để đi buôn. Vì đó là trò lừa bịp tanh tưởi nhất của lũ lưu manh mà bất kỳ ai cũng nhìn ra cả..”
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt | Tagged: biển đông, Hoàng Sa | Leave a Comment »
Tương lai đảng và chế độ đã đặt trên bàn cân
Posted by Webmaster on January 16, 2014

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt | Tagged: biển đông, China, Hai Quan, Hoàng Sa | Leave a Comment »
Tưởng niệm 40 năm Hải chiến Hoàng Sa
Posted by Webmaster on January 14, 2014

Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt | Tagged: biển đông, Hoàng Sa | Leave a Comment »
Thương nhớ Hoàng Sa
Posted by Webmaster on January 13, 2014

Tưởng nhớ anh linh Hải Quân Thiếu tá Nguyễn Thành Trí, Hạm phó chiến hạm HQ 10 – QLVNCH. Hạm Phó Nguyễn Thành Trí đã cùng Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh theo chiến hạm trong trận hải chiến Hoàng Sa với quân thù Trung Cộng vào tháng 1/1974.
Đừng khóc nữa! Em ơi, đừng khóc nữa
Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Tưởng Niệm - Tri Ân | Tagged: biển đông, Hai Quan, Hạm Phó Nguyễn Thành Trí, Hoàng Sa, Trung Cộng | Leave a Comment »
Tiếc nhớ anh Trầm Kha Nguyễn Văn Đồng
Posted by Webmaster on January 13, 2014




Posted in Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông, Người Việt - Nước Việt, Tưởng Niệm - Tri Ân | Tagged: Biê, biển đông, Hai Quan, Hoàng Sa | Leave a Comment »
Thân Mẫu Của Đỗ Thị Minh Hạnh Sẽ Điều Trần Trước Quốc Hội Hoa Kỳ Ngày 16 tháng 1, 2014
Posted by Webmaster on January 12, 2014
Ngày 8 tháng 1, 2013 – Machsong.org
Thân Mẫu Của Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam Sẽ Điều Trần Trước Quốc Hội Hoa Kỳ
Tại buổi điều trần ở Quốc Hội ngày 16 tháng 1 tới đây về vấn đề tù nhân lương tâm trên thế giới, một nhân chứng người Việt sẽ nêu tình trạng tù nhân lương tâm ở Việt Nam và kêu gọi trả tự do cho họ.
Qua sự phối hợp với BPSOS, Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos đã mời bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của Cô Đỗ Thị Minh Hạnh, ra điều trần.
Các nhân chứng khác sẽ điều trần về tình trạng tù nhân lương tâm ở Nga, Trung Quốc, và Bahrain.
Tháng 10 năm 2010, Cô Đỗ Thị Minh Hạnh bị tuyên án 7 năm tù vì đã tranh đấu cho “dân oan” bị lấy đất và các công nhân bị bóc lột.
Theo Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, hồ sơ này được đề cử với Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos vì là giao điểm của 3 nỗ lực mà BPSOS đang tiến hành song song.
Nỗ lực thứ nhất là Chiến Dịch Đòi Tự Do Cho Tù Nhân Lương Tâm, do BPSOS phát động ngày 24 tháng 7 nhân dịp Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ.
“Mục đích tối hậu của chiến dịch gồm 3 giai đoạn này là đòi tự do cho mọi tù chính trị và tù lương tâm; giai đoạn đầu tập trung vào 16 hồ sơ, trong đó có Đỗ Thị Minh Hạnh,” Ts. Thắng giải thích.
Các hồ sơ khác bao gồm Ts. Cù Huy Hà Vũ, blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Hồ Thị Bích Khương, Nguyễn Tiến Trung, Lm. Nguyễn Văn Lý, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, blogger Tạ Phong Tần, doanh gia Trần Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, nhạc sĩ Việt Khang Võ Minh Trí, Nguyễn Văn Lía, Trần Hoài An, Mục Sư Dương Kim Khải, Lê Văn Sơn, và Nguyễn Phương Uyên.
Nỗ lực thứ hai là Chiến Dịch Xoá Bỏ Tra Tấn Ở Việt Nam đã được chuẩn bị từ hơn 3 năm nay và sẽ được chính thức phát động cùng ngày với cuộc điều trần của Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos. Theo thông tin từ gia đình, Đỗ Thị Minh Hạnh đã từng bị đánh đập và tra tấn trong nhà tù.
Về nỗ lực thứ ba, Ts. Thắng giải thích: “Chúng tôi đang vận động cài điều kiện nhân quyền, trong đó có quyền lao động, vào cuộc thương thảo Xuyên Thái Bình Dương, tức TPP, giữa Hoa Kỳ và Việt Nam; Đỗ Thị Minh Hạnh đi tù vì bênh vực quyền và lợi ích của người lao động.”
Ngày hôm nay, tại buổi họp về vấn đề TPP với phái đoàn người Việt do BPSOS phối hợp, Dân Biểu Chris Van Hollen (Dân Chủ, Maryland) tỏ ra sốt sắng trước đề nghị là đỡ đầu cho Đỗ Thị Minh Hạnh trong Chiến Dịch Đòi Tự Do Cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam.
Buổi điều trần ngày 16 tháng 1, bắt đầu lúc 10 giờ sáng, sẽ là buổi điều trần đầu tiên trong năm 2014 của Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos và sẽ diễn ra tại phòng HVC 210 trong Congress Visitors Center (tầng dưới của Điện Capitol). Đây là nơi đã diễn ra Ngày Vận Động Cho Việt Nam năm 2013.
Chúng tôi kêu gọi đồng hương trong vùng và các cơ sở truyền thông Việt ngữ tham gia buổi điều trần này để yểm trợ công cuộc tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam.
Cần thêm thông tin, xin liên lạc: bpsos@bpsos.org hoặc gọi cô Kim Cúc: 703-538-2190.
Dưới đây là thông cáo báo chí của Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos.
Tom Lantos Human Rights Commission
Defending Freedoms Hearing
Highlighting the Plight of Prisoners of Conscience around the World
Thursday, January 16, 2014
10:00 AM – 12:00 PM – Room HVC 210
In December 2012 the Tom Lantos Human Rights Commission (TLHRC), in conjunction with the U.S. Commission on International Religious Freedom (USCIRF) and Amnesty International USA (AIUSA), launched the Defending Freedoms Project (DFP) with the aim of supporting human rights and religious freedom throughout the world with a particular focus on prisoners of conscience.
At the height of the Cold War it was not uncommon for prominent political prisoners to be household names. Robust advocacy campaigns took root in the West—perhaps best represented by the American Jewish community’s efforts on behalf of Soviet Jewry. While political prisoners and prisoners of conscience are still very much a reality today, too often their stories are not known, their cases are rarely highlighted in high-level diplomatic talks, and, ultimately, little progress is made in pursuit of their release and eventual freedom.
The Lantos Commission’s first hearing of 2014 will address the plight of prisoners of conscience, who are currently unjustly detained by repressive governments around the world. By highlighting several such cases, the hearing will explore strategies for securing the release of prisoners of conscience, the need to shine a bright light on some lesser known cases, the historical precedent for effective advocacy campaigns and the importance of human rights as a central factor in U.S. foreign policy.
The hearing will feature several witnesses including Mr. Natan Sharansky, the noted human rights activist who spent nine years in the Soviet Gulag for his political activities and later authored The Case for Democracy: The Power of Freedom to Overcome Tyranny and Terror.
Witnesses who will testify:
Panel I:
Dr. Robby George, Chair, U.S. Commission on International Religious Freedom
Mr. Frank Jannuzi, Deputy Executive Director, Advocacy and Policy Department, Head of Washington DC Office
Panel II:
Mr. Natan Sharansky, Chairman of the Executive, The Jewish Agency for Israel
Ms. Geng He, Wife of Imprisoned Chinese Human Rights Lawyer Gao Zhisheng, Accompanied by Mr. Jared Genser, Founder, Freedom Now and Pro Bono Counsel for Gao Zhisheng
Mr. Josh Colangelo-Bryan, Pro Bono Attorney on behalf of Imprisoned Bahraini Human Rights Activist Nabeel Rajab
Mrs. Tran Thi Ngoc Minh, Mother of Imprisoned Vietnamese Labor Activist Do Thi Minh Hanh
Mr. Gal Beckerman, author, When They Come for Us We’ll be Gone; The Epic Struggle to Save Soviet Jewry
*Witness list subject to change
For any questions, please contact the Tom Lantos Human Rights Commission at 202-225-3599 or tlhrc@mail.house.gov.
James P. McGovern, Co-Chair Frank R. Wolf Co-Chair,
Theo BPSOS
Machsong.org
Posted in Người Việt - Nước Việt | Tagged: dan chu, nhân quyền, pháp luật, Đổ Thị Minh Hạnh | Leave a Comment »
Những chuyện trong ngày – Chúa Nhật 12-1-2014
Posted by Webmaster on January 12, 2014
Đến lượt Nhật Bản lên án Trung Quốc cấm tàu cá nước ngoài vào Biển Đông
Người Việt trong và ngoài nước hưởng ứng Quỹ Nhịp Cầu Hoàng Sa
Ý kiến: Tham nhũng vì người hay thể chế?
Nhựt Thắng, Trung Cộng Thua
Posted in Những Chuyện Trong Ngày | Tagged: chuyện trong ngày | Leave a Comment »
Những chuyện trong ngày – Thứ bảy 11-1-2014
Posted by Webmaster on January 11, 2014
![]()
Các nhóm nhân quyền ở Việt Nam vận động sứ quán phương Tây
Nhật Bản tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc tại Châu Phi
Vụ Dương Chí Dũng : Khởi tố vụ án làm lộ bí mật Nhà nước
Dương Chí Dũng khai Thứ trưởng Công an đã mật báo để ông bỏ trốn
Cầu Phú Mỹ thất bại, thành cục nợ
Posted in Những Chuyện Trong Ngày | Leave a Comment »

